Hiển thị các bài đăng có nhãn sinhratrongkhóilửa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sinhratrongkhóilửa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51



Xem Danh sách mới:
Tưởng nhớ các Anh hùng, Liệt sĩ


Danh sách
Anh hùng, Liệt sĩ

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, hai thầy giáo và 26 học sinh của trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng hy sinh. Khi phát động xuất bản tập II, Ban biên tập đã nhận được nhiều tư liệu của các anh hùng liệt sĩ. Tuy nhiên di ảnh của 6 liệt sĩ và một số thông tin vẫn còn thiếu. Ban biên tập mong tiếp tục nhận được sự đóng góp cho cuốn sách được hoàn chỉnh hơn!



 

1. Liệt sĩ Nguyễn Văn Phố *
Thầy giáo, Cán bộ quản lí


3. Liệt sĩ Cao Quốc Bảo *
Học sinh khóa 3


5. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ơn *
Học sinh khóa 4
Sinh: 1952
Hy sinh: 1971 (?)
Hang Động Lớn, Hải Phòng



Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung

7. Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung
Học sinh khóa 5
Sinh: 16-3-1952
Hy sinh: 20-8-1972
Phà sông Gianh, Quảng Bình



Liệt sĩ Ngô Ngời

9. Liệt sĩ Ngô Ngời
Học sinh khóa 3
Sinh: 1947
Hy sinh: 1-7-1979
Mặt trận biên giới Tây Nam



Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc 1

11. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc 1
Học sinh khóa 4
Sinh: 5-1950
Hy sinh: 10-10-1968
Thành phố Vinh



Liệt sĩ Vũ Chí Dũng

13. Liệt sĩ Vũ Chí Dũng
Học sinh khóa 4
Sinh: 1952
Hy sinh: 6-12-1971
Mặt trận Tây Nguyên



Liệt sĩ Trịnh Thúc Doanh *

15. Liệt sĩ Trịnh Thúc Doanh *
Học sinh khóa 5
Sinh: 30-1-1953
Hy sinh: 16-9-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Nguyễn Lâm *

17. Liệt sĩ Nguyễn Lâm *
Học sinh khóa 5
Sinh: 1953
Hy sinh: 5-9-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Chu Tấn Quang *

19. Liệt sĩ Chu Tấn Quang *
Học sinh khóa 6
Sinh: 20-2-1952
Hy sinh: 29-12-1973
Mặt trận Quảng Đức



Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh

21. Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh
Học sinh khóa 6
Sinh: 20-8-1953
Hy sinh: 25-3-1972
Mặt trận Nam Lào



Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân

23. Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân
Học sinh khóa 6
Sinh: 1953
Hy sinh: 16-2-1979
Mặt trận Lạng Sơn



Liệt sĩ Lại Xuân Lợi

25. Liệt sĩ Lại Xuân Lợi
Học sinh khóa 7
Sinh:
Hy sinh: 2-5-1972
Mặt trận Quảng Bình



Liệt sĩ, Nhà báo Ngô Tất Thắng

27. Liệt sĩ, Nhà báo Ngô Tất Thắng
Học sinh khóa 7
Sinh: 1956
Hy sinh: 1-1-1979
Mặt trận Campuchia



2. Liệt sĩ Nguyễn Đăng Đạo *
Thầy giáo, Cán bộ quản lí


4. Liệt sĩ Nguyễn Khắc Bình *
Học sinh khóa 7


6. Liệt sĩ Trần Hữu Dân *
Học sinh khóa 7





Liệt sĩ Bùi Hữu Thích

8. Liệt sĩ Bùi Hữu Thích
Học sinh khóa 1
Sinh: 1947
Hy sinh: 22-8-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Lê Minh Tân *

10. Liệt sĩ Lê Minh Tân *
Học sinh khóa 3
Sinh: 1950
Hy sinh: 1-4-1974
Mặt trận Tây Nguyên



Liệt sĩ Lâm Duy 2

12. Liệt sĩ Lâm Duy 2
Học sinh khóa 4
Sinh: 12-1949
Hy sinh: 30-08-1966
An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái



Liệt sĩ Võ Dũng

14. Liệt sĩ Võ Dũng
Học sinh khóa 5
Sinh: 1951
Hy sinh: 21-4-1972
Mặt trận Khu 9, Rạch Giá



Liệt sĩ Vũ Kiên Cường *

16. Liệt sĩ Vũ Kiên Cường *
Học sinh khóa 5
Sinh: 1953
Hy sinh: 28-7-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Phạm Văn Hạo

18. Liệt sĩ Phạm Văn Hạo
Học sinh khóa 5
Sinh: 5-1953
Hy sinh: 28-6-1971
Mặt trận Campuchia



Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng *

20. Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng *
Học sinh khóa 6
Sinh: 1954
Hy sinh: 5-6-1972
Mặt trận Khu 9, Kiên Giang



Liệt sĩ Đặng Bá Linh *

22. Liệt sĩ Đặng Bá Linh *
Học sinh khóa 6
Sinh: 9-3-1953
Hy sinh: 26-8-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Y Hoà *

24. Liệt sĩ Y Hoà *
Học sinh khóa 7
Sinh: 1954
Hy sinh: 16-10-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ *

26. Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ *
Học sinh khóa 7





Liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến *

28. Liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến *
Học sinh khóa 8
Sinh: 1955
Hy sinh: 23-3-1974
Mặt trận Biên Hoà



Ban biên tập xin chân thành cảm ơn gia đình các liệt sĩ, các thầy cô giáo và các bạn đã sưu tầm và cung cấp nhiều tư liệu quý giá để xuất bản lần này!


B.B.T




* - Những liệt sĩ đến năm 2005 chưa tìm được mộ phần.
1 - Liệt sĩ hy sinh đầu tiên tại chiến trường.
2 - Liệt sĩ Thiếu sinh quân.



14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban biên tập, SRTKL2: 65-70



Phần II:
GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ



“ Hổ phụ sinh Hổ tử ”

Chúng tôi muốn dùng tựa đề này để nói lên niềm tự hào
không chỉ về 28 thầy trò đã anh dũng hy sinh mà cả về cha mẹ họ.
Bởi vì “hổ phụ” ắt sẽ sinh “hổ tử”!

BAN BIÊN TẬP

refont.com - Glitter textề anh Nguyễn Văn Trỗi, học sinh danh dự của nhà trường, thì lính Trỗi luôn nhớ lời Bác Hồ đã dạy: phải lấy tên anh đặt cho trường để các em noi gương anh!

Hè năm 1966, trong những ngày lao động xây dựng doanh trại ở An Mỹ (Đại Từ), bạn Lâm Duy (khóa 4) đã dũng cảm hy sinh khi chặt cây, lấy gỗ. Lâm Duy được Tổng cục Chính trị công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân và bạn chính là liệt sĩ đầu tiên của nhà trường. Cha của Lâm Duy là thiếu tướng Nguyễn Lâm Kính, nguyên tư lệnh Pháo binh thời kì đánh Mỹ (1964-1969). Mới đây, bác đã cho xuất bản cuối hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam”; trong đó có nhắc lại sự hy sinh của Lâm Duy.

Học sinh hy sinh trong chiến đấu đầu tiên là liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (khóa 4). Ở Ngọc, hoàn cảnh khá đặc biệt, bố hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Hoà bình lập lại, năm 1954, mẹ Ngọc xây dựng với chú Nguyễn Chí Điềm (nguyên tư lệnh Bộ đội dù, sau là tư lệnh Đặc công). Với chí căm thù giặc, Ngọc đã chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên mâm pháo bảo vệ Thành Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 1968.

Liệt sĩ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang là Huỳnh Kim Trung. Bạn hy sinh ngày 20 tháng 8 năm 1972, tại bến phà sông Gianh, khi vừa tròn 20 tuổi. Ba của Kim Trung là đại tá, kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương. Năm 1947, bác đã là tham mưu phó Bộ tư lệnh Quân khu 7 và sau 1975, có nhiều đóng góp cho việc quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh.

Kĩ sư vũ khí Bùi Hữu Thích (khóa 1) hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1972, tại mặt trận Quảng Trị. Ba của anh là trung tá Bùi Hữu Xích, đã nhiều năm công tác ở Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng).

Trong “Sinh ra trong khói lửa” tập I có một bài kể lại chuyện cảm động của các bạn khóa 3 tìm về nghĩa trang liệt sĩ tận biên giới phía Tây-Nam, đưa hài cốt liệt sĩ Ngô Ngời về quê hương Quảng Ngãi. Đại tá Ngô Câu, ba của liệt sĩ, trong cuốn sách này đã có thư cảm ơn quân đội và thầy trò trường ta thật cảm động.

Trong số các bạn khóa 3 ra trận còn có Lê Minh Tân. Anh đã hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại mặt trận Quảng Nam. Thân phụ liệt sĩ, đại tá Lê Bưởi có nhiều năm công tác tại Bộ Tổng tham mưu, đã gửi cho Ban Biên tập thư và di ảnh quý giá của liệt sĩ. Trong bức thư đầu tiên cũng là bức cuối cùng gửi về nhà, anh đã hứa “được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà!”.

Trong số những học sinh từ miền Nam, vượt qua sự bao vây của kẻ thù, ra tới miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có Võ Dũng (khóa 5). Năm 1966, má và hai em Dũng đã hy sinh. Thề trả thù nhà, đền nợ nước, Võ Dũng quyết tâm xin về Nam đánh giặc. Tới Sài Gòn, không chịu làm lính thông tin, bạn đã dấu ba (bác Sáu Dân, sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt), xin bằng được các chú để về Khu 9, làm lính trinh sát. Trong một chuyến đi trinh sát, bạn đã lọt vào ổ phục kích và anh dũng hy sinh.

Các liệt sĩ của trường ta mỗi người mỗi vẻ! Trường hợp liệt sĩ Vũ Chí Dũng (khóa 4) cũng thật đặc biệt. Bố Dũng là bác Vũ Công Thuyết, thứ trưởng Bộ Y tế; Dũng đã qua vòng khám tuyển, thừa tiêu chuẩn đi học lái máy bay chiến đấu ở Liên Xô. Vậy mà Dũng kiên quyết xin về đơn vị chiến đấu. Bạn phấn đấu thành trung sĩ, tiểu đội phó và hy sinh ngày 6 tháng 12 năm 1971, tại Kon Tum.

Ba bạn khóa 5 hy sinh ở mặt trận Quảng Trị là Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường và Trịnh Thúc Doanh. Bố của Nguyễn Lâm là đại tá Hoàng Hữu Kháng, người được theo bảo vệ Bác Hồ suốt thời gian kháng chiến chống Pháp (1945-1951)1. Sau này, bác Kháng là cục trưởng Cục cảnh vệ, Bộ Công an.

Bác Vũ An, bố của Vũ Kiên Cường, theo gia đình sang Lào từ ngày tản cư năm 1946, sau đó sang Thái Lan. Tại đây bác đã hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, rồi phụ trách Tổng hội Việt kiều cho tới năm 1973 mới về nước. Suốt thời gian đó, mấy anh em Cường được mẹ tần tảo nuôi dưỡng. Cho dù bố đi công tác xa và luôn phải đối đầu với sự hiểm nguy nhưng được sự dạy dỗ của mẹ cùng những dòng tâm sự của bố gửi về qua những lá thư, anh em Cường đã biết sống có lí tưởng. Khi có Tổng động viên, là sinh viên Thuỷ lợi, bạn đã ra đi thật nhẹ nhàng, không chút đắn đo. Hôm rồi, gọi điện ra thì mẹ Cường cho biết cũng nhờ nhiều người tìm kiếm nhưng mộ phần của Cường vẫn chưa tìm được.

Đại tá Phạm Văn Đông, bố của Phạm Văn Hạo (khóa 5), ngày đó công tác ở Cục Địch vận. Sợ bị bố phát hiện nên trong đơn xin đi bộ đội đã thay tên, đổi họ thành Phạm Vũ Nhân. Hạo mang theo cái tên mới vào chiến đấu ở B2 và hy sinh ở sát biên giới Campuchia. Gia đình đã tìm thấy mộ phần của bạn ở nghĩa trang liệt sĩ Long An.

