Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

20 - Viếng mộ anh Trỗi - (Ban Liên Lạc) - SRTKL2: 86-88

Viếng mộ anh Trỗi

BAN LIÊN LẠC

Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004. Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên
viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004.

Mọi năm, cứ đến ngày giỗ anh, chị Phan Thị Quyên đều mời đại diện Ban Liên lạc phía Nam về dự. Riêng năm nay tròn 40 năm ngày anh mất, chúng tôi lên lịch tổ chức đi viếng mộ anh. Thật là vui vì dịp này, Ban Liên lạc khóa 3 mời được hai thầy Nguyễn Phú và Bạch Quốc Bính từ Hà Nội vào chơi. Và cách đây gần tháng, chúng tôi tìm được thầy Nguyễn Hữu Tiến (dạy Địa) sau 34 năm mất liên lạc. Thầy vui vẻ nhận lời cùng đi với cô Phạm Thị Thục, thầy Phạm Đình Trọng và thầy Mai Duy Vọng.

Sáng 15 tháng 10, nắng đẹp, trời trong xanh. Những chiếc xe con của học sinh trường Trỗi nhận nhiệm vụ đón thầy, cô đã quay đầu ở quán cóc ngay Ngã ba Cát Lái. Những cái bắt tay chân thành, những vòng tay ôm chặt nồng ấm của kẻ Nam, người Bắc sau bao năm xa cách. Thầy, cô và các bạn cảm động hơn khi thấy Nguyễn Chỉnh Huấn (khóa 5) với tấm lưng thẳng đơ đang dùng hai tay điều khiển “chiếc xe ba bánh tự chế” vượt cầu Sài Gòn rẽ vào. Bạn Lê Tất Thắng (khóa 4), quận ủy viên quận 2, được phân công “dẫn đoàn” về nghĩa trang Văn Giáp. Hồ Bá Đạt thay mặt thầy trò nhà trường đến đón chị Quyên và Phương (cháu ruột của anh). Lại những cuộc hội ngộ cảm động của thầy, trò, đồng nghiệp trước mộ anh. Cũng sáng nay, những cháu đội viên thiếu niên với khăn quàng đỏ cùng những đoàn viên, thanh niên lấp lánh huy hiệu Đoàn trên ngực mang những lẵng hoa thắm sắc màu đến viếng anh. Những thợ điện trẻ của Công ty Điện lực Tân Thuận, những người đang kế tục truyền thống của anh, vui mừng trước sự có mặt của chị Quyên và xin phép được chụp ảnh kỉ niệm.

Đúng 10 giờ, thầy trò trường ta tập trung đông đủ. Điểm mặt các khóa thấy anh Lê Võ Tiến Hưng thay mặt cho khóa 1, khóa 2 có Nguyễn Hòa Bình từ Hà Nội mới vào, khóa 3 có Nguyễn Tất Tuấn, khóa 4 ngoài Thắng còn có Dương Minh; khóa 5 có thêm Phan Nam, Tấn Mỹ, Công Trường; khóa 6 có hai bạn Duy Thiệp, Anh Minh đang công tác tại Công ty Petech; khóa 7 có Lê Hòa Bình, Đậu Thanh Châu, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Hữu Hà; khóa 8 cùng Đạt còn có Dương Đức Hải. Trước mộ anh, Trần Kiến Quốc xúc động, thay mặt Ban Liên lạc, phát biểu: “Kính thưa các thầy, cô cùng chị Phan Thị Quyên và các anh chị, các bạn! Cách đây đúng 40 năm, anh Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng hy sinh trước họng súng thù. Cũng gần 40 năm qua, trường Thiếu sinh quân của thầy trò chúng ta là nhà trường đầu tiên được mang tên anh. Phát huy truyền thống ông cha, noi gương anh, được thầy, cô giáo hết lòng dạy dỗ, giáo dục, chúng em đã trở thành những sĩ quan, kĩ sư, bác sĩ, những người có ích cho xã hội. Hôm nay, cùng thầy, cô và chị Quyên, chúng em tập trung về đây tưởng nhớ đến anh... Một phút mặc niệm bắt đầu!”. Sau đó chị Quyên cùng thầy, cô rồi đại diện các khóa lần lượt lên thắp hương cho anh. Khói hương nghi ngút bên những lẵng hoa tươi tỏa ngát hương trên mộ anh. Chúng tôi còn chụp nhiều ảnh lưu niệm. Trước khi ra về, chị Quyên có lời cảm ơn và mời thầy trò về qua thăm nhà. Chúng tôi cũng nhận lời tới dự đám giỗ của anh vào tuần tới.

Thăm cơ ngơi của chị xong, chúng tôi kéo nhau ra Quán Gió, nằm ngay bên bờ sông Sài Gòn, ăn bữa cơm thân mật. Thủy triều lên đang đẩy những cánh bèo ngược dòng. Gió mát lồng lộng. Những chuyến tàu đang hối hả rẽ sóng. Bên những món ăn quê hương, thầy trò cùng nâng ly nhắc lại chuyện những ngày gian khó cách nay đã 40 năm. Chúng ta đã có những kỉ niệm thật đẹp!

Sài Gòn, ngày giỗ anh 15-10-2004
B.L.L



21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - (Nguyễn Thế Lâm) - SRTKL2: 89-90

Liệt sĩ Lâm Duy
 
Những mất mát lớn
trong tổ ấm nhỏ1

 
Thiếu tướng NGUYỄN THẾ LÂM *

Đời tôi - đời anh “Bộ đội Cụ Hồ” - liên tục chiến binh trong suốt ba chục năm chiến tranh (1945-1975). Kết thúc đời sinh viên, tôi đi hoạt động cách mạng và tự nguyện làm anh chiến sĩ Giải phóng quân. Từ ngày 23 tháng 10 năm 1945 cho đến ngày trở thành cựu chiến binh, tôi liên tục thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên. Chính trong quá trình ba chục năm chiến đấu trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tôi đã được Đảng và nhân dân giúp đỡ để xây dựng một gia đình hạnh phúc.

Người bạn đời - Thể Dư - đến với tôi tại Bồng Sơn (Bình Định). Hai cháu lần lượt ra đời trong chiến tranh chống Pháp là Lâm Duy và Dư Lan. Vì nhiệm vụ quân sự Đảng giao, tôi rời Liên khu V (miền Nam Trung bộ) ra Bắc. Đảng cũng tạo điều kiện để vợ con tôi được ra công tác, học tập ở miền Bắc. Nhưng hoàn cảnh chiến tranh đã tác động đến đời tư của gia đình tôi như mọi gia đình khác. Trên đường ra Bắc, cháu gái Dư Lan bị sốt rét ác tính đã qua đời. Còn cháu trai Lâm Duy phải gửi tạm vào Huế cho bà ngoại chăm sóc.

Sau ngày tập kết ra Bắc, năm 1965, Lâm Duy được đi học tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi của Tổng cục Chính trị. Cháu hăng hái học tập, rèn luyện và lao động ngày trường Nguyễn Văn Trỗi đóng ở Đại Từ, Thái Nguyên (Việt Bắc).

Lần đó, tổ lao động của Lâm Duy được giao nhiệm vụ vào rừng sâu lấy gỗ về làm doanh trại. Phải đốn gỗ già theo đúng kích thước để làm khung sườn cho nhà ăn của trại. Ba cậu thiếu niên hăng hái nhiệt tình lao động nhưng chưa có kinh nghiệm đốn gỗ trong rừng già. Khi chặt cây gỗ sắp đổ đã không biết chạy tránh hướng nào để đảm bảo an toàn, Lâm Duy chạy đúng vào hướng cây đổ, bị thúc vào đầu, tử thương ngay.

Đưa cháu về Viện quân y 108, Tổng cục Chính trị nhận khuyết điểm trong việc quản lí học sinh và báo tin cho gia đình. Nhưng các anh cũng khéo báo từng bước để khỏi gây đột ngột cho mẹ cháu và bà ngoại. Khi vợ chồng tôi vào đến Viện thì đã xong mọi thủ tục. Cơ quan Tổng cục tổ chức tang lễ, đưa cháu về khu vực quân đội ở Nghĩa trang Văn Điển. Đồng chí phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chính thức thông báo cho gia đình: Cháu Lâm Duy được đề nghị công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân.

N.T.L



1. - Trích hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam”
*  - Phụ huynh liệt sĩ Nguyễn Lâm Duy (khóa 4)

22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ, Anh Thy K5, SRTKL2: 91-95

Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc
 
NGUYỄN VĂN NGỌC
Người liệt sĩ đầu tiên

 
Ghi theo lời kể của thiếu tá Đỗ Tấn Mỹ (khóa 5)
ANH THY thực hiện

Sau 35 năm gặp lại, anh say sưa kể về những ngày sống và chiến đấu thời đánh Mỹ. Hết chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, rồi mặt trận C, B2… Nơi đâu cũng gắn với những kỷ niệm về đồng chí, đồng đội. Chiến tranh là một đề tài khó quên!

… Cha mẹ chúng tôi là lớp cán bộ thế hệ thứ nhất và thứ hai của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Để chuẩn bị cho lớp người kế cận, hè 1965, chúng tôi được tuyển chọn vào trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Do chiến tranh ngày càng ác liệt, đầu năm 1967, nhà trường được lệnh rời Đại Từ (Thái Nguyên), sơ tán sang thành phố Quế Lâm (Trung Quốc). Vốn là học sinh miền Nam, khi về trường đã lớn tuổi, Tấn Mỹ thường đứng ra bảo vệ bọn nhóc chúng tôi mỗi khi nghịch ngợm đánh nhau. Còn Văn Ngọc “đúp” từ lớp trên xuống học với khóa 5. Mỹ và Ngọc ở cùng một trung đội thuộc đại đội 71, do hạ sĩ Thụy phụ trách. Tuy điều kiện sống và học tập rất tốt, nhưng cánh lớn tuổi cứ nằng nặc xin về nước tham gia chiến đấu với suy nghĩ: “Học chưa giỏi ở nhà trường nhưng sẽ chiến đấu giỏi nơi chiến trường”. Hè 1967, Mỹ, Ngọc, Võ Dũng, Tô Văn Hoành và một số bạn lên tầu về nước, cùng chuyến với khóa 2 vừa tốt nghiệp.

