Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2022

K5: "Gặp mặt Phương Nam 2022" và những "Địa chỉ đỏ"

Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
K5 “Gặp mặt Phuơng Nam 2022”

K5: "Gặp mặt Phương Nam 2022" và những "Địa chỉ đỏ"

Tran Kienquoc

Trời, Phật và hương hồn các AHLS, trong đó có Huỳnh Kim Trung, chị Phan Thị Quyên và Võ Dũng, phù hộ cho chuyến đi thành công mĩ mãn!
Tuần trước ngày nào bầu trời cũng xám xịt, ngày nào cũng mưa. Vậy mà từ thứ sáu 22/7 tạnh ráo. Ngày chủ nhật 24/7 ngon lành cho tiệc mừng Gặp mặt Phương Nam 2022. 70 bạn Trỗi k5 toàn quốc và phu nhân (trên tổng số 211, có 48 bạn đã đi trước) về dự, cùng 20 khách quý (vợ chồng thầy Trinh, gia đình các bạn đã mất và đại diện các khoá từ 1-8). Đặc biệt k5 có thêm Nguyễn Lâm Thanh và Nguyễn Thiện Nhân, nên có thơ Bút Tre:

Hoan hô bạn Nguyễn Lâm Thanh
52 năm mới về trong đội hình
Hoan hô bạn Nguyễn Thiện Nhân
Nay xong việc nước lại sinh hoạt đều

… Ngày 25/7, xuất phát 5.00. Trời nắng đẹp. 7.30 tới trạm dừng chân Mekong, nháp lần 1 rồi tách 2 đoàn. Cùng em Hiếu Dân ra thắp hương cho AHLS Huỳnh Kim Trung tại NTLS Tiền Giang.
10.00 đã có mặt tại Tân Lợi Thạnh, Giồng Trôm, Bến Tre, thắp hương cho má anh Tư Bà mẹ VNAH, em anh Tư là LS, chị Cả Phan Thị Quyên. Cơm xong lúc 11.00 mà mãi không thể chia tay.
Đi theo đường qua Trà Vinh sang Sóc Trăng bằng phà Đại Ngãi. Được trải nghiệm qua 2 con phà vượt sông Tiền. Không hề mưa. Đến gần Vĩnh Quới, quê ngoại Võ Dũng, thì bầu trời đen kịt, mưa như trút nước. Ban căng rồi, vụ đi xuồng vào nhà bị phá, mà cố đi thì các cụ 7 lít dính mưa là ốm hết. Nhanh hơn điện, Hiếu Dân đã điều 3 xe Ford Transit ghé sát cửa chuyển người rồi tăng bo vào tận nhà. Tới nơi thì tạnh mưa.

Ngày 26/7, xuất phát từ Năm Căn ra Mũi, trời nắng đẹp. Thăm 5 điểm ở Mũi xong, ra cano về, cách KS Ôzne thì có cơn mưa lớn. Cano cắt mưa lướt sóng. Về tới bến lại tạnh ráo.
Chiều 26, thăm nhà thờ Tắc Xậy, thăm xưởng làm bánh pía. Về Tây Đô, ăn cơm trên du thuyền, ngắm cảnh đêm tuyệt vời.

Sáng 27, đi chợ nổi Cái Răng rồi lên xe đi trải nghiệm dã ngoại ở rừng tràm Trà Sư, gần Bảy Núi, Long Xuyên. Trời trong xanh.
Về tới núi Sam, Châu Đốc cũng tạnh ráo. Thăm được đền Bà chúa Xứ và lăng Thoại Ngọc Hầu, người có công khai khẩn đất miền Tây sát biên với CPC và đào con kênh Vĩnh Tế dài 93km để lưu thông hàng hóa, vận chuyển hành khách và rửa mặn cho đồng bằng Long Xuyên, Hà Tiên. Đêm lang thang bằng xe lôi cùng NAG Việt Cường. Trời mát lành.

Sáng 28, rời Châu Đốc về Mỹ Tho qua đường Long Xuyên, Cao Lãnh. Trời nắng đẹp. Vượt sông Tiền sang ăn trưa tại Resort Việt Nhật trên đất Bến Tre. Đi lại bằng xe thổ mộ, xuồng ba lá mà chả dính mưa.
16.30 rời Mỹ Tho, vừa vào đầu cao tốc đi TPHCM thì gặp cơn mưa lớn. Tài Danh khéo léo điều khiển đi trong mưa 10km. Về đến T67 lúc 18.30, trời quang mây tạnh. Kết thúc 1 chuyến đi tuyệt vời.

Thế có đúng là Trời, Phật và anh linh của những người đã khuất phù hộ cho chúng ta???


Thứ Ba, 26 tháng 7, 2022

Tình cảm có 1-0-2!

Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
K5 “Gặp mặt Phuơng Nam 2022”

Tình cảm có 1-0-2!