Khóa 6 có liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân hy sinh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bố của Tiến Quân là bác Đồng Sĩ Nguyên, trung tướng, nguyên tư lệnh Đoàn 559, cả cuộc đời có nhiều kỷ niệm gắn với chiến trường. Những năm tháng gần đây, bác vẫn rong ruổi với mơ ước hoàn thành con đường Hồ Chí Minh lịch sử.

Liệt sĩ thứ hai của khóa 6 là Chu Tấn Quang. Bạn hy sinh anh dũng trong những ngày chống lấn chiếm sau Hiệp định Paris. Ba của Quang, trung tá Chu Tấn Đạt, người tiếp quản trường Quân cụ Gò Vấp năm 1975. Tháng 8 năm 1975, ông cùng đơn vị tìm thấy mộ phần của Quang nhưng phải chôn lại vì thân thể còn nguyên. Vậy mà gần ba chục năm nay, nhiều lần gia đình cùng đồng đội trở lại chiến trường xưa tìm kiếm mộ phần mà không thấy!

Võ Nguyên Trọng (khóa 6) - chiến sĩ của sư đoàn 1, quân khu 9. Trọng là con bác Võ Nguyên Lượng, nguyên bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa. Ban Liên lạc đã nhiều lần nhắn tin tìm đồng đội qua báo chí. Và mới đây thượng tá Phạm Quang Thư, đồng đội của Trọng, đã có thư báo rằng liệt sĩ đã được mai táng tại nghĩa trang xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (gần Ngã ba Hòn Chông). Tháng 8 năm 2004, khi cuốn sách đang biên tập dở dang thì chị Vân, chị của Trọng, đang lên kế hoạch đi tìm em. Hy vọng mộ phần của Trọng sẽ tìm thấy!

Khóa 6 có một liệt sĩ, hy sinh ở mặt trận Quảng Trị vào dịp “Mùa hè đỏ lửa”, đó là Đặng Bá Linh. Linh nhập ngũ đầu năm 1972, được huấn luyện rồi hành quân ra mặt trận. Ngay trận chiến đầu tiên, Linh đã hy sinh tại cao điểm 105 bắc, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng. Bố Linh, bác Đặng Ngọc Trác, ngày đó là trưởng ban Vận tải (Bộ Giao thông, vận tải); còn mẹ là cô Đặng Thu Hồng, một sĩ quan của Bộ Công an (trước khi nghỉ hưu là đại tá). Sau ngày quy tập Linh về nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Lệ, không may “thông tin của Linh” trong lọ penecicline đã bị thất lạc, nên đến nay mộ bạn vẫn khuyết danh!

Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - con đại tá Ngô Từ Vân, nguyên Tổng biên tập tạp chí Quân đội Nhân dân. Vừa tốt nghiệp Đại học Báo chí, Thắng xin về làm phóng viên Báo Quân đội Nhân dân. Khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây-Nam, vừa mới cưới vợ, vậy mà Thắng đã xung phong ra ngay mặt trận. Và anh đã hy sinh anh dũng như một người lính chiến!

Khóa 7 có liệt sĩ Y Hoà hy sinh tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Bác Y Wang, ba Y Hoà là người dân tộc Tây Nguyên, từng đảm nhiệm chức Phó ban Dân tộc Trung ương. Sau ngày thống nhất, nhiều lần gia đình đã ra tận Quảng Trị để tìm kiếm mộ phần, nhưng vô vọng. Cuối cùng, gia đình mang nắm đất ở mặt trận đưa về nghĩa trang liệt sĩ Buôn Mê Thuột xây mộ phần cho bạn.

Liệt sĩ trẻ nhất của nhà trường là Bùi Thọ Tuyến. Là học sinh khóa 8, ngày trường giải thể, Tuyến về Thái Bình vì bác Bùi Thọ Tư nhận hiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Quê hương Năm tấn cũng là nơi cung cấp nhiều con em cho chiến trường. “Bố lặn lội, động viên nhân dân cho con em đi bộ đội thì lẽ nào mẹ lại ngăn con thực hiện ước mơ làm nghĩa vụ vẻ vang này”, Tuyến tuy chưa đủ tuổi nhưng bắt mẹ xin các chú cho đi bằng được. Tại chiến trường, chỉ còn một năm nữa là chiến tranh kết thúc, vậy mà Tuyến đã hy sinh!

Còn bao liệt sĩ nữa, Ban Biên tập chưa tìm được hết thông tin để đưa vào bài viết. Thật là áy náy! Mong rằng, thầy, bạn ở khắp nơi khi có trên tay cuốn sách, hãy cùng chúng tôi làm những việc sưu tập mà cho tới nay chưa làm trọn vẹn. Cũng là một việc tốt cho đời và đền đáp phần nào những gì những đồng môn, những người bạn thân thiết, cùng “sinh ra trong khói lửa” đã hy sinh cho cuộc sống của chúng ta hôm nay!

B.B.T

 



1 -  Một trong những người được Bác đặt tên “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi”.



15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 71-75



Cùng nhau làm việc nghĩa tình


KIẾN QUỐC

refont.com - Glitter textáng thứ Bảy, 26 tháng 7, tôi nhận được tin nhắn từ Hà Nội của Hữu Thành (khóa 4): “Gia đình đã chuyển hài cốt liệt sĩ Vũ Chí Dũng từ Sa Thầy (Kon Tum) về Hà Nội. Sáng mai, 7 giờ 30, sẽ tổ chức truy điệu tại Đài hóa thân hoàn vũ Văn Điển”. Vừa đọc xong, nước mắt đã giàn giụa: Thế là anh em Trỗi lại vừa làm được một việc nghĩa!

Xúc động nhớ lại, sau khi cuốn “Sinh ra trong khói lửa” được phát hành, tuy đã có nhiều cố gắng nhưng những người tham gia biên soạn vẫn thấy áy náy. Dường như vẫn thấy thiếu nhiều điều cần nói; đặc biệt, nhiều liệt sĩ chưa có mặt! Chúng tôi vẫn trăn trở… Luôn nhớ, ngày ở trường, chúng ta đã thương yêu nhau hơn cả anh em ruột, khi xa nhau vẫn vậy. Nếu biết phát huy sức mạnh tập thể thì nhất định sẽ tìm kiếm được nhiều thông tin về các liệt sĩ còn vắng! Và chúng ta đã làm…

Trước Tết Nhâm Ngọ (2002), Tăng Tiến (khóa 8) gọi điện vào báo tin: Khóa 6 còn một liệt sĩ chưa có tên trong danh sách, đó là Đặng Bá Linh, hy sinh ở Quảng Trị 1972. Đồng đội của Linh ở sư 330-338 đang chạy thủ tục, để anh được truy tặng Kỷ niệm chương “Thành đồng Tổ quốc”. Đầu hè năm ấy, đại diện thầy trò ở thành phố Hồ Chí Minh đã đến thăm và chuyển kỷ niệm chương cho gia đình. Đây là một vinh dự không chỉ cho gia đình mà còn cho cả nhà trường! Hôm đó, Ban Liên lạc phía Nam cùng đại diện khóa 2, khóa 6 và Tăng Tiến đã có một buổi họp mặt thú vị. Thật bất ngờ, người ra đón đoàn lại là Đặng Quý Lai, anh trai Linh, học sinh khóa 2 trường Trỗi!

Sau đó, việc tìm kiếm thông tin các thầy trò liệt sĩ được tiếp tục triển khai. Từ hồ sơ của các thầy ngoài Hà Nội gửi vào, ta biết thêm được thầy Nguyễn Đăng Đạo, cán bộ quản lý học sinh khóa 8, đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ.

Nhân Ngày thương binh, liệt sĩ năm ấy, anh em khóa 6 đã đến thăm gia đình liệt sĩ Chu Tấn Quang. Mẹ Quang và em trai đón chúng tôi như đón Quang trở về. Cô trăn trở, đã 30 năm rồi mà vẫn chưa tìm được mộ Quang. Một kế hoạch phối hợp với gia đình tìm mộ liệt sĩ được vạch ra. Dương Thái Biên đã liên hệ với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Có di ảnh của Quang, cô đã thắp hương và “nói chuyện” với liệt sĩ. Theo “chỉ dẫn” của Quang, cô đã vẽ lại sơ đồ nơi anh đang nằm. Quang còn “nói”, rất mong gia đình và bạn bè tìm đến. Tấm sơ đồ đã được chuyển cho gia đình và chờ ngày tổ chức đi tìm mộ.

Vào dịp Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 2002, qua bạn bè mà Ban Liên lạc khóa 5 tìm được Đỗ Tấn Mỹ, sau hơn 30 năm thất lạc. Từ Tấn Mỹ và Tô Văn Hoành, chúng ta có được thông tin chính xác về sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc. Anh đã anh dũng hy sinh tại thành phố Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 1968, khi chỉ còn ba tuần lễ nữa là giặc Mỹ phải tạm ngừng ném bom trên miền Bắc! Ngay sau đó, Ban liên lạc phía Nam đã phát động anh em cùng đóng góp, lập sổ tiết kiệm cho gia đình liệt sĩ. Trong buổi họp mặt cuối năm, anh em khóa 5 đã góp được 1,4 triệu đồng gửi ra Hà Nội cùng với 1 triệu của các bạn khóa 4 và 150 Euro của ba bạn (Hoàng Quang, Tôn Gia Quý, Phạm Võ Hùng) ở Cộng hoà Liên bang Đức gửi về.

Tiếp sau đó, Hoàng Anh (khóa 6) gửi bài cho chúng tôi, báo tin trong danh sách liệt sĩ còn thiếu liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh của khóa 6. Thông qua Mạnh Quang (khóa 4), anh trai Minh, chúng ta dần có những thông tin của Minh. Hiện bạn đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn và hè năm nay (2003), cô giáo Bích Liên (em gái Nguyễn Đức Cảnh (khóa 6), đang sống tại Quy Nhơn) đã thay mặt các anh trường Trỗi ra viếng thăm anh Minh. Đây là một câu chuyện cảm động! Qua Liên, chúng tôi có được điện thoại của chị Hồng, người quản trang, chăm nom phần mộ của Mạnh Minh và đồng đội. Nối máy được với Nghĩa trang Trường Sơn, chúng tôi đã nói chuyện và chân thành cảm ơn chị. Xin chị hãy coi chúng ta như những người bạn quen biết từ lâu! Là một cựu chiến binh thời chiến tranh biên giới, chị rất mộc mạc, giản dị, sẵn sàng đảm nhận phần việc chăm sóc mộ phần của Minh và hàng nghìn đồng đội của anh!

Để chuẩn bị xuất bản cuốn sách, Ban biên tập (lần này, sách do toàn trường xuất bản nên dùng cụm từ này hợp lý hơn!) đã vận động anh em đến từng gia đình xin tư liệu, thư từ, di ảnh của các liệt sĩ. Qua những lần gặp gỡ lại có thêm nhiều thông tin quý báu. Chúng ta đã có trong tay những lá thư từ mặt trận gửi về của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc, Chu Tấn Quang, Nguyễn Mạnh Minh, Nguyễn Lâm, Y Hòa, Bùi Thọ Tuyến, Lê Minh Tân… Trong việc làm này, Tạ Việt Chiến (khóa 3), Nguyễn Hữu Thành (khóa 4), Lê Hoà Bình, Hoàng Chương, Y Nguyên, Tô Văn Hoành (khóa 5), Lê Trí Dũng, Nguyễn Thắng Lợi, Hồ Bá Đạt (khóa 8)… là những bạn nhiệt tình đóng góp cho công việc chung. Xin cảm ơn các bạn!

Đặc biệt, xin cảm ơn các gia đình liệt sĩ đã bảo quản, giữ gìn và tin tưởng trao cho chúng ta thông tin và di vật của liệt sĩ!