Về đến Hà Nội, các bạn lại đặt vấn đề với các chú ở Tổng cục Chính trị. Sau khi cân nhắc, Võ Dũng được xếp về trường Quân chính quân khu Tả Ngạn, còn Mỹ, Ngọc cùng Hoành về đại đội 6, tiểu đoàn pháo cao xạ 57mm thuộc trung đoàn 233, sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội. Từ ngày đó, ba anh em “Lưu-Quan-Trương” thề “sống chết có nhau”! Khi thì đơn vị đóng ở bãi Phúc Tân bảo vệ cầu Long Biên, lúc lại về trận địa bên hồ Văn Chương, sau ga Hàng Cỏ; có lúc trận địa chuyển sang Gia Lâm, bảo vệ kho xăng Đức Giang. Những ngày không trực chiến, ba đứa hay mò về Ba Đình “đánh moóc-xơ” báo anh Trình (con trai bác Văn Tiến Dũng), đang trực phòng không trên nóc Nhà Quốc hội xuống chơi. Ba đứa đã chứng kiến những ngày gian khổ nhất của trận địa phòng không Hà Nội và không thể quên hình ảnh cầu Long Biên bị trúng bom, gẫy nhịp hay kho xăng Đức Giang ngùn ngụt cháy. Họ đã cùng Hà Nội chiến đấu đánh trả những đợt đánh phá của giặc Mỹ.

Ngày 31 tháng 3 năm 1968, sau Mậu Thân và những thắng lợi ở cả hai miền, giặc Mỹ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế từ Vĩ tuyến 20 trở vào. Vùng đất này hẹp và kéo dài nên có tên là vùng “cán xoong”. Mỗi khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom khu vực từ Thanh Hoá đổ ra là chúng lại tập trung bom đạn đánh vào cùng cán xoong Nghệ An- Hà Tĩnh-Quảng Bình-Vĩnh Linh rất ác liệt. Một số đại đội của sư đoàn 361 được lệnh bổ sung cho sư đoàn 367 bảo vệ miền Trung. Lẽ thường tình, các chú sẵn sàng cho ba đứa ở lại Hà Nội, thậm chí còn cho đi học; nhưng như vậy sẽ không còn cơ hội đánh giặc. Ba anh em lại đề nghị Tổng cục cho đi đợt này. Từ cầu Bùng (giáp ranh giữa Nghệ An và Thanh Hóa) đổ vào, chiến tranh vẫn còn. Đơn vị nhận nhiệm vụ bảo vệ thành phố Vinh. Khi thì trận địa pháo bố trí ở xã Hưng Dũng bảo vệ Nhà máy nước, lúc lại về Hưng Thuỷ bảo vệ Nhà máy điện và phà Bến Thủy…

Trong khẩu đội, Mỹ là pháo thủ số 1, phụ trách “hướng” và ấn cò; Ngọc là pháo thủ “tầm” số 2 cùng các pháo thủ “cự ly”, “mục tiêu”, tiếp đạn và khẩu đội trưởng. Pháo 57mm mỗi gắp đạn có đến 4 viên nhưng có thể bắn liên tục và hạ mục tiêu ở độ cao đến 6000m. Tuy mỗi người một nhiệm vụ nhưng với khẩu hiệu “Rèn luyện để trở thành pháo thủ toàn năng”, mọi chiến sĩ trong khẩu đội đều có thể thay thế vị trí đồng đội mình. Giữa thời tiết khắc nghiệt của đất xứ Nghệ, nắng rát đến cháy da và gió Lào thì khô không khốc, cứ chiều chiều, anh em lại thay nhau chạy ào sang nhà dân, gần trận địa tắm nhờ. Một lần, nghe kẻng báo động, máy bay Mỹ ập đến, anh em từ nhà dân vội chạy về. Vì đã nhảy vào vị trí của pháo thủ số 2 nên một đồng đội khác thế vào ghế của Mỹ. Ác nghiệt thay, phát đạn 23 ly từ trên máy bay đã bắn xuyên thủng ghế sắt, xuyên tiếp qua lưng người bạn đang ngồi vị trí số 1. Anh bạn đã hy sinh. Ở chiến trường, giữa cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc! Người này hy sinh lại có đồng đội khác về bổ sung.

Ở miền Trung, có một thông lệ, nếu bị máy bay tấn công thì chỉ được phép đánh trả từ sau 4 giờ chiều để tránh lộ mục tiêu (vì giặc Mỹ có thể kiểm soát cả từ trên không và từ ngoài khơi xa). Nhưng sáng 10 tháng 10 năm 1968, từ 8 giờ, hàng đàn máy bay đã tấn công vào phà Bến Thuỷ, hòng cắt đứt đường tiếp vận của ta vào Nam. Nhiều tốp F4H lần lượt lao xuống cắt bom vào trận địa. Bom đạn nổ rầm trời, tai điếc đặc, khói lửa mù mịt, trận địa khét lẹt mùi thuốc súng… Dân xã Hưng Thuỷ nhìn máy bay bổ nhào xuống trận địa đã khóc thương: ác liệt thế này chắc các chú bộ đội chết hết! Đại đội thương vong nhiều nhưng vẫn kiên quyết đánh trả. Không một ai rời bỏ vị trí, các ụ pháo vẫn xoay nòng hướng trực diện vào mục tiêu. Khẩu đội trưởng phất cờ, hô to: “Còn sống còn dựng màn đạn. Bắn!”. Cả đại đội dựng lưới lửa, hai chiếc máy bay vừa bổ nhào đã trúng đạn, bốc cháy, lao ra biển.

Những chiếc còn lại điên cuồng vòng lại. Lần này, chúng cắt bom chụp xuống trận địa. Đó là loại bom phát quang, chỉ nổ khi cách mặt đất 4-5m; cây cối trúng mảnh bom đổ rạp như ngả rạ. Bỗng chớp lòe! Ầm! Một quả bom nổ ngay sát khẩu đội. Mảnh bom phạt ngang thân Ngọc chỉ để lại nửa thân dưới, ruột gan lòng thòng, máu me bê bết… Tấn Mỹ lao sang ôm lấy xác bạn, gào lên:

- Ngọc, mày chết thật rồi sao?

Thế là cái thằng Ngọc, học cùng trường khi ở rừng Đại Từ, bị ngã nước, được bạn bè gán thêm cái biệt danh “ghẻ”; cái thằng Ngọc “tốt”, trắng trẻo đẹp trai, ăn nói dẻo mồm làm xiêu lòng bao cô gái dọc đường hành quân; cái thằng bạn không ỷ mình là “con ông cháu cha”, vẫn nằng nặc xin đi chiến đấu ngày nào, đã mãi đi xa! Ba anh em đã mất một, biết nói sao đây với ba mẹ Ngọc!? Vừa khóc vừa ôm xác bạn ra hố bom cũ còn đọng nước mưa tạt lên rửa sạch vết máu dính đất cát, Mỹ run lên: “Tao sẽ trả thù cho mày, Ngọc ơi!”. Ngay chiều hôm ấy, đơn vị tổ chức chôn cất các liệt sĩ tại nghĩa trang xã Hưng Dũng. Hận thù trào dâng! Ngày sau, đơn vị tiếp tục hành quân vào Hà Tĩnh và đóng quân tại quê hương cụ Nguyễn Du.

Ba tuần sau, đúng ngày 1 tháng 11 năm 1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Ai cũng tiếc thương cho Ngọc. Số phận nó khổ quá! Giá mà chờ thêm ít ngày nữa… Nhưng ai mà nói trước được điều gì, vì đó là chiến tranh! Sau ngày ngừng bắn, hai đứa qua nghĩa trang, gói một nắm đất lấy từ mộ Ngọc cho vào ba-lô lên tầu ra Bắc và tìm đến gia đình Ngọc ở khu tập thể Nam Đồng. Cô Trần Thị Ngọ, mẹ Ngọc, đã ngất đi khi nhận được nắm đất. Chú Nguyễn Chí Điềm, một người lính vào sinh ra tử, nguyên Tư lệnh Bộ đội Đặc công ôm lấy Hoành và Mỹ, nói trong nước mắt: “Ráng chiến đấu trả thù cho Ngọc, các con ạ!”

Cuối 1968, với những gì đã hứa với Ngọc, Mỹ và Hoành lại lên đường vào chiến trường đánh giặc cho đến ngày toàn thắng. Tấn Mỹ vinh dự trở thành lính của chú Điềm - trinh sát đặc công Z27, sư đoàn 5 và hai lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”… Nhớ về bạn mình, anh lẩm bẩm: “Quên làm sao được cái ngày nó hy sinh; đó chính là Ngày giải phóng Thủ đô”. Còn chúng tôi, tuy đã bước qua cái tuổi ngũ tuần nhưng không thể nào quên được những đứa bạn thuở thiếu thời. Chúng tôi luôn tự hào về thầy, cô và mái trường thân yêu, nơi đã đào tạo nên những học sinh như Nguyễn Văn Ngọc - dám hy sinh tuổi xuân của mình vì Độc lập, Tự do của Tổ quốc!

Ngày tìm thấy bạn, 2-9-2002.
A.T

23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101

Những bức thư cuối cùng
của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc


TÔ VĂN HOÀNH * (khóa 5) sưu tầm


Xin phép được dẫn dắt bạn đọc theo trình tự của những lá thư:
Quy Nhơn, ngày 28 tháng 3 năm 2003

K. thân,

Vừa từ Hà Nội về, mình gửi thư cho bạn ngay. Ra Hà Nội được hai ngày là Hoành lại thăm bác Ngọ, mẹ Ngọc. Gặp mình, bác khóc nhiều. Sau đó bác kể, đã nhận được tiền của thầy trò trong Nam đóng góp gửi ra nhân dịp Tết Quý Mùi. Bác nhờ mình chuyển lời thăm hỏi và lời cảm ơn chân thành đến thầy cô và các bạn. Bác đã đọc cuốn sách bạn gửi tặng. Theo yêu cầu của Hoành, bác đã lục tìm được ba lá thư cuối và tấm ảnh Ngọc tặng mình, (sau ngày Ngọc hy sinh, mình đã trao lại cho gia đình). Phía sau ảnh còn lưu bút tích, ghi ngày hy sinh của Ngọc.

Những ngày tháng cùng chiến đấu, nhất là những ngày ở thành phố Vinh, ba đứa - Ngọc, Tấn Mỹ và mình - đã không làm hổ thẹn tên tuổi trường Nguyễn Văn Trỗi; không hổ thẹn với sự giáo dục của thầy cô. Ba đứa mình đã chiến đấu thật anh dũng, không sợ hy sinh. Cho đến giờ, mình cũng không thể hiểu được vì sao, tụi mình lại dũng cảm đến thế!? Máy bay Mỹ điên cuồng tấn công, còn pháo phòng không của ta thi đánh trả rất quyết liệt. Nhất là ngày 6 tháng 6 năm 1968, bom đạn Mỹ gây thương vong gần hết đơn vi. Cả trận địa có sáu khẩu đội thì chỉ còn lại mỗi khẩu đội của mình. Tưởng chừng cả ba thằng đều chết, nhưng thật may, không đứa nào dính đạn.

Định viết về những ngày chiến đấu ác liệt ấy nhưng qua những lá thư của Ngọc, chắc các bạn sẽ hiểu phần nào...

Thân ái!