Và hè năm nay, khi Báo Tuổi trẻ vừa phát động cuộc tìm kiếm “Những lá thư thời cứu nước” thì Ban Liên lạc phía Nam là người tham gia sớm nhất. Chúng tôi xác định, đây là chiến dịch quảng bá, làm vẻ vang tên tuổi 28 anh hùng, liệt sĩ và tô đẹp thêm truyền thống trường Thiếu sinh quân chúng ta. Những bức thư của liệt sĩ Mạnh Minh đã vinh dự được Tuổi trẻ cho lên khuôn ngay loạt bài số 1! Tiếp sau đó, những lá thư của liệt sĩ Nguyễn Lâm, Y Hoà được đăng tải vào dịp 27 tháng 7.

Gia đình các liệt sĩ luôn coi chúng ta là một đầu mối để liên hệ tìm kiếm. Đây là một vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm! Còn bao nhiêu liệt sĩ của chúng ta chưa tìm được hài cốt, có những liệt sĩ tìm được rồi nhưng vì nhiều điều kiện đang từ có danh mà trở thành khuyết danh. Bao nhiêu năm rồi mà nỗi đau ấy vẫn còn day dứt!

Mới đây, gia đình và đồng đội của liệt sĩ Võ Nguyên Trọng (khóa 6) đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin mới về anh. Là lính sư đoàn 1, anh cùng đồng đội lăn lộn khắp các mặt trận thuộc dải đất cực nam Tổ quốc. Lần đó, anh bị trúng đạn pháo của địch. Đồng đội cố gắng cứu chữa nhưng vết thương quá nặng, không qua khỏi. Anh được chôn cất ở xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, gần Ngã ba Hòn Chông, tỉnh Kiên Giang. Hy vọng rằng với những thông tin này, chúng ta cùng gia đình sẽ tìm ra mộ phần của anh!

Năm rồi, các bạn khóa 4 ở Hà Nội đã phối hợp với chúng tôi để lấy được thông tin chính xác về mộ phần của liệt sĩ Vũ Chí Dũng từ sư đoàn 10 - Đoàn Đắc Tô (Quân đoàn 3). Dựa vào thông tin ấy, gia đình liệt sĩ đã đến tận Nghĩa trang liệt sĩ Sa Thầy đón bạn về Hà Nội. Đúng sáng ngày 27 tháng 7, Ban Liên lạc trường cùng đại diện các khóa và thầy Mạnh, thầy Bân (đại đội trưởng của Vũ Chí Dũng ngày ở trường) đã có mặt trong lễ truy điệu. Thế là sau 30 năm, bạn đã về với quê hương và gia đình. Thật là vui vì trong việc làm nghĩa tình này có sự đóng góp của anh em ta!

Cũng sáng 27 tháng 7, chúng tôi nhận được thông tin về “liệt sĩ út ít”– em Bùi Thọ Tuyến (khóa 8) - từ Lê Trí Dũng, bạn cùng khóa. Sau khi nhà trường kết thúc đào tạo, em về thị xã Thái Bình. Hè năm 1971, học xong lớp 8, em làm đơn bằng máu xin đi bộ đội. Vì tuổi đời mới 16 nên nguyện vọng của em bị từ chối. Không nản, Tuyến đã giục mẹ chuyển hồ sơ về huyện Đông Hưng. Em đi theo quân số của huyện, nhập ngũ về binh chủng đặc công và sau đó đi “B”. Ngày 23 tháng 3 năm 1974, chỉ còn hơn một năm là chiến tranh kết thúc, vậy mà em đã hy sinh trong một trận chiến đấu không cân sức. Bao nhiêu năm rồi, gia đình không hề biết đơn vị của em và nơi em yên nghỉ. Việc còn lại, chúng ta sẽ cùng gia đình tiếp tục làm…

Khi làm những việc này, anh em Trỗi luôn nghĩ, đây là trách nhiệm của những người còn sống vì, chỉ có sự hy sinh của những người con ưu tú của dân tộc, trong đó có các thầy, các bạn trường Nguyễn Văn Trỗi, thì chúng ta mới được sống hạnh phúc đến ngày hôm nay. Xin nghìn lần cám ơn các thầy, các bạn - những liệt sĩ của nhà trường!

 

Ghi chép nhân Ngày thương binh, liệt sĩ năm 2003
K.Q

 

17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79





Viếng mộ anh Hoàng Văn Thụ
Kính tặng hương hồn người cộng sản kiên cường !



LÊ VÕ TIÊN HƯNG
Học sinh khóa 1

refont.com - Glitter textôi đến bên Anh
Mang vòng hoa đẹp nhất
Đặt lên nấm mồ xanh
Hương còn bay ngây ngất

Nơi đây không giá lạnh
Không tiêu điều hoang vu
Ở đây có sức mạnh
Và cả mối căm thù

Anh Thụ ơi,
Anh còn sống mãi
Như ánh mặt trời
Sáng muôn vàn thời đại

 

Máu của Anh nhỏ xuống
Cho bao bông hoa nở
Máu của Anh nhỏ xuống
Đỏ thắm mãi màu cờ

Hôm nay, xuân về trên đất nước
Chúng tôi ôn lại sự tích anh hùng
Theo dấu chân Anh thề tiếp bước
Quyết giành lấy thắng lợi cuối cùng

Rặng phi lao ru gió
Thơm man mác mùi hương
Bóng hình Anh đâu đó
Người cộng sản kiên cường

Xuân Bính Ngọ 1966
L.V.T.H

 


19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - (Thầy giáo Nguyễn Chi Phan) - SRTKL2: 83-85

 
Lời tâm nguyện của chúng tôi
(Nhân ngày giỗ đầu Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi)

Thầy giáo NGUYỄN CHI PHAN *

refont.com - Glitter textách đây vừa tròn một năm, hồi 11 giờ, ngày 15 tháng 10 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi – người con trên mảnh đất Thành đồng đã đi vào lịch sử…

Lại một lần nữa, bọn đao phủ Mỹ-ngụy cướp đi của chúng ta một người đồng chí trung kiên. Xót đau, căm thù và uất hận… Tình cảm này được chi đoàn giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi thể hiện sâu sắc trong buổi mít-tinh lên án tội ác của bọn giết người; và sau này, còn được thể hiện bằng hành động thực tế hàng ngày.

Một con người, nói như nhà thơ Tố Hữu, “như chân lí sinh ra”, có bao giờ chết được. Anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn sống, sống mãnh liệt hơn bao giờ hết! Cũng như nhiều chi đoàn khác, chi đoàn giáo viên chúng tôi đã long trọng tổ chức lễ kết nạp anh làm đoàn viên danh dự của chi đoàn. Từ đó, bên cạnh chúng tôi, có người bạn chiến đấu, luôn luôn động viên, dẫn dắt mọi ý chí, hành động của mình. Chúng tôi tổ chức phong trào thi dua với các tên gọi “Giờ dạy và học Nguyễn Văn Trỗi”, “Làm phần việc của anh Nguyễn Văn Trỗi”, “Lao động lấy thành tích trả thù cho anh Nguyễn Văn Trỗi”…

Lời anh nói “Hãy nhớ lấy lời tôi…” và những bài thơ, bản nhạc, áng văn ca ngợi anh đã khắc ghi trong tâm trí chúng tôi, thôi thúc mọi người hành động có hiệu quả.

Cái chết “bất tử” của anh là ở đó! Đã từ lâu, chúng tôi tha thiết muốn sống, muốn học tập anh không chỉ qua 9 phút lịch sử giữa pháp trường mà qua cả đoạn đời đầy khí phách, hào hùng của người anh hùng. Tác phẩm “Sống Như Anh” ra đời, đã đáp ứng nhu cầu đó. Lúc sách chưa xuất bản, nhiều đồng chí đã tìm hiểu các đoạn trích đăng trên báo. Chúng tôi nhớ mãi những buổi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi tác phẩm này. Tối tối, cứ đến 10 giờ, mọi người lại tề tựu xung quanh radio để theo dõi. Chúng tôi nghe bằng cả tấm lòng khâm phục và kính trọng.

Hôm phân phối sách về, ai nấy vô cùng cảm động khi được mắt thấy, tay cầm quyền sách còn thơm mùi dầu. Chúng tôi tổ chức đọc tập thể tác phẩm “Sống Như Anh”. Nhiều đồng chí còn ghi cảm tưởng bằng thơ, bằng văn xuôi, viết nhật kí, viết thu hoạch… Nội dung toát lên mấy ý chính:

- Học tập ở anh Nguyễn Văn Trỗi lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; tình yêu nhân dân, yêu Tổ quốc thiết tha; tình cảm vợ chồng chung thuỷ, nồng thắm.

- Tinh thần dũng cảm, ngoan cường trước kể thù; hy sinh quyền lợi riêng tư và cả thân mình đề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng, vì lợi ích của nhân dân.

- Niềm lạc quan cách mạng; tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của quần chúng; tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phần liên hệ bản thân rất phong phú, mỗi người đều có tâm tư riêng. Những thiếu sót được bộc lộ và có biện pháp khắc phục cụ thể. Cuộc đời và sự nghiệp anh hùng của Nguyễn Văn Trỗi đã tiếp thêm cho chúng tôi niềm tin cũng như sức mạnh để cùng nhà trường vượt qua khó khăn, trở ngại. Trong chi đoàn giáo viên của trường Nguyễn Văn Trỗi, lúc đầu, có đồng chí chưa quen với công việc nặng nhọc, cuộc sống ở núi rừng. Sức khỏe một số người bị giảm sút, do điều kiện sinh hoạt, vật chất thiếu thốn. Trước thực trạng đó, mọi người đều đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, noi gương anh Nguyễn Văn Trỗi, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày mai đây, nhà trường bước vào năm học mới, khác nào như bước vào trận chiến đấu mới, tuy không có máu lửa, súng đạn nhưng không kém phần gay go, gian khổ. Chúng tôi đều lo lắng trước nhiệm vụ giảng dạy của mình, làm sao cuối năm học, 100% học sinh của mình được lên lớp với chất lượng cao.

Tối hôm nay, bên mé rừng quê hương chiến khu Việt Bắc, trước anh linh Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi, những đoàn viên trong chi đoàn giáo viên xin nguyện tiếp tục giương cao ngọn lửa cách mạng trong bước đường đi tới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học đầu tiên của nhà trường.

Yên Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên.
Ngày 15-10-1965
N.C.P




* Đại tá, Nghệ sĩ ưu tú, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên giám đốc Trung tâm Truyền hình quân đội.


20 - Viếng mộ anh Trỗi - (Ban Liên Lạc) - SRTKL2: 86-88

Viếng mộ anh Trỗi

BAN LIÊN LẠC

Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004. Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên
viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004.

Mọi năm, cứ đến ngày giỗ anh, chị Phan Thị Quyên đều mời đại diện Ban Liên lạc phía Nam về dự. Riêng năm nay tròn 40 năm ngày anh mất, chúng tôi lên lịch tổ chức đi viếng mộ anh. Thật là vui vì dịp này, Ban Liên lạc khóa 3 mời được hai thầy Nguyễn Phú và Bạch Quốc Bính từ Hà Nội vào chơi. Và cách đây gần tháng, chúng tôi tìm được thầy Nguyễn Hữu Tiến (dạy Địa) sau 34 năm mất liên lạc. Thầy vui vẻ nhận lời cùng đi với cô Phạm Thị Thục, thầy Phạm Đình Trọng và thầy Mai Duy Vọng.

Sáng 15 tháng 10, nắng đẹp, trời trong xanh. Những chiếc xe con của học sinh trường Trỗi nhận nhiệm vụ đón thầy, cô đã quay đầu ở quán cóc ngay Ngã ba Cát Lái. Những cái bắt tay chân thành, những vòng tay ôm chặt nồng ấm của kẻ Nam, người Bắc sau bao năm xa cách. Thầy, cô và các bạn cảm động hơn khi thấy Nguyễn Chỉnh Huấn (khóa 5) với tấm lưng thẳng đơ đang dùng hai tay điều khiển “chiếc xe ba bánh tự chế” vượt cầu Sài Gòn rẽ vào. Bạn Lê Tất Thắng (khóa 4), quận ủy viên quận 2, được phân công “dẫn đoàn” về nghĩa trang Văn Giáp. Hồ Bá Đạt thay mặt thầy trò nhà trường đến đón chị Quyên và Phương (cháu ruột của anh). Lại những cuộc hội ngộ cảm động của thầy, trò, đồng nghiệp trước mộ anh. Cũng sáng nay, những cháu đội viên thiếu niên với khăn quàng đỏ cùng những đoàn viên, thanh niên lấp lánh huy hiệu Đoàn trên ngực mang những lẵng hoa thắm sắc màu đến viếng anh. Những thợ điện trẻ của Công ty Điện lực Tân Thuận, những người đang kế tục truyền thống của anh, vui mừng trước sự có mặt của chị Quyên và xin phép được chụp ảnh kỉ niệm.

Đúng 10 giờ, thầy trò trường ta tập trung đông đủ. Điểm mặt các khóa thấy anh Lê Võ Tiến Hưng thay mặt cho khóa 1, khóa 2 có Nguyễn Hòa Bình từ Hà Nội mới vào, khóa 3 có Nguyễn Tất Tuấn, khóa 4 ngoài Thắng còn có Dương Minh; khóa 5 có thêm Phan Nam, Tấn Mỹ, Công Trường; khóa 6 có hai bạn Duy Thiệp, Anh Minh đang công tác tại Công ty Petech; khóa 7 có Lê Hòa Bình, Đậu Thanh Châu, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Hữu Hà; khóa 8 cùng Đạt còn có Dương Đức Hải. Trước mộ anh, Trần Kiến Quốc xúc động, thay mặt Ban Liên lạc, phát biểu: “Kính thưa các thầy, cô cùng chị Phan Thị Quyên và các anh chị, các bạn! Cách đây đúng 40 năm, anh Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng hy sinh trước họng súng thù. Cũng gần 40 năm qua, trường Thiếu sinh quân của thầy trò chúng ta là nhà trường đầu tiên được mang tên anh. Phát huy truyền thống ông cha, noi gương anh, được thầy, cô giáo hết lòng dạy dỗ, giáo dục, chúng em đã trở thành những sĩ quan, kĩ sư, bác sĩ, những người có ích cho xã hội. Hôm nay, cùng thầy, cô và chị Quyên, chúng em tập trung về đây tưởng nhớ đến anh... Một phút mặc niệm bắt đầu!”. Sau đó chị Quyên cùng thầy, cô rồi đại diện các khóa lần lượt lên thắp hương cho anh. Khói hương nghi ngút bên những lẵng hoa tươi tỏa ngát hương trên mộ anh. Chúng tôi còn chụp nhiều ảnh lưu niệm. Trước khi ra về, chị Quyên có lời cảm ơn và mời thầy trò về qua thăm nhà. Chúng tôi cũng nhận lời tới dự đám giỗ của anh vào tuần tới.

Thăm cơ ngơi của chị xong, chúng tôi kéo nhau ra Quán Gió, nằm ngay bên bờ sông Sài Gòn, ăn bữa cơm thân mật. Thủy triều lên đang đẩy những cánh bèo ngược dòng. Gió mát lồng lộng. Những chuyến tàu đang hối hả rẽ sóng. Bên những món ăn quê hương, thầy trò cùng nâng ly nhắc lại chuyện những ngày gian khó cách nay đã 40 năm. Chúng ta đã có những kỉ niệm thật đẹp!

Sài Gòn, ngày giỗ anh 15-10-2004
B.L.L



21 - Những mất mát lớn trong tổ ấm nhỏ - (Nguyễn Thế Lâm) - SRTKL2: 89-90

Liệt sĩ Lâm Duy
 
Những mất mát lớn
trong tổ ấm nhỏ1

 
Thiếu tướng NGUYỄN THẾ LÂM *

Đời tôi - đời anh “Bộ đội Cụ Hồ” - liên tục chiến binh trong suốt ba chục năm chiến tranh (1945-1975). Kết thúc đời sinh viên, tôi đi hoạt động cách mạng và tự nguyện làm anh chiến sĩ Giải phóng quân. Từ ngày 23 tháng 10 năm 1945 cho đến ngày trở thành cựu chiến binh, tôi liên tục thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên. Chính trong quá trình ba chục năm chiến đấu trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tôi đã được Đảng và nhân dân giúp đỡ để xây dựng một gia đình hạnh phúc.

Người bạn đời - Thể Dư - đến với tôi tại Bồng Sơn (Bình Định). Hai cháu lần lượt ra đời trong chiến tranh chống Pháp là Lâm Duy và Dư Lan. Vì nhiệm vụ quân sự Đảng giao, tôi rời Liên khu V (miền Nam Trung bộ) ra Bắc. Đảng cũng tạo điều kiện để vợ con tôi được ra công tác, học tập ở miền Bắc. Nhưng hoàn cảnh chiến tranh đã tác động đến đời tư của gia đình tôi như mọi gia đình khác. Trên đường ra Bắc, cháu gái Dư Lan bị sốt rét ác tính đã qua đời. Còn cháu trai Lâm Duy phải gửi tạm vào Huế cho bà ngoại chăm sóc.

Sau ngày tập kết ra Bắc, năm 1965, Lâm Duy được đi học tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi của Tổng cục Chính trị. Cháu hăng hái học tập, rèn luyện và lao động ngày trường Nguyễn Văn Trỗi đóng ở Đại Từ, Thái Nguyên (Việt Bắc).

Lần đó, tổ lao động của Lâm Duy được giao nhiệm vụ vào rừng sâu lấy gỗ về làm doanh trại. Phải đốn gỗ già theo đúng kích thước để làm khung sườn cho nhà ăn của trại. Ba cậu thiếu niên hăng hái nhiệt tình lao động nhưng chưa có kinh nghiệm đốn gỗ trong rừng già. Khi chặt cây gỗ sắp đổ đã không biết chạy tránh hướng nào để đảm bảo an toàn, Lâm Duy chạy đúng vào hướng cây đổ, bị thúc vào đầu, tử thương ngay.

Đưa cháu về Viện quân y 108, Tổng cục Chính trị nhận khuyết điểm trong việc quản lí học sinh và báo tin cho gia đình. Nhưng các anh cũng khéo báo từng bước để khỏi gây đột ngột cho mẹ cháu và bà ngoại. Khi vợ chồng tôi vào đến Viện thì đã xong mọi thủ tục. Cơ quan Tổng cục tổ chức tang lễ, đưa cháu về khu vực quân đội ở Nghĩa trang Văn Điển. Đồng chí phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chính thức thông báo cho gia đình: Cháu Lâm Duy được đề nghị công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân.

N.T.L



1. - Trích hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam”
*  - Phụ huynh liệt sĩ Nguyễn Lâm Duy (khóa 4)

22 - Nguyễn Văn Ngọc, người liệt sĩ đầu tiên - Đỗ Tấn Mỹ, Anh Thy K5, SRTKL2: 91-95

Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc
 
NGUYỄN VĂN NGỌC
Người liệt sĩ đầu tiên

 
Ghi theo lời kể của thiếu tá Đỗ Tấn Mỹ (khóa 5)
ANH THY thực hiện

Sau 35 năm gặp lại, anh say sưa kể về những ngày sống và chiến đấu thời đánh Mỹ. Hết chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, rồi mặt trận C, B2… Nơi đâu cũng gắn với những kỷ niệm về đồng chí, đồng đội. Chiến tranh là một đề tài khó quên!

… Cha mẹ chúng tôi là lớp cán bộ thế hệ thứ nhất và thứ hai của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Để chuẩn bị cho lớp người kế cận, hè 1965, chúng tôi được tuyển chọn vào trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Do chiến tranh ngày càng ác liệt, đầu năm 1967, nhà trường được lệnh rời Đại Từ (Thái Nguyên), sơ tán sang thành phố Quế Lâm (Trung Quốc). Vốn là học sinh miền Nam, khi về trường đã lớn tuổi, Tấn Mỹ thường đứng ra bảo vệ bọn nhóc chúng tôi mỗi khi nghịch ngợm đánh nhau. Còn Văn Ngọc “đúp” từ lớp trên xuống học với khóa 5. Mỹ và Ngọc ở cùng một trung đội thuộc đại đội 71, do hạ sĩ Thụy phụ trách. Tuy điều kiện sống và học tập rất tốt, nhưng cánh lớn tuổi cứ nằng nặc xin về nước tham gia chiến đấu với suy nghĩ: “Học chưa giỏi ở nhà trường nhưng sẽ chiến đấu giỏi nơi chiến trường”. Hè 1967, Mỹ, Ngọc, Võ Dũng, Tô Văn Hoành và một số bạn lên tầu về nước, cùng chuyến với khóa 2 vừa tốt nghiệp.

Về đến Hà Nội, các bạn lại đặt vấn đề với các chú ở Tổng cục Chính trị. Sau khi cân nhắc, Võ Dũng được xếp về trường Quân chính quân khu Tả Ngạn, còn Mỹ, Ngọc cùng Hoành về đại đội 6, tiểu đoàn pháo cao xạ 57mm thuộc trung đoàn 233, sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội. Từ ngày đó, ba anh em “Lưu-Quan-Trương” thề “sống chết có nhau”! Khi thì đơn vị đóng ở bãi Phúc Tân bảo vệ cầu Long Biên, lúc lại về trận địa bên hồ Văn Chương, sau ga Hàng Cỏ; có lúc trận địa chuyển sang Gia Lâm, bảo vệ kho xăng Đức Giang. Những ngày không trực chiến, ba đứa hay mò về Ba Đình “đánh moóc-xơ” báo anh Trình (con trai bác Văn Tiến Dũng), đang trực phòng không trên nóc Nhà Quốc hội xuống chơi. Ba đứa đã chứng kiến những ngày gian khổ nhất của trận địa phòng không Hà Nội và không thể quên hình ảnh cầu Long Biên bị trúng bom, gẫy nhịp hay kho xăng Đức Giang ngùn ngụt cháy. Họ đã cùng Hà Nội chiến đấu đánh trả những đợt đánh phá của giặc Mỹ.

Ngày 31 tháng 3 năm 1968, sau Mậu Thân và những thắng lợi ở cả hai miền, giặc Mỹ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế từ Vĩ tuyến 20 trở vào. Vùng đất này hẹp và kéo dài nên có tên là vùng “cán xoong”. Mỗi khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom khu vực từ Thanh Hoá đổ ra là chúng lại tập trung bom đạn đánh vào cùng cán xoong Nghệ An- Hà Tĩnh-Quảng Bình-Vĩnh Linh rất ác liệt. Một số đại đội của sư đoàn 361 được lệnh bổ sung cho sư đoàn 367 bảo vệ miền Trung. Lẽ thường tình, các chú sẵn sàng cho ba đứa ở lại Hà Nội, thậm chí còn cho đi học; nhưng như vậy sẽ không còn cơ hội đánh giặc. Ba anh em lại đề nghị Tổng cục cho đi đợt này. Từ cầu Bùng (giáp ranh giữa Nghệ An và Thanh Hóa) đổ vào, chiến tranh vẫn còn. Đơn vị nhận nhiệm vụ bảo vệ thành phố Vinh. Khi thì trận địa pháo bố trí ở xã Hưng Dũng bảo vệ Nhà máy nước, lúc lại về Hưng Thuỷ bảo vệ Nhà máy điện và phà Bến Thủy…

Trong khẩu đội, Mỹ là pháo thủ số 1, phụ trách “hướng” và ấn cò; Ngọc là pháo thủ “tầm” số 2 cùng các pháo thủ “cự ly”, “mục tiêu”, tiếp đạn và khẩu đội trưởng. Pháo 57mm mỗi gắp đạn có đến 4 viên nhưng có thể bắn liên tục và hạ mục tiêu ở độ cao đến 6000m. Tuy mỗi người một nhiệm vụ nhưng với khẩu hiệu “Rèn luyện để trở thành pháo thủ toàn năng”, mọi chiến sĩ trong khẩu đội đều có thể thay thế vị trí đồng đội mình. Giữa thời tiết khắc nghiệt của đất xứ Nghệ, nắng rát đến cháy da và gió Lào thì khô không khốc, cứ chiều chiều, anh em lại thay nhau chạy ào sang nhà dân, gần trận địa tắm nhờ. Một lần, nghe kẻng báo động, máy bay Mỹ ập đến, anh em từ nhà dân vội chạy về. Vì đã nhảy vào vị trí của pháo thủ số 2 nên một đồng đội khác thế vào ghế của Mỹ. Ác nghiệt thay, phát đạn 23 ly từ trên máy bay đã bắn xuyên thủng ghế sắt, xuyên tiếp qua lưng người bạn đang ngồi vị trí số 1. Anh bạn đã hy sinh. Ở chiến trường, giữa cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc! Người này hy sinh lại có đồng đội khác về bổ sung.