Tô Văn Hoành,

17 Trần Độc, phường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn.

* * *

VÀ NHỮNG BỨC THƯ GỬI VỀ TỪ MẶT TRẬN

Mẹ kính yêu!

Chúng con vừa nhận được lệnh trên. Xe pháo đã chuẩn bị xong xuôi và ngay ngày hôm nay sẽ lên đường. Có lẽ khi bức thư này tới tay mẹ thì con đang trên đường hành quân vào khu Bốn chiến đấu và có khả năng sẽ vào sâu hơn. Vì rất gấp nên con không gặp mẹ được, chỉ còn vài tiếng nữa thôi, vậy con gửi lá thư này tới mẹ để tạm biệt, cầu mong mẹ khỏe. Có lẽ phải đến khi đất nước thống nhất, hòa bình thì mẹ con ta mới được gặp nhau.

Con xin hứa với mẹ sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao và tu dưỡng tốt để ba mẹ yên tâm. Ba mẹ ở lại khỏe là con mừng. Khi vào đến chiến trường con sẽ báo tin về.

Con của mẹ – Ngọc

* * *

Vinh – ngày 12 tháng 6 năm 1968

Mẹ kính yêu!

Con viết cho mẹ lá thư này sau một ngày chiến đấu ác liệt, đánh trả máy bay Mỹ. Mẹ vẫn khỏe chứ ạ? Con thì vẫn khỏe, không ốm đau gì, chỉ có đen và gầy đi chút ít vì phải chiến đấu và công tác khá vất vả.

Mẹ ạ, đời lính pháo bọn con kể cũng vui! Mới ngày nào còn nằm giữa thủ đô, thì nay lại đang ở trên đất lửa Bến Thuỷ, thành phố Vinh. Rời Hà Nội ngày 23 tháng 5, sau ba hôm, bọn con đã ở đất Đô Lương, cách nhà bà ngoại có bảy cây số thôi. Bọn con hành quân cả ngày lẫn đêm, nhiều đứa không ngủ được vì xa Hà Nội, vì buồn. Riêng con thì cứ lăn ra sàn xe mà ngủ, mặc cho xích xe cứ nghiến đường ầm ầm, vì vậy cũng không mệt lắm.

Đến ngày 30 tháng 5, bọn con đến đất Nam Đàn và ở lại đây bảy ngày. Mẹ thử tưởng tượng xem bọn con đã làm gì ở đây nhé! Bốn ngày đầu máy bay Mỹ đảo liên tục trên đầu nhưng không phát hiện được trận địa chúng con.

Đến chiều ngày 6 tháng 6, bọn chúng kéo đến đủ các loại máy bay phản lực tối tân: A-4, A-6, F-4H... Trận địa chúng con nằm trên một quả đồi mà chu vi khoảng 300m, chỉ bằng một phần ba quả đồi Rạng quê ta. Suốt từ 12 giờ trưa cho tới 6 giờ chiều, phản lực Mỹ bu đến đen kịt, đánh thẳng bốn đợt vào trận địa. Mỗi đợt kéo dài hơn nửa tiếng. Mẹ khó có thể hình dung nổi cảnh chiến trường lúc này, hàng chục máy bay gầm rít xé không khí, bắn rốc-két và đạn 20 ly xuống trận địa. Từ khi là lính pháo đến giờ, chưa bao giờ con phải chịu một trận ác liệt như thế. Ngay cả các đồng chí cán bộ cũng phải thốt lên: kể từ khi chiến tranh phá hoại xảy ra, đơn vị đã đánh hàng trăm trận nhưng chưa có trận nào ác liệt như thế. Bom tấn, bom tạ, bom bi nổ liên tục, phải đến vài chục tấn bom đạn đã rải xuống đây; đất quanh trận địa bị bom đạn cày xới nát nhừ, đỏ quạch. Tiếng đạn bom đinh tai, nhức óc, khói lửa trùm kín trận địa; mắt đứa nào cũng cay xè. Nhưng chúng con đã đánh trả quyết liệt, không một ai rời bỏ vị trí chiến đấu của mình. Con đã đứng vững vàng trên vị trí quan sát kịp thời, bắt được tọa độ mục tiêu, báo cáo cho đại đội để đánh trả. Mà mẹ có biết không, thật là lạ vì từ nhỏ đến giờ, con chỉ là một cậu bé học sinh lười học ham chơi, thế mà giờ đây con đã rắn rỏi, đứng trên vị trí của một người lính. Con cảm thấy rất tự hào vì đã thấy mình lớn lên nhiều trong khói lửa chiến tranh. Sự thật là thế đó, mẹ ạ, những người lính chúng con chiến đấu rất dũng cảm và luôn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Chiến trường ác liệt là thế mà nòng pháo của chúng con vẫn vươn cao, nhằm thẳng vào lũ cướp trời mà bắn, bắn rất mãnh liệt. Chính vì bắn mãnh liệt như vậy mà bom đạn không làm gì nổi chúng con. Bom tấn, bom bi, rốc-két của chúng đều thả trượt hết ra ngoài. Khẩu đội bạn không xa cũng hứng bom đạn không kém gì bên con; có quả bom nổ sát hầm, làm pháo tung lên; có đồng chí hy sinh, có đồng chí bị thương cụt cả tay nhưng kiên quyết không rời trận địa. Có những quả nổ cách chúng con chỉ 10, 15m, lửa khói trùm kín trận địa, đất đá bay rào rào, cả những mảnh bom bay chiu chíu ngang đầu. Có những đứa bị mảnh bom hay bi sắt văng vào mũ sắt lại nẩy ra, không việc gì hoặc chỉ xây sát tí chút. Ba đứa con không bị sao, sau này cứ đùa: “Bọn mình đã được tôi luyện trong lò bát quái nên bom đạn địch không làm gì nổi”. Hôm đó, bọn con đã bắn gần hết cơ số đạn mang theo.

Vài ngày sau, mổi lần ngủ say lại như nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay và tiếng nổ ầm ầm của bom đạn. Con chỉ hơi bị tức ngực, do sức ép của bom và ù tai mất hai ngày, do tiếng nổ. Thật là kinh khủng! Hôm sau chúng con hành quân về Bến Thuỷ. Thành phố Vinh giờ tan hoang lắm. Suốt ngày không lúc nào ngớt tiếng máy bay; chúng đánh không có quy luật nào cả. Còn chúng con, ban ngày thì chiến đấu căng thẳng, đêm thì ngủ hầm.. Cái nắng và cái gió ở đây thật ghê người. Nóng lắm, mẹ ạ. Ngồi trực chiến mà mồ hôi chảy ròng ròng. Nắng như muốn làm khô héo hết cây cỏ và con người ở đây. Nhưng chúng con vẫn sống, vẫn chiến đấu và vẫn yêu đời.

Sơ sơ vài dòng cho mẹ biết tin con của mẹ vẫn sống.

Nguyễn Văn Ngọc,

Hòm thư của con: HT 36266-OK.

* * *

 

Vinh – ngày 13 tháng 8 năm 1968

Mẹ kính yêu!

Đã gần ba tháng nay con không được thư mẹ. Con đã viết cho mẹ hai lá rồi, không biết mẹ có nhận được chưa? Sáng nay mưa lớn, con ngồi hầm tranh thủ biên thư cho mẹ, không mẹ lại mong.

Mẹ vẫn khỏe chứ ạ? Còn con thì vẫn khỏe và không sao cả. Bọn con vẫn bảo vệ Bến Thuỷ và Thành Vinh. Mẹ ạ, cuộc chiến đấu ở trong này căng thẳng lắm. Quân khu Bốn là tuyến lửa mà! Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra từng phút, từng giờ, không ngày nào, đêm nào là không có tiếng bom đạn của giặc Mỹ reo rắc xuống mảnh đất này. Bọn con chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Không lúc nào vắng bóng máy bay Mỹ; có trận chúng bay vào “như ruồi” đến hai, ba chục chiếc, đánh vào mục tiêu chúng con bảo vệ. Nhiều đồng đội của chúng con đã ngã xuống trên mảnh đất Xô-viết rực lửa cách mạng này. Có những người bạn vừa mới gặp, vừa mới tán dóc với nhau nhưng chỉ lát sau, trong đợt đánh trả máy bay Mỹ đã ngã xuống. Thật là đau xót và căm giận! Mà tuổi đời của họ còn trẻ lắm, mới mười tám, đôi mươi. Còn con thì không sao, mẹ đừng lo. Kể từ ngày vào đây, bọn con đã đánh đến 60 trận rồi, có những ngày đánh đến bốn, năm đợt. Mà mẹ thủ tưởng tượng xem, bao nhiêu bom đạn đã nhằm xuống trận địa bọn con; còn cánh pháo thủ trẻ bọn con thì đánh thật là hăng nên bom đạn không làm sao giết nổi. À, mẹ có biết không, con đã trở thành pháo thủ từ lâu rồi nhé. Mỗi trận địa chúng con chỉ triển khai trong vài ba ngày, đánh vài trận, xong phải cơ động đi trận địa khác. Di chuyển luôn, vất vả lắm, nhưng chính trong bom đạn mà con đã lớn lên rất nhiều. Có những lần, mảnh bom hay mảnh rốc-két găm vào ghế, mảnh đạn văng vào hầm nhưng bọn con vẫn an toàn. Có những lần bom bi, rốc-két nổ chỉ cách hai, ba mét, nhờ công sự tốt mà không ai dính đạn. Khẩu đội con chiến đấu liên tục mà chưa ai bị thương. Bọn con vẫn thực hiện đúng khẩu hiệu của Nguyễn Viết Xuân: “Hãy nhằm thẳng quân thù! Bắn!”. Cánh pháo thủ trẻ bọn con trong bom đạn vẫn bình tĩnh và dũng cảm lắm, mẹ ạ!

Sơ sơ vài dòng, kẻo mẹ lại mong.

Mẹ gửi cho con một ít tiền mẹ nhé, nhưng không gửi được thì thôi. Nếu bưu điện nhận chuyển bưu phẩm thì mẹ xem có còn bộ quần áo nào của anh Chúng thì gửi cho con. Ở đây cơ động nhiều, quần áo rách hết cả, mẹ ạ.

Con nhớ mẹ nhiều. Hôn mẹ.

T.V.H

 


*  - Bạn chiến đấu của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc. Hiện sinh sống tại Quy Nhơn.


24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - (Minh Đức) - SRTKL2: 102-106

Đọc nhật ký chiến trường
của anh hùng liệt sĩ
HUỲNH KIM TRUNG


MINH ĐỨC thực hiện


Đúng 29 năm, sau ngày hy sinh của Huỳnh Kim Trung, chúng tôi - những bạn học cách đây 36 năm, tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - đã đến thăm gia đình và thắp hương cho bạn. Như những đứa con đi xa nay mới trở về, chúng tôi ùa vào phòng khách. Trân trọng giữa phòng là bàn thờ của gia đình, có góc dành riêng cho Trung, trên đó có Bảng vàng danh dự và quyết định số 110/LCT, ký ngày 31 tháng 12 năm 1973 của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Chúng tôi xếp hàng ngang trước bàn thờ có di ảnh của Trung và cúi đầu mặc niệm...

Kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương - ba của Trung, nguyên là Tham mưu trưởng Quân khu 7 hồi kháng chiến 9 năm, nay đã ngoài 80 nhưng có trí nhớ tuyệt vời. Những kỷ niệm về hai cuộc kháng chiến, về những năm tháng cùng công tác với cha mẹ chúng tôi và về Huỳnh Kim Trung vẫn như in trong tâm trí bác. Bác hỏi thăm công việc từng đứa. Riêng với bạn Nguyễn Thiện Nhân, bác ân cần dặn: “Cháu đảm nhận trọng trách với thành phố này. Ráng phải làm thật tốt để khỏi phụ lòng những người đã hy sinh.” Chúng tôi như bầy con quây quần bên ba mẹ, ôn lại những kỷ niệm về Trung.

Đã gần 30 năm, Trung xa chúng tôi. Thời gian trôi qua nhanh quá, vạn vật có nhiều thay đổi nhưng tình cảm của lũ bạn học ngày nào vẫn thế; Trung như vẫn sống trong chúng tôi. Khi còn ở trường, chúng tôi có một thói quen ghi nhật ký. Vì vậy, khi ra mặt trận, Trung vẫn duy trì thói quen đó và bạn đã để lại cho gia đình và bạn bè những kỷ niệm vô giá. Chúng tôi cùng nhau giở lại những trang nhật ký chiến trường của Trung. Cuốn nhật ký đã nhầu nát vì thời gian và vì những ngày cùng Trung ở tuyến lửa ác liệt Quảng Bình.

Khi còn ở trường, Trung có chân trong Ban biên tập báo tường đại đội; cậu có năng khiếu vẽ, nên tờ bìa của cuốn nhật ký được trang trí rất điệu nghệ: một cành thông non mọc ngay sườn núi sát biển, đang phải chống chọi với phong ba bão táp; xa xa, một tương lai huy hoàng đang đến, cặp hải âu tung cánh trong bình minh đang lên. Như một truyền thống của thế hệ chúng tôi, Trung không quên viết kèm theo hai bài thơ trên trang bìa như một lẽ sống:

Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vào đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn sung sướng
Vấp ngã – sợ gì, rèn luyện ắt thành công!

Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy

Đầu 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền đã vào giai đoạn ác liệt nhất. Đang học năm thứ 2 Đại học Cảnh sát, do yêu cầu của chiến trường, để đảm bảo giao thông thông suốt cho con đường huyết mạch chi viện cho tiền tuyến, Trung đã xung phong vào thực tập cảnh sát giao thông tại một trọng điểm: Bến phà sông Gianh!

Trung đã ghi lại trong nhật ký cuộc sống gian nan vất vả, suốt ngày đêm chịu đựng những trận bom rải thảm của máy bay B52, nhưng cuộc sống của quân dân Quảng Bình vẫn đầy lạc quan. Thế mới biết, cuộc chiến nào cũng ác liệt và trong chiến tranh, con người yêu cuộc sống biết nhường nào! Ngoài những giờ phút căng thẳng đương đầu với bom đạn, đứng điều độ các chuyến xe lên xuống phà, ra Bắc vào Nam; Trung rất nhớ nhà, nhớ ba mẹ, nhớ phố phường Hà Nội, nhớ mái trường thân yêu, nhớ cả những buổi trốn học vào rạp xem phim. Trung thèm có một chiếc radio để nghe ca nhạc và tin tức hay một chiếc ghi-ta để cùng cất “tiếng hát át tiếng bom”. Trung ghi lại cảm xúc cả những khi nhận được thư của gia đình và bạn bè, trong đó có nhắc đến bạn Mạnh Chiến, bạn Trường… (Khi đọc đến đây, chúng tôi nhìn nhau: “Khóa ta có hai Trường. Trung nhắc đến Kháng hay Công?”, thì ông bạn Nguyễn Công Trường giơ tay xin nhận đó chính là mình!).

Bạn bè khóa 5 quây quần bên ba má liệt sĩ Huỳnh Kim Trung, 19-08-2001

Bạn bè khóa 5 quây quần bên ba má liệt sĩ Huỳnh Kim Trung, 19-08-2001

Trong nhật ký, Trung nhắc cả đến một cô bạn gái tên H. (Vậy là Hà, Hoa hay Hạnh?… mà có phải là Hạnh em gái của C. hay không? Hồi đó, hai anh em quý nhau lắm, hay trò chuyện tâm sự với nhau, hình như còn viết cả thư cho nhau!). Giá như Trung của chúng ta vượt qua được những năm tháng ác liệt của chiến tranh, ngày trở về, biết đâu Trung sẽ xây dựng với cô bạn H.. Rồi 30 năm sau, hai bạn cũng có con trai, con gái lớn như con của chúng tôi bây giờ…

* * *

Thành tích chiến đấu của Trung được ghi trong hồ sơ lưu tại Phòng thi đua X15 (Bộ Công an):

16-4-1972: Giải phóng đoàn xe từ phiá Nam ra bị tắc trong khi máy bay Mỹ đang đánh phá.

29-4-1972: Dập tắt lửa trên xe chở đạn bị máy bay địch bắn phá, đưa lái xe bị thương và cõng 1 công nhân bến phà đi cấp cứu.

12-6-1972: Vận động bà con cứu xe hàng của Đoàn 559 đang trên phà bị máy bay Mỹ bắn chìm...

Những trang nhật ký của bạn tôi dừng ở ngày 6 tháng 8 năm 1972. Những dòng cuối cùng được viết thật cảm động:

Để bảo vệ cuộc sống hoà bình, hạnh phúc cho mọi người lương thiện, nếu phải ngã xuống thì cũng không có điều gì phải ân hận. Tổ quốc sẽ mãi ghi công, dân tộc sẽ đời đời ghi nhớ!...

Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu từ thuở bé được sinh ra và lớn lên, để khoác súng lên đường đi khắp mọi miền đất nước... Chúng con sẽ thực hiện lời Bác đã dặn:”Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi!”. Quét sạch rồi, con sẽ về phụng sự má, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác.

* * *

 Hai tuần sau, đúng vào ngày 20 tháng 8 năm 1972, trong khi máy bay Mỹ đang đánh phá, Trung đã cùng dân quân lao vào cứu kho đạn pháo 37 và 85 ly. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, Trung bị thương rất nặng. Được đồng đội cấp cứu. Biết không thể sống được, Trung đã yêu cầu cứu người khác nhẹ hơn. Và Huỳnh Kim Trung đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 20 tuổi.

Chỉ có thế hệ trẻ Việt Nam chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc mới “coi cái chết nhẹ như lông hồng”, mới có những hành động phi thường đến như thế! Huỳnh Kim Trung của chúng tôi đã góp phần tô đẹp thêm truyền thống của trường Thiếu sinh quân, mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi!

Tháng 10-2001
M.Đ

 

25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109

 
Vì chúng tôi là lính Trỗi


PHẠM VIỆT CƯỜNG*
Học sinh khóa 3


Các bạn lính Trỗi thân mến!

Có ai qua Dung Quất, Quảng Ngãi thì nhớ đến thăm Ngô Ngời. Bạn đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Bình Đông. Cứ đến dốc Sỏi, đi theo hướng Dung Quất khoảng 4-5km, sẽ gặp chiếc cầu đầu tiên thì dừng lại, hỏi nhà chú Ngô Câu. Chỗ này ngày đưa hài cốt của Ngời về chưa có cầu, bọn mình phải vượt vịnh bằng hai chiếc mủng (loại thuyền nan hình tròn).

Mọi việc như Võ Quốc Tấn đã kể. Có điều, khi về nhà chú, mình thật xúc động. Cho dù đã được chuẩn bị tư tưởng từ trước nhưng khi mình và anh Ngô Sáng vào đến sân thì cả nhà đều khóc, khóc ầm lên, nhất là má Ngời. Không ai nghĩ mọi việc lại sờ sờ ra trước mắt như thế! Sau khi chuẩn bị xong xuôi, gia đình cho mở bọc hài cốt và xếp lại theo thứ tự để cho vào quách. Mà lạ nhất là lại thiếu mất một đốt ngón tay. Anh em mình vét đi vét lại bọc tăng đựng hài cốt mà không tìm thấy. Lo quá! Khi mọi người đang buồn rầu bởi dù chỉ có một đốt ngón tay vẫn làm trong lòng day dứt, niềm vui không trọn vẹn, thì ba Ngời nói: “Con nó hy sinh ở Campuchia, lại được đồng đội quy tập về biên giới Tây-Nam, nay hài cốt được bạn bè tìm kiếm đưa về quê hương. Thế là quý hóa lắm rồi! Mà cái phúc này không phải gia đình nào cũng có!”. Sau khi ông nói, ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhàng và lo nốt phần việc còn lại.

Anh chị em khóa 3 trước ngày chia tay nhà trường trở về nước nhận nhiệm vụ mới, hè 1968

Anh chị em khóa 3 trước ngày chia tay nhà trường trở về nước
nhận nhiệm vụ mới, hè 1968

Sáng hôm sau, gia đình tổ chức tang lễ đúng theo truyền thống dân tộc. Có bàn thờ và di ảnh liệt sĩ đặt trang trọng ở giữa, hương khói nghi ngút, gia dình mời cả ban nhạc, kèn trống... Đại diện các cơ quan, đoàn thể của huyện, xã cùng bà con mang vòng hoa đến viếng. Sau lễ truy điệu, mọi người cùng tiễn đưa Ngô Ngời về nghĩa trang liệt sĩ.

Câu chuyện bạn bè, đồng đội trường Trỗi đã tìm kiếm và đưa hài cốt Ngô Ngời về với gia đình, với quê hương làm cho cán bộ, nhân dân ở địa phương hết sức cảm động. Ai cũng thắc mắc vì sao giữa giông tố thị trường này vẫn có những tình cảm đẹp như thế? Riêng mình, mình chỉ nói với họ ngắn gọn thế này: “Chúng tôi sống tình nghĩa như vậy vì chúng tôi là lính Trỗi!”

Ngày ở trường, mình không có năng khiếu về môn Văn nên có gì nhờ các bạn biên tập lại hộ!

Chúc các bạn khỏe và hạnh phúc! Nhớ nhau mãi nhé!