Ở miền Trung, có một thông lệ, nếu bị máy bay tấn công thì chỉ được phép đánh trả từ sau 4 giờ chiều để tránh lộ mục tiêu (vì giặc Mỹ có thể kiểm soát cả từ trên không và từ ngoài khơi xa). Nhưng sáng 10 tháng 10 năm 1968, từ 8 giờ, hàng đàn máy bay đã tấn công vào phà Bến Thuỷ, hòng cắt đứt đường tiếp vận của ta vào Nam. Nhiều tốp F4H lần lượt lao xuống cắt bom vào trận địa. Bom đạn nổ rầm trời, tai điếc đặc, khói lửa mù mịt, trận địa khét lẹt mùi thuốc súng… Dân xã Hưng Thuỷ nhìn máy bay bổ nhào xuống trận địa đã khóc thương: ác liệt thế này chắc các chú bộ đội chết hết! Đại đội thương vong nhiều nhưng vẫn kiên quyết đánh trả. Không một ai rời bỏ vị trí, các ụ pháo vẫn xoay nòng hướng trực diện vào mục tiêu. Khẩu đội trưởng phất cờ, hô to: “Còn sống còn dựng màn đạn. Bắn!”. Cả đại đội dựng lưới lửa, hai chiếc máy bay vừa bổ nhào đã trúng đạn, bốc cháy, lao ra biển.

Những chiếc còn lại điên cuồng vòng lại. Lần này, chúng cắt bom chụp xuống trận địa. Đó là loại bom phát quang, chỉ nổ khi cách mặt đất 4-5m; cây cối trúng mảnh bom đổ rạp như ngả rạ. Bỗng chớp lòe! Ầm! Một quả bom nổ ngay sát khẩu đội. Mảnh bom phạt ngang thân Ngọc chỉ để lại nửa thân dưới, ruột gan lòng thòng, máu me bê bết… Tấn Mỹ lao sang ôm lấy xác bạn, gào lên:

- Ngọc, mày chết thật rồi sao?

Thế là cái thằng Ngọc, học cùng trường khi ở rừng Đại Từ, bị ngã nước, được bạn bè gán thêm cái biệt danh “ghẻ”; cái thằng Ngọc “tốt”, trắng trẻo đẹp trai, ăn nói dẻo mồm làm xiêu lòng bao cô gái dọc đường hành quân; cái thằng bạn không ỷ mình là “con ông cháu cha”, vẫn nằng nặc xin đi chiến đấu ngày nào, đã mãi đi xa! Ba anh em đã mất một, biết nói sao đây với ba mẹ Ngọc!? Vừa khóc vừa ôm xác bạn ra hố bom cũ còn đọng nước mưa tạt lên rửa sạch vết máu dính đất cát, Mỹ run lên: “Tao sẽ trả thù cho mày, Ngọc ơi!”. Ngay chiều hôm ấy, đơn vị tổ chức chôn cất các liệt sĩ tại nghĩa trang xã Hưng Dũng. Hận thù trào dâng! Ngày sau, đơn vị tiếp tục hành quân vào Hà Tĩnh và đóng quân tại quê hương cụ Nguyễn Du.

Ba tuần sau, đúng ngày 1 tháng 11 năm 1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Ai cũng tiếc thương cho Ngọc. Số phận nó khổ quá! Giá mà chờ thêm ít ngày nữa… Nhưng ai mà nói trước được điều gì, vì đó là chiến tranh! Sau ngày ngừng bắn, hai đứa qua nghĩa trang, gói một nắm đất lấy từ mộ Ngọc cho vào ba-lô lên tầu ra Bắc và tìm đến gia đình Ngọc ở khu tập thể Nam Đồng. Cô Trần Thị Ngọ, mẹ Ngọc, đã ngất đi khi nhận được nắm đất. Chú Nguyễn Chí Điềm, một người lính vào sinh ra tử, nguyên Tư lệnh Bộ đội Đặc công ôm lấy Hoành và Mỹ, nói trong nước mắt: “Ráng chiến đấu trả thù cho Ngọc, các con ạ!”

Cuối 1968, với những gì đã hứa với Ngọc, Mỹ và Hoành lại lên đường vào chiến trường đánh giặc cho đến ngày toàn thắng. Tấn Mỹ vinh dự trở thành lính của chú Điềm - trinh sát đặc công Z27, sư đoàn 5 và hai lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”… Nhớ về bạn mình, anh lẩm bẩm: “Quên làm sao được cái ngày nó hy sinh; đó chính là Ngày giải phóng Thủ đô”. Còn chúng tôi, tuy đã bước qua cái tuổi ngũ tuần nhưng không thể nào quên được những đứa bạn thuở thiếu thời. Chúng tôi luôn tự hào về thầy, cô và mái trường thân yêu, nơi đã đào tạo nên những học sinh như Nguyễn Văn Ngọc - dám hy sinh tuổi xuân của mình vì Độc lập, Tự do của Tổ quốc!

Ngày tìm thấy bạn, 2-9-2002.
A.T

23 - Những bức thư cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Tô Văn Hoành K5, SRTKL2: 96-101

Những bức thư cuối cùng
của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc


TÔ VĂN HOÀNH * (khóa 5) sưu tầm


Xin phép được dẫn dắt bạn đọc theo trình tự của những lá thư:
Quy Nhơn, ngày 28 tháng 3 năm 2003

K. thân,

Vừa từ Hà Nội về, mình gửi thư cho bạn ngay. Ra Hà Nội được hai ngày là Hoành lại thăm bác Ngọ, mẹ Ngọc. Gặp mình, bác khóc nhiều. Sau đó bác kể, đã nhận được tiền của thầy trò trong Nam đóng góp gửi ra nhân dịp Tết Quý Mùi. Bác nhờ mình chuyển lời thăm hỏi và lời cảm ơn chân thành đến thầy cô và các bạn. Bác đã đọc cuốn sách bạn gửi tặng. Theo yêu cầu của Hoành, bác đã lục tìm được ba lá thư cuối và tấm ảnh Ngọc tặng mình, (sau ngày Ngọc hy sinh, mình đã trao lại cho gia đình). Phía sau ảnh còn lưu bút tích, ghi ngày hy sinh của Ngọc.

Những ngày tháng cùng chiến đấu, nhất là những ngày ở thành phố Vinh, ba đứa - Ngọc, Tấn Mỹ và mình - đã không làm hổ thẹn tên tuổi trường Nguyễn Văn Trỗi; không hổ thẹn với sự giáo dục của thầy cô. Ba đứa mình đã chiến đấu thật anh dũng, không sợ hy sinh. Cho đến giờ, mình cũng không thể hiểu được vì sao, tụi mình lại dũng cảm đến thế!? Máy bay Mỹ điên cuồng tấn công, còn pháo phòng không của ta thi đánh trả rất quyết liệt. Nhất là ngày 6 tháng 6 năm 1968, bom đạn Mỹ gây thương vong gần hết đơn vi. Cả trận địa có sáu khẩu đội thì chỉ còn lại mỗi khẩu đội của mình. Tưởng chừng cả ba thằng đều chết, nhưng thật may, không đứa nào dính đạn.

Định viết về những ngày chiến đấu ác liệt ấy nhưng qua những lá thư của Ngọc, chắc các bạn sẽ hiểu phần nào...

Thân ái!

Tô Văn Hoành,

17 Trần Độc, phường Trần Phú, thành phố Quy Nhơn.

* * *

VÀ NHỮNG BỨC THƯ GỬI VỀ TỪ MẶT TRẬN

Mẹ kính yêu!

Chúng con vừa nhận được lệnh trên. Xe pháo đã chuẩn bị xong xuôi và ngay ngày hôm nay sẽ lên đường. Có lẽ khi bức thư này tới tay mẹ thì con đang trên đường hành quân vào khu Bốn chiến đấu và có khả năng sẽ vào sâu hơn. Vì rất gấp nên con không gặp mẹ được, chỉ còn vài tiếng nữa thôi, vậy con gửi lá thư này tới mẹ để tạm biệt, cầu mong mẹ khỏe. Có lẽ phải đến khi đất nước thống nhất, hòa bình thì mẹ con ta mới được gặp nhau.

Con xin hứa với mẹ sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao và tu dưỡng tốt để ba mẹ yên tâm. Ba mẹ ở lại khỏe là con mừng. Khi vào đến chiến trường con sẽ báo tin về.

Con của mẹ – Ngọc

* * *

Vinh – ngày 12 tháng 6 năm 1968

Mẹ kính yêu!

Con viết cho mẹ lá thư này sau một ngày chiến đấu ác liệt, đánh trả máy bay Mỹ. Mẹ vẫn khỏe chứ ạ? Con thì vẫn khỏe, không ốm đau gì, chỉ có đen và gầy đi chút ít vì phải chiến đấu và công tác khá vất vả.

Mẹ ạ, đời lính pháo bọn con kể cũng vui! Mới ngày nào còn nằm giữa thủ đô, thì nay lại đang ở trên đất lửa Bến Thuỷ, thành phố Vinh. Rời Hà Nội ngày 23 tháng 5, sau ba hôm, bọn con đã ở đất Đô Lương, cách nhà bà ngoại có bảy cây số thôi. Bọn con hành quân cả ngày lẫn đêm, nhiều đứa không ngủ được vì xa Hà Nội, vì buồn. Riêng con thì cứ lăn ra sàn xe mà ngủ, mặc cho xích xe cứ nghiến đường ầm ầm, vì vậy cũng không mệt lắm.

Đến ngày 30 tháng 5, bọn con đến đất Nam Đàn và ở lại đây bảy ngày. Mẹ thử tưởng tượng xem bọn con đã làm gì ở đây nhé! Bốn ngày đầu máy bay Mỹ đảo liên tục trên đầu nhưng không phát hiện được trận địa chúng con.

Đến chiều ngày 6 tháng 6, bọn chúng kéo đến đủ các loại máy bay phản lực tối tân: A-4, A-6, F-4H... Trận địa chúng con nằm trên một quả đồi mà chu vi khoảng 300m, chỉ bằng một phần ba quả đồi Rạng quê ta. Suốt từ 12 giờ trưa cho tới 6 giờ chiều, phản lực Mỹ bu đến đen kịt, đánh thẳng bốn đợt vào trận địa. Mỗi đợt kéo dài hơn nửa tiếng. Mẹ khó có thể hình dung nổi cảnh chiến trường lúc này, hàng chục máy bay gầm rít xé không khí, bắn rốc-két và đạn 20 ly xuống trận địa. Từ khi là lính pháo đến giờ, chưa bao giờ con phải chịu một trận ác liệt như thế. Ngay cả các đồng chí cán bộ cũng phải thốt lên: kể từ khi chiến tranh phá hoại xảy ra, đơn vị đã đánh hàng trăm trận nhưng chưa có trận nào ác liệt như thế. Bom tấn, bom tạ, bom bi nổ liên tục, phải đến vài chục tấn bom đạn đã rải xuống đây; đất quanh trận địa bị bom đạn cày xới nát nhừ, đỏ quạch. Tiếng đạn bom đinh tai, nhức óc, khói lửa trùm kín trận địa; mắt đứa nào cũng cay xè. Nhưng chúng con đã đánh trả quyết liệt, không một ai rời bỏ vị trí chiến đấu của mình. Con đã đứng vững vàng trên vị trí quan sát kịp thời, bắt được tọa độ mục tiêu, báo cáo cho đại đội để đánh trả. Mà mẹ có biết không, thật là lạ vì từ nhỏ đến giờ, con chỉ là một cậu bé học sinh lười học ham chơi, thế mà giờ đây con đã rắn rỏi, đứng trên vị trí của một người lính. Con cảm thấy rất tự hào vì đã thấy mình lớn lên nhiều trong khói lửa chiến tranh. Sự thật là thế đó, mẹ ạ, những người lính chúng con chiến đấu rất dũng cảm và luôn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Chiến trường ác liệt là thế mà nòng pháo của chúng con vẫn vươn cao, nhằm thẳng vào lũ cướp trời mà bắn, bắn rất mãnh liệt. Chính vì bắn mãnh liệt như vậy mà bom đạn không làm gì nổi chúng con. Bom tấn, bom bi, rốc-két của chúng đều thả trượt hết ra ngoài. Khẩu đội bạn không xa cũng hứng bom đạn không kém gì bên con; có quả bom nổ sát hầm, làm pháo tung lên; có đồng chí hy sinh, có đồng chí bị thương cụt cả tay nhưng kiên quyết không rời trận địa. Có những quả nổ cách chúng con chỉ 10, 15m, lửa khói trùm kín trận địa, đất đá bay rào rào, cả những mảnh bom bay chiu chíu ngang đầu. Có những đứa bị mảnh bom hay bi sắt văng vào mũ sắt lại nẩy ra, không việc gì hoặc chỉ xây sát tí chút. Ba đứa con không bị sao, sau này cứ đùa: “Bọn mình đã được tôi luyện trong lò bát quái nên bom đạn địch không làm gì nổi”. Hôm đó, bọn con đã bắn gần hết cơ số đạn mang theo.

Vài ngày sau, mổi lần ngủ say lại như nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay và tiếng nổ ầm ầm của bom đạn. Con chỉ hơi bị tức ngực, do sức ép của bom và ù tai mất hai ngày, do tiếng nổ. Thật là kinh khủng! Hôm sau chúng con hành quân về Bến Thuỷ. Thành phố Vinh giờ tan hoang lắm. Suốt ngày không lúc nào ngớt tiếng máy bay; chúng đánh không có quy luật nào cả. Còn chúng con, ban ngày thì chiến đấu căng thẳng, đêm thì ngủ hầm.. Cái nắng và cái gió ở đây thật ghê người. Nóng lắm, mẹ ạ. Ngồi trực chiến mà mồ hôi chảy ròng ròng. Nắng như muốn làm khô héo hết cây cỏ và con người ở đây. Nhưng chúng con vẫn sống, vẫn chiến đấu và vẫn yêu đời.

Sơ sơ vài dòng cho mẹ biết tin con của mẹ vẫn sống.

Nguyễn Văn Ngọc,

Hòm thư của con: HT 36266-OK.

* * *

 

Vinh – ngày 13 tháng 8 năm 1968

Mẹ kính yêu!

Đã gần ba tháng nay con không được thư mẹ. Con đã viết cho mẹ hai lá rồi, không biết mẹ có nhận được chưa? Sáng nay mưa lớn, con ngồi hầm tranh thủ biên thư cho mẹ, không mẹ lại mong.

Mẹ vẫn khỏe chứ ạ? Còn con thì vẫn khỏe và không sao cả. Bọn con vẫn bảo vệ Bến Thuỷ và Thành Vinh. Mẹ ạ, cuộc chiến đấu ở trong này căng thẳng lắm. Quân khu Bốn là tuyến lửa mà! Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra từng phút, từng giờ, không ngày nào, đêm nào là không có tiếng bom đạn của giặc Mỹ reo rắc xuống mảnh đất này. Bọn con chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Không lúc nào vắng bóng máy bay Mỹ; có trận chúng bay vào “như ruồi” đến hai, ba chục chiếc, đánh vào mục tiêu chúng con bảo vệ. Nhiều đồng đội của chúng con đã ngã xuống trên mảnh đất Xô-viết rực lửa cách mạng này. Có những người bạn vừa mới gặp, vừa mới tán dóc với nhau nhưng chỉ lát sau, trong đợt đánh trả máy bay Mỹ đã ngã xuống. Thật là đau xót và căm giận! Mà tuổi đời của họ còn trẻ lắm, mới mười tám, đôi mươi. Còn con thì không sao, mẹ đừng lo. Kể từ ngày vào đây, bọn con đã đánh đến 60 trận rồi, có những ngày đánh đến bốn, năm đợt. Mà mẹ thủ tưởng tượng xem, bao nhiêu bom đạn đã nhằm xuống trận địa bọn con; còn cánh pháo thủ trẻ bọn con thì đánh thật là hăng nên bom đạn không làm sao giết nổi. À, mẹ có biết không, con đã trở thành pháo thủ từ lâu rồi nhé. Mỗi trận địa chúng con chỉ triển khai trong vài ba ngày, đánh vài trận, xong phải cơ động đi trận địa khác. Di chuyển luôn, vất vả lắm, nhưng chính trong bom đạn mà con đã lớn lên rất nhiều. Có những lần, mảnh bom hay mảnh rốc-két găm vào ghế, mảnh đạn văng vào hầm nhưng bọn con vẫn an toàn. Có những lần bom bi, rốc-két nổ chỉ cách hai, ba mét, nhờ công sự tốt mà không ai dính đạn. Khẩu đội con chiến đấu liên tục mà chưa ai bị thương. Bọn con vẫn thực hiện đúng khẩu hiệu của Nguyễn Viết Xuân: “Hãy nhằm thẳng quân thù! Bắn!”. Cánh pháo thủ trẻ bọn con trong bom đạn vẫn bình tĩnh và dũng cảm lắm, mẹ ạ!

Sơ sơ vài dòng, kẻo mẹ lại mong.

Mẹ gửi cho con một ít tiền mẹ nhé, nhưng không gửi được thì thôi. Nếu bưu điện nhận chuyển bưu phẩm thì mẹ xem có còn bộ quần áo nào của anh Chúng thì gửi cho con. Ở đây cơ động nhiều, quần áo rách hết cả, mẹ ạ.

Con nhớ mẹ nhiều. Hôn mẹ.

T.V.H

 


*  - Bạn chiến đấu của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc. Hiện sinh sống tại Quy Nhơn.


24 - Đọc nhật kí chiến trường của anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung - (Minh Đức) - SRTKL2: 102-106

Đọc nhật ký chiến trường
của anh hùng liệt sĩ
HUỲNH KIM TRUNG


MINH ĐỨC thực hiện


Đúng 29 năm, sau ngày hy sinh của Huỳnh Kim Trung, chúng tôi - những bạn học cách đây 36 năm, tại trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi - đã đến thăm gia đình và thắp hương cho bạn. Như những đứa con đi xa nay mới trở về, chúng tôi ùa vào phòng khách. Trân trọng giữa phòng là bàn thờ của gia đình, có góc dành riêng cho Trung, trên đó có Bảng vàng danh dự và quyết định số 110/LCT, ký ngày 31 tháng 12 năm 1973 của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho liệt sĩ Huỳnh Kim Trung. Chúng tôi xếp hàng ngang trước bàn thờ có di ảnh của Trung và cúi đầu mặc niệm...

Kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương - ba của Trung, nguyên là Tham mưu trưởng Quân khu 7 hồi kháng chiến 9 năm, nay đã ngoài 80 nhưng có trí nhớ tuyệt vời. Những kỷ niệm về hai cuộc kháng chiến, về những năm tháng cùng công tác với cha mẹ chúng tôi và về Huỳnh Kim Trung vẫn như in trong tâm trí bác. Bác hỏi thăm công việc từng đứa. Riêng với bạn Nguyễn Thiện Nhân, bác ân cần dặn: “Cháu đảm nhận trọng trách với thành phố này. Ráng phải làm thật tốt để khỏi phụ lòng những người đã hy sinh.” Chúng tôi như bầy con quây quần bên ba mẹ, ôn lại những kỷ niệm về Trung.

Đã gần 30 năm, Trung xa chúng tôi. Thời gian trôi qua nhanh quá, vạn vật có nhiều thay đổi nhưng tình cảm của lũ bạn học ngày nào vẫn thế; Trung như vẫn sống trong chúng tôi. Khi còn ở trường, chúng tôi có một thói quen ghi nhật ký. Vì vậy, khi ra mặt trận, Trung vẫn duy trì thói quen đó và bạn đã để lại cho gia đình và bạn bè những kỷ niệm vô giá. Chúng tôi cùng nhau giở lại những trang nhật ký chiến trường của Trung. Cuốn nhật ký đã nhầu nát vì thời gian và vì những ngày cùng Trung ở tuyến lửa ác liệt Quảng Bình.

Khi còn ở trường, Trung có chân trong Ban biên tập báo tường đại đội; cậu có năng khiếu vẽ, nên tờ bìa của cuốn nhật ký được trang trí rất điệu nghệ: một cành thông non mọc ngay sườn núi sát biển, đang phải chống chọi với phong ba bão táp; xa xa, một tương lai huy hoàng đang đến, cặp hải âu tung cánh trong bình minh đang lên. Như một truyền thống của thế hệ chúng tôi, Trung không quên viết kèm theo hai bài thơ trên trang bìa như một lẽ sống:

Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vào đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn sung sướng
Vấp ngã – sợ gì, rèn luyện ắt thành công!

Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy

Đầu 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền đã vào giai đoạn ác liệt nhất. Đang học năm thứ 2 Đại học Cảnh sát, do yêu cầu của chiến trường, để đảm bảo giao thông thông suốt cho con đường huyết mạch chi viện cho tiền tuyến, Trung đã xung phong vào thực tập cảnh sát giao thông tại một trọng điểm: Bến phà sông Gianh!

Trung đã ghi lại trong nhật ký cuộc sống gian nan vất vả, suốt ngày đêm chịu đựng những trận bom rải thảm của máy bay B52, nhưng cuộc sống của quân dân Quảng Bình vẫn đầy lạc quan. Thế mới biết, cuộc chiến nào cũng ác liệt và trong chiến tranh, con người yêu cuộc sống biết nhường nào! Ngoài những giờ phút căng thẳng đương đầu với bom đạn, đứng điều độ các chuyến xe lên xuống phà, ra Bắc vào Nam; Trung rất nhớ nhà, nhớ ba mẹ, nhớ phố phường Hà Nội, nhớ mái trường thân yêu, nhớ cả những buổi trốn học vào rạp xem phim. Trung thèm có một chiếc radio để nghe ca nhạc và tin tức hay một chiếc ghi-ta để cùng cất “tiếng hát át tiếng bom”. Trung ghi lại cảm xúc cả những khi nhận được thư của gia đình và bạn bè, trong đó có nhắc đến bạn Mạnh Chiến, bạn Trường… (Khi đọc đến đây, chúng tôi nhìn nhau: “Khóa ta có hai Trường. Trung nhắc đến Kháng hay Công?”, thì ông bạn Nguyễn Công Trường giơ tay xin nhận đó chính là mình!).

Bạn bè khóa 5 quây quần bên ba má liệt sĩ Huỳnh Kim Trung, 19-08-2001

Bạn bè khóa 5 quây quần bên ba má liệt sĩ Huỳnh Kim Trung, 19-08-2001

Trong nhật ký, Trung nhắc cả đến một cô bạn gái tên H. (Vậy là Hà, Hoa hay Hạnh?… mà có phải là Hạnh em gái của C. hay không? Hồi đó, hai anh em quý nhau lắm, hay trò chuyện tâm sự với nhau, hình như còn viết cả thư cho nhau!). Giá như Trung của chúng ta vượt qua được những năm tháng ác liệt của chiến tranh, ngày trở về, biết đâu Trung sẽ xây dựng với cô bạn H.. Rồi 30 năm sau, hai bạn cũng có con trai, con gái lớn như con của chúng tôi bây giờ…

* * *

Thành tích chiến đấu của Trung được ghi trong hồ sơ lưu tại Phòng thi đua X15 (Bộ Công an):

16-4-1972: Giải phóng đoàn xe từ phiá Nam ra bị tắc trong khi máy bay Mỹ đang đánh phá.