P.V.C



* Người bạn cuối cùng xách theo chiếc va-li đựng hài cốt của liệt sĩ Ngô Ngời đang đứng tần ngần ở bãi biển (xem “Sinh ra trong khói lửa” trang 65). Anh đã gửi cho Ban biên tập thư cảm ơn của chú Ngô Câu - cha liệt sĩ Ngô Ngời, kèm theo di ảnh của liệt sĩ. Hiện anh sống tại 261 Trần Phú, Đà Nẵng (Điện thoại: 0511-830055).


26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117

Được kết nạp Đảng
mới viết thư về nhà


TẠ VIỆT CHIẾN * (khóa 3) sưu tầm


Lê Minh Tân là học sinh khóa 3 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi tốt nghiệp, Tân vào học Bách khoa, nhập ngũ rồi đi chiến trường. Bạn đã anh dũng hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại mặt trận Quảng Nam. Thấm thoắt thế mà đã ba chục năm!

Cất công tìm kiếm gia đình anh, chúng tôi đã gặp và nhận được những thông tin vô cùng quý báu. Trên tay tôi là tấm ảnh Lê Minh Tân với khuôn mặt đẹp trai, rạng rỡ, khoác trên mình bộ quân phục và anh đang đưa tay lên vành mũ trong động tác chào đúng điều lệnh. Gia đình còn giữ được tấm Thẻ đoàn viên được cấp tại chi đoàn Lớp chế tạo máy (Đoàn trường Đại học Bách khoa) ngày 1 tháng 7 năm 1970.

Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân
Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân
Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân


Dưới đây là lá thư viết từ Quảng Nam - lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng từ mặt trận gửi về gia đình của Lê Minh Tân:

Quảng Nam, ngày 26 tháng 3 năm 1974

Ba má vô cùng kính mến!

Nếu con vẫn cứ tiếp tục im lặng thì con sẽ là thằng con bất hiếu của ba má. Tinh thần của con chưa bao giờ phải chịu đựng trong trạng thái căng thẳng, tự mình phải nén lòng mình đến mức thế này. Hầu như từ Nghệ An vào đến đây con chưa nhận được thư nào của ba, còn thư và quà của gia đình gửi vào con đều nhận đầy đủ và nguyên vẹn. Con đã gặp chú Bân và nghe chú kể lại rất tỉ mỉ tình hình của ba má và gia đình ta ngoài ấy. Cũng không phải là con bận không có thì giờ để gửi cho gia đình một vài lá thư nhờ người ra Bắc bỏ hộ. Cứ mỗi lần nhận được thư nhà là một lần trong đầu con diễn ra sự xung đột tình cảm mãnh liệt và cuối cùng cái ý nghĩ chưa nên viết đã thắng. Mỗi lần như vậy con lại khóc thầm một mình ngoài rừng và càng nung nấu quyết tâm đi cho đến cái đích cuối cùng. Chính tuy ở khác đơn vị (cùng D nhưng khác C) nhưng nó rất hiểu tâm trạng của con và con cũng yêu cầu nó đừng nói gì về con trong những thư gửi về gia đình. Cho đến ngày hôm nay, con mới đến được cái đích đó: hôm qua, chi bộ đã làm lễ kết nạp con vào Đảng Lao động Việt Nam quang vinh. Con nghĩ, chỉ đến ngày hôm nay thì lá thư gửi cho ba má mới có giá trị và con mới đủ can đảm để nói cho ba má biết nguyên nhận tại sao con lại im hơi lặng tiếng lâu như vậy!

Như ba má đã biết, con vào đây từ tháng 3 năm ngoái. Suốt thời gian ở đơn vị huấn luyện cũng như hành quân đi “B” con đều quyết tâm rèn luyện mình thực tốt trong tư tưởng cũng như chuyên môn. Con được cả đơn vị tin tưởng, yêu mến. Chi bộ cho con làm lí lịch kết nạp vào cuối tháng. Đùng một cái, con phạm khuyết điểm không kìm được tính nóng giận bất tử đã đánh một đồng đội chỉ vì nguyên nhân rất vô cớ: cãi nhau trong công tác kĩ thuật. Thế là bao nhiêu công lao xây đắp từ trước đến giờ sụp đổ tan tành. Hội đồng quân nhân rồi chi đoàn kiểm điểm về hành vi vô đạo đức của con. Con buồn và chán nản không để đâu cho hết. Có như vậy mới càng thấm thía lời ba dặn hồi còn ở nhà: “Phải suy nghĩ kĩ trước khi làm bất cứ việc gì!”. Con đã không làm đúng lời hứa với gia đình trước khi lên đường làm nhiệm vụ, con đã đi ngược lại đường mà gia đình đang đi, con không xứng đáng là con của ba má.

Nhờ có chi bộ, Đảng uỷ, tiểu đoàn hết lòng giúp đỡ và anh em cũng nhìn thấy mặt tốt của con trước kia nên con kiên trì làm lại từ đầu. Dầu có khó khăn hơn trước rất nhiều, con vẫn phải làm vì con chỉ có một con đường là đi chung với ba má. Đến nay tròn một năm, một năm đầy thử thách với sự đi lên của con, nay con đã vinh dự cùng ba má gánh vác nhiệm vụ quang vinh của Đảng giao phó. Con biết đây mới chỉ là cái mốc đầu tiên, còn bản thân phải vươn lên nhiều hơn nữa mới đáp ứng đươc yêu cầu của cách mạng. Dù sao thì đây cũng là một cái mốc quan trọng phải không ba? Bây giờ con mới thấy lòng mình không bị cắn rứt vì những bức thư đầy tình thương mà ba má đã giành cho con. Bây giờ con mới thấy mình thực sự là người có ích cho gia đình, cho Tổ quốc.

Nhận được thư của ba viết từ trại an dưỡng (tháng 12 năm 1973) con thương ba vô cùng. Thế là tai qua nạn khỏi, ba của chúng con vẫn còn mạnh khỏe chờ ngày sum họp như ước mong má nói trong thư gửi cho con trước đây. Đến ngày con về không biết tóc của ba má bạc nhiều không? Nếp nhăn trên trán của ba má có lẽ dầy thêm vì lo nghĩ cho tụi con quá nhiều? Nhiều đêm mùa mưa trong này, nằm lạnh không ngủ được lại nghĩ mà thương cho ba má và các em ngoài ấy nhiều không để đâu cho hết. Làm cho ba má phải lo và ba mới mổ dậy phải ngồi viết thư dài cho con cũng là lỗi tại con. Ba má có tha lỗi cho con không? Con luôn nguyện cầu cho ba má và các em luôn mạnh khỏe thì con ở chiến trường bao lâu cũng được.

Về phần con, từ lúc mới vào đây cho tới giờ cũng bị vài ba cơn “sốt rét nghĩa vụ”, mỗi lần kéo dài khoảng vài ngày. Tuy vậy, người con vẫn cứng cáp và thấy khỏe hơn trước rất nhiều. Sinh hoạt chuyển môi trường mà con không bị gầy và xanh đi chút nào. Nói vậy có khi ba má không tin nhưng tiếc là không có máy ảnh chụp gửi ra cho ba má vài cái làm kỉ niệm. Đơn vị từ lúc vào đến giờ chỉ làm công tác xây dựng và huấn luyện bổ sung nên mang tiếng là ở chiến trường mà chưa lần nào giáp mặt lính ngụy. Chúng con xây dựng chỗ ở đàng hoàng, có nhà xe, nhà ở, nhà bếp, nhà ăn, hội trường... vv. Dinh cơ to lớn và quy mô hơn bất cứ một đơn vị cơ sở nào tương đương cấp đại đội ngoài Bắc. Con cũng là một tay đi rừng lấy gỗ, lấy nứa, lấy lá vào loại khá (tất nhiên so với anh em thì chỉ là học trò!). Sống với anh em bộ đội xuất thân từ nông thôn mới thấy nhiều đức tính tốt đẹp và tình cảm chân thật, sâu nặng của họ. Con trưởng thành trong phấn đấu và từng công việc là nhờ anh em đấy.

Từ tháng 8 năm 1973 đến giờ bộ đội toàn huấn luyện bổ sung và qua mấy lần bắn đạn thật đã chứng minh anh em ngày càng tinh thông trong khoa học và trình độ kĩ, chiến thuật. Riêng lái xe thì tay lái khá lắm vì đã qua hàng nghìn cây số đường Trường Sơn, đã xử trí nhiều tình huống phức tạp hơn ở nhà trường. Con được phân công vào tổ giáo viên kĩ thuật, chuyên soạn bài và đi giảng ở các đơn vị. Không biết nghề sư phạm của má có giống như nghề của con đang làm bây giờ không? Tụi con ở đây tăng gia được nhiều lợn gà và rau xanh nên đơn vị ăn uống không đến nỗi nào. Tết vừa rồi trên không cấp gì nhưng tụi con mỗi đứa vẫn có hai bánh chưng, kẹo tự nấu và thịt gà. Anh em đón Tết có chuẩn bị nên vui ra phết (chỉ không có tiếng pháo thôi), làm đủ các trò chơi và đi chúc Tết nhau. Đầy đủ lệ bộ! Ngoài khoản chăn nuôi thì khoản săn bắn cũng là một nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng. Lợn rừng, nai, hoẵng và cả hổ, voi nữa thỉnh thoảng bắn được. (Xin nói thêm, con cũng là một xạ thủ xông xáo và có uy tín của đơn vị đấy). Thuốc lá thì mỗi anh cũng có 10 điếu mỗi tháng nhưng chủ yếu là thuốc trong này (Cotab, Rubi Queen...…vv) do anh em đi công tác đồng bằng mua về. Nếu có điều kiện ba gửi cho con ít thuốc lá ngoài ấy. Nếu có Tam Đảo, Điện Biên... thì được coi như vàng vì rằng sinh hoạt bộ đội, chắc ba thừa hiểu, ngoài thuốc lá thì không còn gì “quần chúng và ấm cúng” hơn. Con không nghiện vì nếu nghiện thì đã nhảy sang hút thuốc lào từ lâu rồi, có thì hút còn không có thì thôi, chứ con không thể cảm tình được với cái điếu cày hôi mù.

Hồi tháng 5 năm 1973, con có được xuống đồng bằng ở vùng giáp ranh giữa ta và địch – chợ Bình Sơn, Quảng Ngãi – để mua hàng. Con cũng có ý dò hỏi mọi người về tình hình xã mình (người ta gọi là xóm Giếng, thôn 2, không biết có phải?) nhưng không tìm được ai trong bà con của mình cả. Con chỉ được ở một ngày nên không có thời gian thăm hỏi nhiều. Vừa rồi có một chú ở Quân giải phóng, cũng dân Điện Hồng, tên là Bạn - nói có biết bác Tại nhà mình. Theo như chú Bạn thì bác Tại vẫn còn sống và đã vào Đà Nẵng làm ăn. Xuống giáp ranh thấy cảnh Bình Sơn tiêu điều, chợ có nhiều hàng nhưng nhỏ tẹo và họp mỗi ngày chỉ khoảng 2 tiếng (vì sợ địch pháo kích). Cái đồng hồ của ba cho con bị đứng, đem xuống dưới đó không có hiệu chữa nên con gửi thằng Phủ (cùng học điện ảnh với Thuấn đang công tác ở đó) đem chữa hộ. Vì con phải lên núi sớm nên nó vẫn đeo, không rõ có chữa được không và bao giờ mới gặp nó để lấy.