29-4-1972: Dập tắt lửa trên xe chở đạn bị máy bay địch bắn phá, đưa lái xe bị thương và cõng 1 công nhân bến phà đi cấp cứu.

12-6-1972: Vận động bà con cứu xe hàng của Đoàn 559 đang trên phà bị máy bay Mỹ bắn chìm...

Những trang nhật ký của bạn tôi dừng ở ngày 6 tháng 8 năm 1972. Những dòng cuối cùng được viết thật cảm động:

Để bảo vệ cuộc sống hoà bình, hạnh phúc cho mọi người lương thiện, nếu phải ngã xuống thì cũng không có điều gì phải ân hận. Tổ quốc sẽ mãi ghi công, dân tộc sẽ đời đời ghi nhớ!...

Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu từ thuở bé được sinh ra và lớn lên, để khoác súng lên đường đi khắp mọi miền đất nước... Chúng con sẽ thực hiện lời Bác đã dặn:”Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi!”. Quét sạch rồi, con sẽ về phụng sự má, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác.

* * *

 Hai tuần sau, đúng vào ngày 20 tháng 8 năm 1972, trong khi máy bay Mỹ đang đánh phá, Trung đã cùng dân quân lao vào cứu kho đạn pháo 37 và 85 ly. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, Trung bị thương rất nặng. Được đồng đội cấp cứu. Biết không thể sống được, Trung đã yêu cầu cứu người khác nhẹ hơn. Và Huỳnh Kim Trung đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 20 tuổi.

Chỉ có thế hệ trẻ Việt Nam chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc mới “coi cái chết nhẹ như lông hồng”, mới có những hành động phi thường đến như thế! Huỳnh Kim Trung của chúng tôi đã góp phần tô đẹp thêm truyền thống của trường Thiếu sinh quân, mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi!

Tháng 10-2001
M.Đ

 

25 - Vì chúng tôi là lính Trỗi - Phạm Việt Cường K3, SRTKL2: 107-109

 
Vì chúng tôi là lính Trỗi


PHẠM VIỆT CƯỜNG*
Học sinh khóa 3


Các bạn lính Trỗi thân mến!

Có ai qua Dung Quất, Quảng Ngãi thì nhớ đến thăm Ngô Ngời. Bạn đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Bình Đông. Cứ đến dốc Sỏi, đi theo hướng Dung Quất khoảng 4-5km, sẽ gặp chiếc cầu đầu tiên thì dừng lại, hỏi nhà chú Ngô Câu. Chỗ này ngày đưa hài cốt của Ngời về chưa có cầu, bọn mình phải vượt vịnh bằng hai chiếc mủng (loại thuyền nan hình tròn).

Mọi việc như Võ Quốc Tấn đã kể. Có điều, khi về nhà chú, mình thật xúc động. Cho dù đã được chuẩn bị tư tưởng từ trước nhưng khi mình và anh Ngô Sáng vào đến sân thì cả nhà đều khóc, khóc ầm lên, nhất là má Ngời. Không ai nghĩ mọi việc lại sờ sờ ra trước mắt như thế! Sau khi chuẩn bị xong xuôi, gia đình cho mở bọc hài cốt và xếp lại theo thứ tự để cho vào quách. Mà lạ nhất là lại thiếu mất một đốt ngón tay. Anh em mình vét đi vét lại bọc tăng đựng hài cốt mà không tìm thấy. Lo quá! Khi mọi người đang buồn rầu bởi dù chỉ có một đốt ngón tay vẫn làm trong lòng day dứt, niềm vui không trọn vẹn, thì ba Ngời nói: “Con nó hy sinh ở Campuchia, lại được đồng đội quy tập về biên giới Tây-Nam, nay hài cốt được bạn bè tìm kiếm đưa về quê hương. Thế là quý hóa lắm rồi! Mà cái phúc này không phải gia đình nào cũng có!”. Sau khi ông nói, ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhàng và lo nốt phần việc còn lại.

Anh chị em khóa 3 trước ngày chia tay nhà trường trở về nước nhận nhiệm vụ mới, hè 1968

Anh chị em khóa 3 trước ngày chia tay nhà trường trở về nước
nhận nhiệm vụ mới, hè 1968

Sáng hôm sau, gia đình tổ chức tang lễ đúng theo truyền thống dân tộc. Có bàn thờ và di ảnh liệt sĩ đặt trang trọng ở giữa, hương khói nghi ngút, gia dình mời cả ban nhạc, kèn trống... Đại diện các cơ quan, đoàn thể của huyện, xã cùng bà con mang vòng hoa đến viếng. Sau lễ truy điệu, mọi người cùng tiễn đưa Ngô Ngời về nghĩa trang liệt sĩ.

Câu chuyện bạn bè, đồng đội trường Trỗi đã tìm kiếm và đưa hài cốt Ngô Ngời về với gia đình, với quê hương làm cho cán bộ, nhân dân ở địa phương hết sức cảm động. Ai cũng thắc mắc vì sao giữa giông tố thị trường này vẫn có những tình cảm đẹp như thế? Riêng mình, mình chỉ nói với họ ngắn gọn thế này: “Chúng tôi sống tình nghĩa như vậy vì chúng tôi là lính Trỗi!”

Ngày ở trường, mình không có năng khiếu về môn Văn nên có gì nhờ các bạn biên tập lại hộ!

Chúc các bạn khỏe và hạnh phúc! Nhớ nhau mãi nhé!

P.V.C



* Người bạn cuối cùng xách theo chiếc va-li đựng hài cốt của liệt sĩ Ngô Ngời đang đứng tần ngần ở bãi biển (xem “Sinh ra trong khói lửa” trang 65). Anh đã gửi cho Ban biên tập thư cảm ơn của chú Ngô Câu - cha liệt sĩ Ngô Ngời, kèm theo di ảnh của liệt sĩ. Hiện anh sống tại 261 Trần Phú, Đà Nẵng (Điện thoại: 0511-830055).


26 - Được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà - Tạ Việt Chiến K3, SRTKL2: 110-117

Được kết nạp Đảng
mới viết thư về nhà


TẠ VIỆT CHIẾN * (khóa 3) sưu tầm


Lê Minh Tân là học sinh khóa 3 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi tốt nghiệp, Tân vào học Bách khoa, nhập ngũ rồi đi chiến trường. Bạn đã anh dũng hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại mặt trận Quảng Nam. Thấm thoắt thế mà đã ba chục năm!

Cất công tìm kiếm gia đình anh, chúng tôi đã gặp và nhận được những thông tin vô cùng quý báu. Trên tay tôi là tấm ảnh Lê Minh Tân với khuôn mặt đẹp trai, rạng rỡ, khoác trên mình bộ quân phục và anh đang đưa tay lên vành mũ trong động tác chào đúng điều lệnh. Gia đình còn giữ được tấm Thẻ đoàn viên được cấp tại chi đoàn Lớp chế tạo máy (Đoàn trường Đại học Bách khoa) ngày 1 tháng 7 năm 1970.

Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân
Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân
Thẻ Đoàn viên của liệt sĩ Lê Minh Tân


Dưới đây là lá thư viết từ Quảng Nam - lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng từ mặt trận gửi về gia đình của Lê Minh Tân:

Quảng Nam, ngày 26 tháng 3 năm 1974

Ba má vô cùng kính mến!

Nếu con vẫn cứ tiếp tục im lặng thì con sẽ là thằng con bất hiếu của ba má. Tinh thần của con chưa bao giờ phải chịu đựng trong trạng thái căng thẳng, tự mình phải nén lòng mình đến mức thế này. Hầu như từ Nghệ An vào đến đây con chưa nhận được thư nào của ba, còn thư và quà của gia đình gửi vào con đều nhận đầy đủ và nguyên vẹn. Con đã gặp chú Bân và nghe chú kể lại rất tỉ mỉ tình hình của ba má và gia đình ta ngoài ấy. Cũng không phải là con bận không có thì giờ để gửi cho gia đình một vài lá thư nhờ người ra Bắc bỏ hộ. Cứ mỗi lần nhận được thư nhà là một lần trong đầu con diễn ra sự xung đột tình cảm mãnh liệt và cuối cùng cái ý nghĩ chưa nên viết đã thắng. Mỗi lần như vậy con lại khóc thầm một mình ngoài rừng và càng nung nấu quyết tâm đi cho đến cái đích cuối cùng. Chính tuy ở khác đơn vị (cùng D nhưng khác C) nhưng nó rất hiểu tâm trạng của con và con cũng yêu cầu nó đừng nói gì về con trong những thư gửi về gia đình. Cho đến ngày hôm nay, con mới đến được cái đích đó: hôm qua, chi bộ đã làm lễ kết nạp con vào Đảng Lao động Việt Nam quang vinh. Con nghĩ, chỉ đến ngày hôm nay thì lá thư gửi cho ba má mới có giá trị và con mới đủ can đảm để nói cho ba má biết nguyên nhận tại sao con lại im hơi lặng tiếng lâu như vậy!

Như ba má đã biết, con vào đây từ tháng 3 năm ngoái. Suốt thời gian ở đơn vị huấn luyện cũng như hành quân đi “B” con đều quyết tâm rèn luyện mình thực tốt trong tư tưởng cũng như chuyên môn. Con được cả đơn vị tin tưởng, yêu mến. Chi bộ cho con làm lí lịch kết nạp vào cuối tháng. Đùng một cái, con phạm khuyết điểm không kìm được tính nóng giận bất tử đã đánh một đồng đội chỉ vì nguyên nhân rất vô cớ: cãi nhau trong công tác kĩ thuật. Thế là bao nhiêu công lao xây đắp từ trước đến giờ sụp đổ tan tành. Hội đồng quân nhân rồi chi đoàn kiểm điểm về hành vi vô đạo đức của con. Con buồn và chán nản không để đâu cho hết. Có như vậy mới càng thấm thía lời ba dặn hồi còn ở nhà: “Phải suy nghĩ kĩ trước khi làm bất cứ việc gì!”. Con đã không làm đúng lời hứa với gia đình trước khi lên đường làm nhiệm vụ, con đã đi ngược lại đường mà gia đình đang đi, con không xứng đáng là con của ba má.

Nhờ có chi bộ, Đảng uỷ, tiểu đoàn hết lòng giúp đỡ và anh em cũng nhìn thấy mặt tốt của con trước kia nên con kiên trì làm lại từ đầu. Dầu có khó khăn hơn trước rất nhiều, con vẫn phải làm vì con chỉ có một con đường là đi chung với ba má. Đến nay tròn một năm, một năm đầy thử thách với sự đi lên của con, nay con đã vinh dự cùng ba má gánh vác nhiệm vụ quang vinh của Đảng giao phó. Con biết đây mới chỉ là cái mốc đầu tiên, còn bản thân phải vươn lên nhiều hơn nữa mới đáp ứng đươc yêu cầu của cách mạng. Dù sao thì đây cũng là một cái mốc quan trọng phải không ba? Bây giờ con mới thấy lòng mình không bị cắn rứt vì những bức thư đầy tình thương mà ba má đã giành cho con. Bây giờ con mới thấy mình thực sự là người có ích cho gia đình, cho Tổ quốc.

Nhận được thư của ba viết từ trại an dưỡng (tháng 12 năm 1973) con thương ba vô cùng. Thế là tai qua nạn khỏi, ba của chúng con vẫn còn mạnh khỏe chờ ngày sum họp như ước mong má nói trong thư gửi cho con trước đây. Đến ngày con về không biết tóc của ba má bạc nhiều không? Nếp nhăn trên trán của ba má có lẽ dầy thêm vì lo nghĩ cho tụi con quá nhiều? Nhiều đêm mùa mưa trong này, nằm lạnh không ngủ được lại nghĩ mà thương cho ba má và các em ngoài ấy nhiều không để đâu cho hết. Làm cho ba má phải lo và ba mới mổ dậy phải ngồi viết thư dài cho con cũng là lỗi tại con. Ba má có tha lỗi cho con không? Con luôn nguyện cầu cho ba má và các em luôn mạnh khỏe thì con ở chiến trường bao lâu cũng được.

Về phần con, từ lúc mới vào đây cho tới giờ cũng bị vài ba cơn “sốt rét nghĩa vụ”, mỗi lần kéo dài khoảng vài ngày. Tuy vậy, người con vẫn cứng cáp và thấy khỏe hơn trước rất nhiều. Sinh hoạt chuyển môi trường mà con không bị gầy và xanh đi chút nào. Nói vậy có khi ba má không tin nhưng tiếc là không có máy ảnh chụp gửi ra cho ba má vài cái làm kỉ niệm. Đơn vị từ lúc vào đến giờ chỉ làm công tác xây dựng và huấn luyện bổ sung nên mang tiếng là ở chiến trường mà chưa lần nào giáp mặt lính ngụy. Chúng con xây dựng chỗ ở đàng hoàng, có nhà xe, nhà ở, nhà bếp, nhà ăn, hội trường... vv. Dinh cơ to lớn và quy mô hơn bất cứ một đơn vị cơ sở nào tương đương cấp đại đội ngoài Bắc. Con cũng là một tay đi rừng lấy gỗ, lấy nứa, lấy lá vào loại khá (tất nhiên so với anh em thì chỉ là học trò!). Sống với anh em bộ đội xuất thân từ nông thôn mới thấy nhiều đức tính tốt đẹp và tình cảm chân thật, sâu nặng của họ. Con trưởng thành trong phấn đấu và từng công việc là nhờ anh em đấy.

Từ tháng 8 năm 1973 đến giờ bộ đội toàn huấn luyện bổ sung và qua mấy lần bắn đạn thật đã chứng minh anh em ngày càng tinh thông trong khoa học và trình độ kĩ, chiến thuật. Riêng lái xe thì tay lái khá lắm vì đã qua hàng nghìn cây số đường Trường Sơn, đã xử trí nhiều tình huống phức tạp hơn ở nhà trường. Con được phân công vào tổ giáo viên kĩ thuật, chuyên soạn bài và đi giảng ở các đơn vị. Không biết nghề sư phạm của má có giống như nghề của con đang làm bây giờ không? Tụi con ở đây tăng gia được nhiều lợn gà và rau xanh nên đơn vị ăn uống không đến nỗi nào. Tết vừa rồi trên không cấp gì nhưng tụi con mỗi đứa vẫn có hai bánh chưng, kẹo tự nấu và thịt gà. Anh em đón Tết có chuẩn bị nên vui ra phết (chỉ không có tiếng pháo thôi), làm đủ các trò chơi và đi chúc Tết nhau. Đầy đủ lệ bộ! Ngoài khoản chăn nuôi thì khoản săn bắn cũng là một nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng. Lợn rừng, nai, hoẵng và cả hổ, voi nữa thỉnh thoảng bắn được. (Xin nói thêm, con cũng là một xạ thủ xông xáo và có uy tín của đơn vị đấy). Thuốc lá thì mỗi anh cũng có 10 điếu mỗi tháng nhưng chủ yếu là thuốc trong này (Cotab, Rubi Queen...…vv) do anh em đi công tác đồng bằng mua về. Nếu có điều kiện ba gửi cho con ít thuốc lá ngoài ấy. Nếu có Tam Đảo, Điện Biên... thì được coi như vàng vì rằng sinh hoạt bộ đội, chắc ba thừa hiểu, ngoài thuốc lá thì không còn gì “quần chúng và ấm cúng” hơn. Con không nghiện vì nếu nghiện thì đã nhảy sang hút thuốc lào từ lâu rồi, có thì hút còn không có thì thôi, chứ con không thể cảm tình được với cái điếu cày hôi mù.

Hồi tháng 5 năm 1973, con có được xuống đồng bằng ở vùng giáp ranh giữa ta và địch – chợ Bình Sơn, Quảng Ngãi – để mua hàng. Con cũng có ý dò hỏi mọi người về tình hình xã mình (người ta gọi là xóm Giếng, thôn 2, không biết có phải?) nhưng không tìm được ai trong bà con của mình cả. Con chỉ được ở một ngày nên không có thời gian thăm hỏi nhiều. Vừa rồi có một chú ở Quân giải phóng, cũng dân Điện Hồng, tên là Bạn - nói có biết bác Tại nhà mình. Theo như chú Bạn thì bác Tại vẫn còn sống và đã vào Đà Nẵng làm ăn. Xuống giáp ranh thấy cảnh Bình Sơn tiêu điều, chợ có nhiều hàng nhưng nhỏ tẹo và họp mỗi ngày chỉ khoảng 2 tiếng (vì sợ địch pháo kích). Cái đồng hồ của ba cho con bị đứng, đem xuống dưới đó không có hiệu chữa nên con gửi thằng Phủ (cùng học điện ảnh với Thuấn đang công tác ở đó) đem chữa hộ. Vì con phải lên núi sớm nên nó vẫn đeo, không rõ có chữa được không và bao giờ mới gặp nó để lấy.

Về tổ chức và tình hình chung của đơn vị hầu như không có gì thay đổi. Chính ở khác đại đội với con từ hồi vào Nghệ An đến giờ (vì hai đứa đều là dân kĩ thuật nên không thể cùng một đơn vị). Tuy vậy, nó vẫn sang chỗ con chơi luôn. Quà của ba má gửi vào con chia cho nó cùng hưởng. Khoảng cuối tháng này, bọn con sẽ đi làm nhiệm vụ ở một vị trí mới, sau đó sẽ chuyển sang nhập vào B3 (Kôn Tum). Con sẽ không còn ở cùng E với chú Bân nữa mà về E của chú Ngọ (hiện chú đang tập huấn ở ngoài Bắc như chú Bân, khoảng tháng 6 mới vào). Bọn con đã chuẩn bị chiến trường tương đối chu đáo mấy tháng nay, trình độ anh em được nâng cao rõ rệt qua huấn luyện bổ sung, khí thế mong muốn lập công trong trận đầu sôi sục toàn đơn vị. Con sẽ quyết tâm chứng minh lòng kiên trung, dũng cảm của mình với Đảng trong trận đầu. Bao giờ đánh xong con sẽ viết thư về báo lại với ba má, gia đình. Chắc chắn là có nhiều chuyện hay!

Tình hình của con trong năm qua là như vậy. Bắt đầu từ nay con sẽ viết thư đều về cho nhà. Còn chuyện Nga hay Bích con đã quên từ lâu và những chuyện về họ con coi như một dây đàn câm tiếng. Trong này, con đã tiếp xúc với một lớp người khác họ hoàn toàn. Đó là những cô gái thanh niên xung phong, bộ đội giao liên hay gác ba-rie mà tụi con thường gặp, đã tạo cho con những suy nghĩ khác hẳn trước kia. Đối với con bây giờ chuyện vợ con quá vô nghĩa so với nhiệm vụ và những đồng đội quanh mình, con sẽ không bao giờ bận tâm về những chuyện vớ vẩn ấy.

Thuấn vẫn hay đến nhà mình đấy chứ? Cho con hỏi thăm nó và chúc nó công tác tốt. Chỉ có nó là thằng bạn hiểu tương đối sâu hậu quả của những lối chọn bạn bất tử như con trước kia. Muốn về uống một bữa bia với chú Nghĩa nhưng phải hẹn dịp khác. Chúc gia đình chú mạnh khỏe và tuị nhóc cất được nhiều cá ở ao. Cho con gửi lời hỏi thăm cậu mợ Tầm, dì Mùi chú Ngọc, cô Lan chú Hải, cậu Kỵ và gia đình chú Lân “thọt” (không rõ thằng Thắng con của chú ra sao rồi?). Biết bà con mình khỏe là con rất mừng, tối lửa tắt đèn mà có nhau thì còn gì quý hơn! (Con không rõ có nên gửi lời hỏi thăm cô vợ mới của cậu Kỵ hay không?).

Chúc ba má và các em mạnh khỏe, luôn gặp may mắn trong công tác và trong mọi chuyện khác. Ba cố gắng ăn khỏe cho lại sức ba nhé!

Con của ba má – Minh Tân.

(Suýt quên! Cho con hỏi thăm Thuỷ – bạn Tiến và chúc cô giáo mới mọi sự như ý. Nếu có thể bảo Thuỷ viết thư cho con).

T/B: Chờ thư sau của con về hãy gửi thư cho con vì địa chỉ này chỉ có giá trị khoảng một tuần nữa thôi. Nhưng có thể gửi theo địa chỉ sau: 759-621 TB22

 * * *

 Đúng sáu ngày sau, Lê Minh Tân đã hy sinh. Đọc lá thư ta có cảm giác như anh đã dự báo trước điều gì!? Còn dưới đây là lá thư của Nguyễn Tư Chính, đồng đội thân thiết của Tân. Hơn bốn tháng sau, Chính mới dám viết về nhà cho ba má Tân báo tin anh đã hy sinh. Được phép của gia đình, xin giới thiệu với thầy trò toàn trường.

Kôn Tum ngày 15 tháng 9 năm 1974

Cô chú Bưởi kính mến!

Đầu thư cháu xin chúc cô chú mạnh khỏe, công tác tốt. Khi được thư này, chắc cô chú sẽ buồn lắm, nhưng cháu tin cô chú sẽ vượt qua được vì cô chú là người từng trải.

Trước hết, cháu phải xin lỗi cô chú vì cháu đã không dám báo tin buồn này cho cô chú. Cô chú hãy tha lỗi cho cháu! Quả thực cháu không biết nên xử trí thế nào vì sợ viết về sẽ làm cô chú buồn, ảnh huởng tới sức khỏe, nhất là khi chú đang đi chữa bệnh.

Cô chú kính mến! Lê Minh Tân đã hy sinh hồi 1 giờ 30 phút, ngày 1 tháng 4 năm 1974.

Từ ngày đi chiến đấu, cháu với Tân ở cùng một đại đội. Mỗi đứa phụ trách kĩ thuật một trung đội. Khi vào đến Nghệ An, theo phân công, cháu chuyển sang đại đội khác và hành quân vào Quảng Nam. Thời gian đó, chúng cháu thường đến chơi với nhau. Tân có bảo: “Bao giờ được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà”. Vì vậy mà cô chú không nhận được thư của Tân.

Cô chú kính mến!

Hôm đó là ngày 1 tháng 4, đang sửa xe bỗng thấy có người đến báo tin Tân bị thương nặng. Cháu vội chạy đến thì thấy Tân đã qua đời. (Các y-bác sĩ cứu chữa rất tích cực nhưng không có kết quả). Nhìn thi hài Tân mà cháu không cầm được nước mắt. Sự việc xảy ra quá đột ngột làm cháu cũng không thể tin ở chính mình. Càng nhìn Tân, nước mắt càng chảy ra mà không có cách nào để cứu Tân sống lại. Cháu đã thức suốt đêm bên thi hài Tân. Đơn vị đã tìm ván đóng cái quan tài rất chắc cho Tân. Hôm sau, anh em đưa Tân về nơi an nghỉ cuối cùng.

Cô chú ạ, đồ đạc và di ảnh của Tân đã được tiểu đoàn gửi lên Ban Chính sách. Cháu đã đánh dấu lại vị trí chôn cất của Tân để sau này cô chú cần đến. Tân đã được kết nạp Đảng.

Thôi đến đây cháu xin dừng bút. Cháu chúc cô chú mạnh khỏe!

Cháu của cô chú – Nguyễn Tư Chính

(Cây số 34, đường 46B, cách sân bay Khâm Đức 8km. HT: 759656-TB22)

 * * *

 Sau chiến tranh, gia đình đã cùng đồng đội tìm kiếm mộ phần của Tân. Dựa theo sơ đồ mộ chí và mốc mà Nguyễn Tư Chính đánh dấu, đội tìm kiếm xới tung vùng đất đã chôn cất anh. Đào đi cắt lại mà không tìm thấy hài cốt. Cuối cùng, gia đình mang một nắm đất, coi là hài cốt Lê Minh Tân, quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Mời các bạn đến thăm gia đình liệt sĩ Lê Minh Tân, cô chú Lê Bưởi hiện sống tại 69/24 Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

T.V.C.





* Thượng tá, giám đốc xí nghiệp Vũ khí, Xí nghiệp liên hiệp Z751