Về tổ chức và tình hình chung của đơn vị hầu như không có gì thay đổi. Chính ở khác đại đội với con từ hồi vào Nghệ An đến giờ (vì hai đứa đều là dân kĩ thuật nên không thể cùng một đơn vị). Tuy vậy, nó vẫn sang chỗ con chơi luôn. Quà của ba má gửi vào con chia cho nó cùng hưởng. Khoảng cuối tháng này, bọn con sẽ đi làm nhiệm vụ ở một vị trí mới, sau đó sẽ chuyển sang nhập vào B3 (Kôn Tum). Con sẽ không còn ở cùng E với chú Bân nữa mà về E của chú Ngọ (hiện chú đang tập huấn ở ngoài Bắc như chú Bân, khoảng tháng 6 mới vào). Bọn con đã chuẩn bị chiến trường tương đối chu đáo mấy tháng nay, trình độ anh em được nâng cao rõ rệt qua huấn luyện bổ sung, khí thế mong muốn lập công trong trận đầu sôi sục toàn đơn vị. Con sẽ quyết tâm chứng minh lòng kiên trung, dũng cảm của mình với Đảng trong trận đầu. Bao giờ đánh xong con sẽ viết thư về báo lại với ba má, gia đình. Chắc chắn là có nhiều chuyện hay!

Tình hình của con trong năm qua là như vậy. Bắt đầu từ nay con sẽ viết thư đều về cho nhà. Còn chuyện Nga hay Bích con đã quên từ lâu và những chuyện về họ con coi như một dây đàn câm tiếng. Trong này, con đã tiếp xúc với một lớp người khác họ hoàn toàn. Đó là những cô gái thanh niên xung phong, bộ đội giao liên hay gác ba-rie mà tụi con thường gặp, đã tạo cho con những suy nghĩ khác hẳn trước kia. Đối với con bây giờ chuyện vợ con quá vô nghĩa so với nhiệm vụ và những đồng đội quanh mình, con sẽ không bao giờ bận tâm về những chuyện vớ vẩn ấy.

Thuấn vẫn hay đến nhà mình đấy chứ? Cho con hỏi thăm nó và chúc nó công tác tốt. Chỉ có nó là thằng bạn hiểu tương đối sâu hậu quả của những lối chọn bạn bất tử như con trước kia. Muốn về uống một bữa bia với chú Nghĩa nhưng phải hẹn dịp khác. Chúc gia đình chú mạnh khỏe và tuị nhóc cất được nhiều cá ở ao. Cho con gửi lời hỏi thăm cậu mợ Tầm, dì Mùi chú Ngọc, cô Lan chú Hải, cậu Kỵ và gia đình chú Lân “thọt” (không rõ thằng Thắng con của chú ra sao rồi?). Biết bà con mình khỏe là con rất mừng, tối lửa tắt đèn mà có nhau thì còn gì quý hơn! (Con không rõ có nên gửi lời hỏi thăm cô vợ mới của cậu Kỵ hay không?).

Chúc ba má và các em mạnh khỏe, luôn gặp may mắn trong công tác và trong mọi chuyện khác. Ba cố gắng ăn khỏe cho lại sức ba nhé!

Con của ba má – Minh Tân.

(Suýt quên! Cho con hỏi thăm Thuỷ – bạn Tiến và chúc cô giáo mới mọi sự như ý. Nếu có thể bảo Thuỷ viết thư cho con).

T/B: Chờ thư sau của con về hãy gửi thư cho con vì địa chỉ này chỉ có giá trị khoảng một tuần nữa thôi. Nhưng có thể gửi theo địa chỉ sau: 759-621 TB22

 * * *

 Đúng sáu ngày sau, Lê Minh Tân đã hy sinh. Đọc lá thư ta có cảm giác như anh đã dự báo trước điều gì!? Còn dưới đây là lá thư của Nguyễn Tư Chính, đồng đội thân thiết của Tân. Hơn bốn tháng sau, Chính mới dám viết về nhà cho ba má Tân báo tin anh đã hy sinh. Được phép của gia đình, xin giới thiệu với thầy trò toàn trường.

Kôn Tum ngày 15 tháng 9 năm 1974

Cô chú Bưởi kính mến!

Đầu thư cháu xin chúc cô chú mạnh khỏe, công tác tốt. Khi được thư này, chắc cô chú sẽ buồn lắm, nhưng cháu tin cô chú sẽ vượt qua được vì cô chú là người từng trải.

Trước hết, cháu phải xin lỗi cô chú vì cháu đã không dám báo tin buồn này cho cô chú. Cô chú hãy tha lỗi cho cháu! Quả thực cháu không biết nên xử trí thế nào vì sợ viết về sẽ làm cô chú buồn, ảnh huởng tới sức khỏe, nhất là khi chú đang đi chữa bệnh.

Cô chú kính mến! Lê Minh Tân đã hy sinh hồi 1 giờ 30 phút, ngày 1 tháng 4 năm 1974.

Từ ngày đi chiến đấu, cháu với Tân ở cùng một đại đội. Mỗi đứa phụ trách kĩ thuật một trung đội. Khi vào đến Nghệ An, theo phân công, cháu chuyển sang đại đội khác và hành quân vào Quảng Nam. Thời gian đó, chúng cháu thường đến chơi với nhau. Tân có bảo: “Bao giờ được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà”. Vì vậy mà cô chú không nhận được thư của Tân.

Cô chú kính mến!

Hôm đó là ngày 1 tháng 4, đang sửa xe bỗng thấy có người đến báo tin Tân bị thương nặng. Cháu vội chạy đến thì thấy Tân đã qua đời. (Các y-bác sĩ cứu chữa rất tích cực nhưng không có kết quả). Nhìn thi hài Tân mà cháu không cầm được nước mắt. Sự việc xảy ra quá đột ngột làm cháu cũng không thể tin ở chính mình. Càng nhìn Tân, nước mắt càng chảy ra mà không có cách nào để cứu Tân sống lại. Cháu đã thức suốt đêm bên thi hài Tân. Đơn vị đã tìm ván đóng cái quan tài rất chắc cho Tân. Hôm sau, anh em đưa Tân về nơi an nghỉ cuối cùng.

Cô chú ạ, đồ đạc và di ảnh của Tân đã được tiểu đoàn gửi lên Ban Chính sách. Cháu đã đánh dấu lại vị trí chôn cất của Tân để sau này cô chú cần đến. Tân đã được kết nạp Đảng.

Thôi đến đây cháu xin dừng bút. Cháu chúc cô chú mạnh khỏe!

Cháu của cô chú – Nguyễn Tư Chính

(Cây số 34, đường 46B, cách sân bay Khâm Đức 8km. HT: 759656-TB22)

 * * *

 Sau chiến tranh, gia đình đã cùng đồng đội tìm kiếm mộ phần của Tân. Dựa theo sơ đồ mộ chí và mốc mà Nguyễn Tư Chính đánh dấu, đội tìm kiếm xới tung vùng đất đã chôn cất anh. Đào đi cắt lại mà không tìm thấy hài cốt. Cuối cùng, gia đình mang một nắm đất, coi là hài cốt Lê Minh Tân, quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Mời các bạn đến thăm gia đình liệt sĩ Lê Minh Tân, cô chú Lê Bưởi hiện sống tại 69/24 Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

T.V.C.





* Thượng tá, giám đốc xí nghiệp Vũ khí, Xí nghiệp liên hiệp Z751



27 - Lòng mẹ - Hữu Thành K4, SRTKL2: 118-122

Lòng mẹ


HỮU THÀNH

Nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ, 27 tháng 7 năm 1993, anh em Trỗi đã đến thăm gia đình liệt sĩ Vũ Chí Dũng - học sinh khoá 4 và là con trai bác Vũ Công Thuyết, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế.

Năm học cuối ở trường, anh thường tâm sự với bạn bè về nguyện vọng được đi chiến đấu. Sau Tết, có đợt khám tuyển đi Liên Xô học lái máy bay chiến đấu Mig-21, anh đã tham gia. Hè năm 1969, sau khi thi tốt nghiệp, Vũ Chí Dũng cùng 40 anh em được Cục Cán bộ tuyển lên Đại học Kỹ thuật quân sự trên Thậm Thình (Vĩnh Phú). Vừa chân ướt chân ráo nhập học, anh nhận được giấy báo trúng tuyển phi công. Thời gian đó, chiến trường miền Nam đã trở nên ác liệt, không thể yên tâm học tập, Dũng từ chối cả việc đào tạo phi công lẫn học đại học. Anh viết đơn xin đi chiến đấu. Thấy con trai rất quyết tâm, không thể chối từ nguyện vọng của tuổi trẻ, bác Thuyết đưa anh lên gặp các chú ở Cục Cán bộ. Thấy Dũng nằng nặc đòi đi chiến trường, các chú đã phải chấp nhận. Và anh đã trở thành một chiến sĩ giải phóng của Sư đoàn 10, hoạt động ở địa bàn Tây Nguyên. Ngày ấy, cứ mười thanh niên miền Bắc vào chiến trường, thì có đến chín người hy sinh vì chưa đủ kinh nghiệm chiến đấu và vì sự ác liệt của chiến tranh. Sau này, một bác sĩ chiến trường - bạn của bác Thuyết, đã kể lại: anh bị thương và chính tay ông đã phẫu thuật cho anh. Nhưng vết thương quá nặng, không qua khỏi. Ngày 6 tháng 12 năm 1971, Dũng hy sinh khi vừa tròn 20 tuổi.

Các bạn bên hài cốt liệt sĩ Vũ Chí DũngCác bạn bên hài cốt liệt sĩ Vũ Chí Dũng.

Ngày đến thăm gia đình ở 22 Phan Huy Chú, chỉ có bác gái ở nhà. Anh em tràn cả vào phòng khách, cái phòng vốn rất rộng nhưng hôm nay như hẹp lại. Khoác vội chiếc áo hoa nâu giản dị, bác run tay pha trà vào ấm và rót nước cho từng đứa. Bác xúc động nói: “Nghe tin các cháu lại chơi mà bác cứ ra ra vào vào suốt từ sáng tới giờ, làm gì cũng cứ lóng nga lóng ngóng. Cứ như là thằng Dũng nhà bác sắp về... Thế là nó đã đi xa hơn 20 năm rồi. Nhưng không bao giờ bác nghĩ nó đã hy sinh, nó cứ như đang đi công tác xa. Nếu về đến nhà, nhất định nó sẽ sà vào lòng bác làm nũng...”. Nghe đến đây chúng tôi rưng rưng nước mắt và hình dung ra ngày hy sinh bạn mình còn trẻ quá, còn người mẹ nào cũng luôn nghĩ con mình bé bỏng. Bác tâm sự: “Hôm nó nhập ngũ, bác không khóc như mấy bà bạn cũng có con đi cùng đợt. Bác nghĩ nó đi rồi nó lại về. Ngày nào bác cũng chỉ quanh quẩn ở nhà, không dám đi xa, mà nếu có phải đi xa thì cũng vội mà về. Chỉ sợ nó về lại không gặp mẹ.”

Chúng tôi lặng lẽ thắp hương lên bàn thờ có di ảnh của Vũ Chí Dũng. Trong khung ảnh của bạn có gắn tấm huân chương Giải phóng với phần cuống nửa xanh nửa đỏ. Xin cám ơn bạn và cám ơn cả mẹ! Mẹ của chúng con dám trao cho Tổ quốc những giọt máu quý nhất của đời mình mà không một so đo, toan tính. Cho đến khi những giọt máu thương yêu nhất ấy mất đi thì lại gồng mình lên gắng chịu! Mẹ thật vĩ đại!

Chắp hai tay trước di ảnh bạn, chúng tôi thầm khấn: Dũng ơi, bạn sẽ sống mãi trong chúng tôi và trong lòng mẹ! 1

 * * *

 Tháng 8 năm 1995, Tuổi trẻ Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đã có thư báo tin cho gia đình. Và những ngày đầu hè năm 2003 khi tìm được gia đình Dũng, chị Thanh Hương đã chuyển cho tôi lá thư đó:

Kính gửi: Đảng uỷ và UBND phố Phan Huy Chú, Hà Nội

Chúng tôi tỏ lòng tôn kính đối với thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nhân đợt hoạt động kỷ niệm 50 năm, ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9, thể theo nguyện vọng của Tuổi trẻ Sư đoàn 10, chúng tôi đã quyết định sử dụng “Quỹ tình đồng đội” trong tháng 8 năm 1995 để ghi thư thăm hỏi và thông tin cho các địa phương cùng thân nhân các liệt sĩ đã chiến đấu, hy sinh, xây đắp nên truyền thống anh hùng của Sư đoàn; biết được địa chỉ nơi an nghỉ của người thân để khi có điều kiện thuận tiện cho việc thăm viếng.

 Xin kính nhờ Đảng uỷ, Chính quyền địa phương và nhân dân phường chuyển đến:

Ông bà Vũ Công Thuyết
Địa chỉ: 22 Phan Huy Chú, Hà Nội
Có con tên là: Vũ Chí Dũng, sinh...
Nhập ngũ:... Đơn vị: C11, D9, E66, F10
Đã chiến đấu và anh dũng hy sinh ngày 6 tháng 12 năm 1971.
Thi hài được quy tụ ở nghĩa trang Plây Cần,
Số ô: 01 – Số hàng: 15 – Số mộ: 288.

Kính chúc quý địa phương và gia đình An khang, hạnh phúc.

Địa chỉ liên lạc: Phòng Chính trị, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3
HT: 4AH.4002 – Thị xã Kon Tum.

TM. Tuổi trẻ Sư đoàn 10 – Thiếu tá Lê Minh Nghĩa.

 

Sau đó, ngày 11 tháng 3 năm 1998, trên báo Phụ nữ Thủ đô có tên Vũ Chí Dũng trong danh sách liệt sĩ Hà Nội, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Sa Thầy. Thấy có sự thay đổi, chúng tôi đã gửi thư cho đơn vị. Ngày 2 tháng 6 năm 2003, Phòng Chính trị - Sư đoàn 10, đã có thư trả lời và thông báo: Do có sự di chuyển theo quy hoạch chung, nay số mộ của liệt sĩ Vũ Chí Dũng là 848, thuộc hàng số 1, tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Sa Thầy (Kon Tum). Trong lá thư này chúng ta còn được biết sau 2 năm rèn luyện trong quân ngũ và chiến trường, Dũng đã trở thành một trung sĩ với chức vụ tiểu đội phó. Thầm nghĩ, tiến bộ như thế phải kể đến cả những năm tháng là học sinh Thiếu sinh quân. Giá như Dũng vượt qua được sự tàn khốc của chiến tranh, chắc chắn sẽ còn trưởng thành.

Lễ truy điệu liệt sĩ Vũ Chí Dũng tại đài hóa thân Hoàn Vũ, Văn Điển, Hà Nội ngày 27-7-2003Lễ truy điệu liệt sĩ Vũ Chí Dũng tại đài hóa thân Hoàn Vũ,
Văn Điển, Hà Nội ngày 27-7-2003

Và nhân ngày Thương binh – Liệt sĩ năm 2003, chị gái Vũ Chí Dũng đã lên Kon Tum chuyển hài cốt của em về Hà Nội. Sáng ngày 27 tháng 7, Ban Liên lạc trường cùng thầy Bân và các bạn khóa 4 đã có mặt ở Đài hoá thân Hoàn Vũ Văn Điển làm lễ truy điệu đón Dũng về quê hương.

Dũng ơi, chúng tôi rất tự hào vì bạn!

H.T




1. Mấy tháng sau ngày chúng ta đến thăm, bác trai rồi bác gái qua đời. Vậy là Dũng đã gặp bố mẹ!


28 - Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn - Trương Đông Nhân K5, SRTKL2: 123-125

Nhớ bạn Nguyễn Văn Ơn


TRƯƠNG ĐÔNG NHÂN
Học sinh khóa 5

refont.com - Glitter textùa xuân 1971, khi đang trực phục kích tầu chiến địch ở vùng biển Hòn Mê, Hòn Mát (Cửa Hội, Nghệ An), phân đội tầu 22 nhận được lệnh về gấp Hải Phòng, chuẩn bị “nhiệm vụ đặc biệt D6”: thay mặt lực lượng vũ trang Việt Nam đón tù binh do Mỹ-ngụy trao trả dưới sự giám sát của Ủy ban quốc tế.

Như thông lệ, sau chuyến đi biển dài ngày, tầu chúng tôi cập cảng Hà Đoạn (Hải Phòng) để rửa nước mặn. Xong việc, anh em rủ nhau lên bờ “đi thăm đất liền”. Khi ghé vào một quán nhỏ, không xa cảng, bất ngờ tôi gặp lại Nguyễn Văn Ơn. Cả hai ôm lấy nhau, tay bắt, mặt mừng. Lính cùng trường mà! Chúng tôi kể cho nhau đủ thứ chuyện trên đời. Ngày ở trường hắn học khóa 4, tôi khóa 5 nhưng (sau này) lại cùng nhau về Quân chính Phả Lại rèn luyện.

Thời kì đó, Ơn vừa tốt nghiệp khóa đào tạo “đặc công nước”, đang chờ đi B. Phân đội của Ơn sẽ bổ sung cho B2, chiến trường ác liệt ở miền Đông Nam bộ (gồm cả Rừng Sác và vùng ven đô Sài Gòn - Gia Định). Sau một hồi hàn huyên, chia nhau điếu thuốc, mẩu kẹo lạc, chúng tôi phải chia tay nhau, hẹn ngày gặp lại ở thành phố Cảng.

Những ngày tầu chúng tôi về Xưởng 46 (ngay cầu Hạ Lý) “lên đốc” để “cải dạng” thành tầu dân sự, tôi vẫn qua lại Thuỷ Nguyên, đến trung đoàn 126 thăm Ơn. Ơn cũng nhiều lần về thành phố chơi và ngủ lại dưới tầu tôi. Bạn kể nhiều về một cô gái đang là sinh viên Sư phạm Hải Phòng. Thật tiếc, tôi chưa một lần gặp mặt. Sau đó, phân đội tôi rời Hải Phòng đi làm nhiệm vụ. Cuối năm đó, quay lại Hải Phòng, tôi đến thăm Ơn. Nghe nói Ơn là một chiến sĩ giỏi, được giữ lại làm cán bộ khung đào tạo lớp lính mới. Thật không ngờ, đón tôi không phải là Ơn mà lại là một tin đau lòng: Nguyễn Văn Ơn đã hy sinh ở cửa Hang Lớn (Động Lớn). Nghe anh em kể lại: Đêm đó, trong chương trình diễn tập, Ơn cùng đội trưởng báo cáo “kỹ thuật đánh tầu địch đang neo trên sông”. Giữa các chiến sĩ đặc công khi ở dưới nước phải liên lạc với nhau thông qua một sợi dây dù. Ơn có nhiệm vụ lặn qua mạn tầu phía ngoài bờ, đặt bộc phá rồi kích nổ đánh chìm tầu địch. Khi đang thao tác, không hiểu vì lí do gì mà Ơn mất liên lạc với đội trưởng. Nước đêm giá lạnh cộng với dòng thủy triều đang lên đã cướp đi sự sống của Ơn. Vậy là Ơn đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ!

Sau đó, là chiến tranh, là xa cách. Rồi chiến tranh qua đi, nhiều lần tôi nhờ đồng đội cũ ở Hải quân tìm kiếm thông tin về Nguyễn Văn Ơn. Vậy mà vô vọng! Hầu hết bạn chiến đấu của Ơn đã hy sinh. Biết Nguyễn Văn Ơn được truy tặng liệt sĩ, tôi đã nhờ lục tìm đống hồ sơ quản lí liệt sĩ của trung đoàn 126 và cả quân chủng nhưng không thấy có bất cứ thông tin nào liên quan đến cái tên Nguyễn Văn Ơn. Lục lại ký ức, tôi nhớ mang máng ngày đó anh em trong đơn vị Ơn đã gọi Ơn với một cái tên khác?! Đúng… đúng là bạn của chúng ta khi đăng lính đã đổi tên khác 1! Vì cùng trường nên tôi chỉ khắc ghi cái tên Nguyễn Văn Ơn ấn tượng chứ không hề nhớ tên mới được anh em gọi. Vậy, tôi chỉ còn biết viết những dòng này để tưởng nhớ đến một người bạn học của chúng ta đã hy sinh khi còn trai trẻ. Lẽ ra bạn cũng được sống trong hoà bình như chúng ta; nhưng cũng chính vì sự hoà bình ấy, bạn đã ra đi!

Quân cảng Ba Son, 2005
T.Đ.N





1. Khi chiến tranh qua đi, chúng tôi mới biết không chỉ Nguyễn Văn Ơn mà nhiều bạn (như Huy Đăng về Hải quân) hay Phạm Văn Hạo (vào chiến trường B2) cũng đổi tên. Đã từng có câu hỏi: vì sao lại phải đổi tên? Nhiều lần trao đổi với nhau, rồi có ý kiến: Anh em ta bị ảnh hưởng lối sống của Ruồi Trâu, khi đi làm cách mạng thì cố dấu hết tung tích của mình! Có lẽ là vậy! Các bạn thật dũng cảm và tuyệt vời! 



29 - Những lá thư dọc đường hành quân - Lê Hòa Bình K5, SRTKL2: 126-131

Những lá thư
dọc đường hành quân


LÊ HÒA BÌNH * (khóa 5) sưu tầm

Nhớ tới Bác Hồ, trong chúng ta hẳn không quên câu chuyện ngày ở Việt Bắc, hồi kháng chiến 9 năm, các cán bộ cùng làm việc gần Người đã được đặt những cái tên ghép lại thành câu khẩu hiệu “Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi”. Thế hệ chúng tôi có một bạn học là con trai của bác Hoàng Hữu Kháng, một trong những cán bộ được Bác đặt tên ngày đó. Bạn là Nguyễn Lâm, học sinh khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Năm 1971, khi vào học năm thứ hai Đại học Thuỷ lợi, nghe theo lệnh Tổng động viên, xin phép bố mẹ, Lâm cùng bao bạn bè lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, các bạn được bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đây là những lá thư của bạn dọc đường hành quân gửi về mà gia đình đã trao cho chúng tôi vào một ngày đầu hè 2003 1.

Nguyễn Lâm (thứ 2 từ bên phải) cùng các bạn ở Phong Khẩu, đầu năm 1968Nguyễn Lâm (thứ 2 từ bên phải) cùng các bạn
ở Phong Khẩu, đầu năm 1968
 

Ngày 3 tháng 8 năm 1972

Anh Sơn mến!

Hôm nay chúng em dừng chân ở Quảng Bình. Nghỉ ở một làng ven sông Gianh. Chiều qua lúc 6 giờ máy bay Mỹ mới đánh phá thì 10 giờ 30 chúng em đến.

Quảng Bình, trước kia nghe nói cứ tưởng tượng ra đất ở đây chỗ nào cũng chỉ có mảnh bom, mảnh đạn nhưng hoàn toàn ngược lại. Sự sống vẫn phát triển, con người vẫn bình tĩnh làm công việc của mình cho dù máy bay cứ gầm rít trên đầu, tiếng bom đạn nổ ì ầm xa xa. Xóm làng về đêm không có ánh đèn nhưng trong bóng đêm ấy vẫn thấy một sự sống mãnh liệt. Chúng em đã đi qua Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Giờ là Quảng Bình. Lúc ngủ trong rừng, lúc ngủ nhà dân. Cứ 7 giờ tối thì lên xe đi, quãng 2 giờ 30 sáng thì đến binh trạm. Dọc đường đi có lúc bom đạn nổ ngay bên đường, đèn dù bập bùng sáng không lúc nào ngớt. Dù bom đạn, dù pháo sáng nhưng xe vẫn đi. Bình tĩnh lạ thường! Không còn lạ và sợ gì bom đạn.

Đêm nay, chúng em sẽ vượt sông Gianh và đi tiếp vào trong. Càng vào trong nhịp sống càng gấp gáp. Khi ở ngoài kia còn được nghỉ 2, 3 ngày ở một binh trạm; còn vào đây, trong đêm vừa đến thì chiều tối lại đi ngay. Đi xe xóc lắm, em hay bị mệt và mất ngủ nên hai bên thái dương đau nhức. Nhưng đứa nào cũng vẫn vui. Ngủ trong rừng mắc võng chụm lại, đứa nào cũng muốn kể chuyện nhà cho bạn bè nghe. Tán như cuội. Lạ lắm, trong đêm không đèn đóm thì dùng pháo sáng thay đèn, tiếng cười nói hòa trong tiếng bom thấy càng vui nhộn hơn. Lúc này có ai có thể nghĩ tới cái chết cơ chứ! Chiến trường đã đảo lộn hàng loạt thói quen sinh hoạt của chúng em. Thức về đêm, ngủ ban ngày, tăng võng thay giường chiếu, tình đồng đội thay cho tình cảm gia đình, tiếng cười đùa thay cho sự ủ dột chết chóc. Em còn nhớ một câu thơ của ai đó: “Thấy quê hương qua tiếng cười đồng đội”.

Chúng em chưa biết ngày nào về nhưng ai cũng mong đến ngày đó. Nếu được về thì thật là may mắn, ngược lại thì cũng do số phận. Nhưng dù thế nào vẫn phải tin là ta sẽ sống, sẽ trở về.

Tin tức gia đình chắc khó mà biết được. Cho nên bao giờ em cũng tự nhủ: “Vẫn thế. Vẫn bình an”. Giả sử ở nhà có việc gì anh phải cáng đáng cả phần việc của em nữa đấy. Còn chuyện riêng của em, Hoa hứa nhất quyết sẽ chờ. Em có nói: “Nếu chờ được thì tốt, nếu không chờ được anh cũng không trách”. Nếu có dịp được về, anh nhớ lại chơi với gia đình bác Thuỷ nhé!

Chiều hôm em đi, bác Thuỷ lên nhà mình ăn cơm. Trưa đó, chị Hải biết tin em đi cũng cố về. Tối hôm ấy khách đến nhà mình đông lắm, giá anh mà ở nhà thì vui quá. Khoảng 9 giờ tối, bố mẹ, chị Hải, Hoa cùng mấy đứa bạn đưa em vào tận chỗ trả phép. Sáng hôm sau, bác Thuỷ và Hoa vào chơi. Đến tối, bố mẹ, chị Hải và Hoa lại vào thăm. Nghĩ tới hôm chia tay làm em cứ thấy lưu luyến, nhiều khi nhớ nhà đến phát bực cả mình. 7 giờ tối ngày 20 tháng 7 chúng em lên tầu ở ga Văn Điển. Thế là xa Hà Nội từ đây!

Khả năng bọn em sẽ vào Quảng Trị anh ạ. Đi “B” ngắn có cái hay nhưng cũng có cái dở. Trang bị thì thật đầy đủ. Ăn uống dọc đường rất tốt, nhưng khi tới Quảng Trị thì không còn rau xanh. Cái gì sẽ diễn ra phía trước thì chưa rõ, song em luôn nghĩ sẽ còn nhiều khó khăn gian khổ. Mình cần nỗ lực, cố gắng hơn trước.

Thôi em dừng bút đây. Chúc anh khỏe, bình an và gặp nhiều may mắn! Tốt nghiệp xong mà em được biết tin thì hay quá!

Em của anh. Nguyễn Lâm.

 * * *

Ngày 15 tháng 8 năm 1972

Mẹ kính yêu,

Các em mến yêu!

Trưa ngày 14 tháng 8, khoảng 1 giờ 30, chúng con vượt sông Bến Hải, rồi đi suốt cho đến 9 giờ tối mới tới nơi trú quân. Cả khoảng đất rộng bao la hơn 10 km2 không hề có một ngọn cây cao nào nguyên vẹn. Chỗ nào cũng có hố bom, hố đạn. Không một bóng người, nhưng đường đi nhầu nát vết dép của bộ đội ta. Chúng con đi qua trận địa pháo cũ của địch. Trên trời không lúc nào vắng tiếng máy bay trinh sát của địch. Thỉnh thoảng lại có một tốp máy bay B52 bay qua. Chúng ném bom ở xa nghe rõ tiếng bom nổ và thấy khói bay mịt mù. Chúng con phải vượt nhanh qua những đồi tranh, rất dễ lộ.

Tay trái con bị mưng mủ ở ngón thứ tư. Rất buốt và nổi một hạch lớn ở nách. Con bị sốt, nhưng sốt thì sốt cứ phải đi thôi mẹ ạ. Lúc này không chỉ đi bằng sức lực mà còn phải đi bằng tinh thần. Trừ cái tay đau còn sức khỏe con rất tốt. Chiều nay chúng con được bàn giao sang đơn vị chiến đấu. Có lẽ chúng con sẽ đóng quân ở Quảng Tri thôi.

Tình hình con là như vậy, báo để mẹ và các em biết. Mẹ yên tâm nhé!

Chúc mẹ của con mạnh khỏe. Mẹ nhớ giữ sức khỏe cho tốt. Ngày về con sẽ thấy mẹ rất mạnh khỏe và vui. Chúc các em ngoan, học giỏi.

Con chờ mong ngày được về gặp mẹ.

Con của mẹ. Nguyễn Lâm.

 * * *

 Ngày 15 tháng 8 năm 1972

Anh Sơn mến!

Em đã vào đến đất miền Nam rồi. Vùng đất Quảng Trị nhiều bom đạn, hoang vắng, toàn là đồi cỏ tranh. Đi suốt một ngày một đêm mà chỉ nghe thấy tiếng chim kêu có một lần. Một vùng rộng lớn hoang vu, nham nhở vết bom đạn. Máy bay trinh sát OV-10 bay nhiều. B52 ném bom liên tục.

Sức khỏe em nói chung vẫn tốt. Ngón tay thứ tư bị mưng mủ nên hôm qua hành quân bị sốt nhẹ. Chiều nay, chúng em được bàn giao cho sư 325. Trung đoàn em đóng chất ở Mỹ Chánh. Trưa qua chúng em vượt sông Bến Hải. Con đường qua vĩ tuyến 17 tuy nhỏ nhưng qua lại thoải mái. Ta có đường dây lớn bắc qua sông đấy anh ạ.

Sơ qua tình hình như vậy để anh biết. Em dừng bút nhé!

Em của anh. Nguyễn Lâm.


 * * *

 Đây chính là bức thư cuối cùng của Lâm gửi về cho gia đình.

Bắt đầu những ngày chiến đấu ác liệt của “Mùa hè đỏ lửa 1972”. Chỉ ba tuần sau đó, ngày 5 tháng 9, trong một trận chiến đấu không cân sức, Nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh.

Dù đã hơn 30 năm trôi qua, nhưng chúng tôi mãi không quên được người bạn thân thiết thuở nào. Máu của bạn đã tô thắm thêm màu cờ truyền thống của quân đội, đã làm đẹp thêm cái tên của trường ta. Xin nghìn lần cám ơn bạn – Nguyễn Lâm!

L.H.B

Bạn Tô Phan Hồng Nam (Phó tổng giám đốc Công ty Bảo vệ Long Hải), sau khi đọc Báo Tuổi Trẻ, đã viết cho chúng tôi: “Bài báo xúc động quá. Nhớ ngày còn bé em gọi anh Lâm là “cậu Lâm” vì bạn em là cháu anh Lâm. Em còn nhớ như in, anh Lâm đẹp trai lắm..…”




*  Cán bộ tổ chức trường Thương mại Hà Nội.
1. Đã trích đăng trong mục “Những bức thư thời cứu nước”, Tuổi trẻ Chủ nhật, ngày 20-7-2003.