Tran Kienquoc


Sáng qua 9.30 tới Tân Lợi Thạnh, Giồng Trôm, Bển Tre, quê anh Tư Dũng, thắp hương cho má anh - bà mẹ VNAH và chị Quyên. Được anh và cháu Nga chiêu đãi bữa cơm “rất là Bến Tre”. 11.00 chia tay lên đường nhưng lưu luyến mãi.
Sau đó tiếp tục hành quân theo đường qua phà Đại Ngãi, vượt cù lao Dung, sang đất Sóc Trăng. Tới gần xã Vĩnh Quới quê ngoại Võ Dũng thì mây đen kéo đầy trời, mưa nặng hạt. Vậy là kế hoạch đi xuồng từ lộ vào nhà Dũng dường như bị phá sản. Không ngờ em Hiếu Dân có pha xử lí vô cùng hay: dùng 3 xe Ford-Transit ghé sát cửa xe 45 chỗ đón 38 lính sang rồi chở vào nhà. Tuyệt vời vì được đi trên con đường bê tông sạch sẽ. Tới sát nhà thì mưa tạnh.
Anh chị em vào khu mộ dòng tộc họ Trần (Trần Gia chi mộ) thắp hương cho cô Kim Anh, Võ Dũng, 2 em Ánh Hồng, Chí Tâm. Vòng quanh mộ phần, các bạn cùng hát Trường ca tặng Võ Dũng rồi Thế Bắc, Phan Tuấn Khôi, Tấn Lợi, Võ Bằng nhắc lại những kỉ niệm với Dũng. Em Hiếu Dân cảm động cảm ơn các anh chị k5 toàn quốc đã về tận Sóc Trăng thắp hương cho anh: “Hôm nay anh Dũng và má em vui lắm đấy”.
Anh chị em k5 có bữa cơm chia tay với Hiếu Dân và cảm ơn em đã lo đón tiếp các anh chị chỉn chu đến từng mi-li-met.


Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2022

Giỗ lần thứ 50 LS Võ Dũng

Giỗ lần thứ 50 LS Võ Dũng

Tran Kienquoc

Hôm nay giỗ lần thứ 50 ngày LS Võ Dũng - con trưởng của chú Sáu Dân, bạn Trỗi k5 của chúng tôi - hy sinh tại chiến trường Khu 9!
Cả tháng trước, em Hiếu Dân gọi điện báo: ngày 21/4 âm là giỗ lần thứ 50 của anh Võ Dũng và nhờ tôi mời các thầy cùng các anh k5 và các bạn k8 đến đám giỗ anh mình. Với các thầy, Dân còn dặn báo địa chỉ để cho xe đến tận nhà đón.
Tầm 11g trưa nay, các bạn k5, k8 (trong đó có Phan Đức Dũng từ BRD về) có mặt cùng thầy Trinh, thầy Thịnh. Thầy Trọng được tài xế thân của Hiếu Dân đón nhưng đi mất đúng 1 tiếng từ Gò Vấp về. Chúng tôi đã cùng vào thắp hương cho chú Sáu, cô Kim Anh, 2 em và thằng bạn mình. Trên bàn thờ cùng kỉ niệm chương có hình Võ Dũng là 3 tập sách: Kỉ yếu Khóa 5 - 55 năm 1 thời để nhớ, Sinh ra trong khói lửa (tập 5) và tiểu thuyết về cuộc đời làm thầy, lám báo của thầy Chi Phan. (Mọi người cùng lưu bút vào sách quý này).
Sau đó cùng bạn của Hiếu Dân ở Trường HSMN chụp tấm ảnh kỉ niệm. Chúng tôi đã có bữa cơm rất Việt Nam tưởng nhớ thằng bạn mình. Chuyện trò, giao lưu, nhiều bạn bè HSMN, Trỗi phải nửa thế kỉ mới gặp lại nhau.
... Anh Tấn Mỹ nhắc lại chuyện trước ngày về nước, đã cùng Võ Dũng
"trong đêm đi kiểm tra túi áo của các thầy nhưng cũng chỉ kiếm được vài nhân dân tệ".

Còn Đức Dũng thì kể cho Hiếu Dân:
Lần đó ba Kiệt đi công tác ở Bắc Kinh về, có tạt qua Quế Lâm thăm con trai và con gái. Ông đưa cây thuốc Thăng Long nhờ Dũng tặng các thầy. Vậy mà ông con rút ra 2 bao rồi kéo bạn bè ra khu đồi nghĩa địa của dân TQ (ở Y Trung) tập hút. Võ Dũng bảo: "Chúng mày phải rít thật sâu rồi thở ra đằng mũi, thế mới sướng". Đức Dũng làm theo và lịm đi, khi tỉnh dậy thấy còn mỗi mình nằm ở góc đồi.
Hóa ra vì rít thật sâu và hắn bị say thuốc, ngủ luôn, khi tỉnh dậy chẳng thấy thằng nào. Chính vì thế mà Đức Dũng sợ và không bao giờ cầm đến điếu thuốc nữa.


Nguồn: FB Tran Kienquoc - 21/05/2022.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Trần Kiến Quốc

Chiều ngày 23/7/2017, 30 thầy trò khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970) lần đầu tiên tới thăm quê ngoại liệt sĩ Võ Dũng. Trên hai chiếc vỏ lãi, chúng tôi theo con rạch chừng 2km tới nhà con trai dì thứ ba của Võ Dũng. Mọi người được gia đình đón tiếp thịnh tình, rồi cùng ra “Trần Môn Chi Mộ” thắp hương cho các cụ cùng cô Trần Kim Anh, Võ Dũng và 2 em Phan Ánh Hồng, Phan Chí Tâm.

Liệt sỹ Võ Dũng.


Họ Trần, một dòng họ có tiếng ở Sóc Trăng

Ông Trần Văn Ngưu, tự Nhất Ngưu – Cố ngoại1 của Võ Dũng, người con thứ sáu của ông Trần Quang – vị quan trong thành Vĩnh Long, dưới quyền của cụ Phan Thanh Giản. Thành Vĩnh Long thất thủ, ông Trần Quang đưa vợ con về làng Trường Thạnh, Cần Thơ, dặn không theo Pháp rồi ông đi biệt tích. Để giấu gốc tích, bà Trần Quang dẫn 6 người con đến Kinh Sáng, vùng đất thuộc thị xã Ngã Năm ngày nay, sinh sống.

Cuối thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1890) ông Trần Văn Ngưu đưa vợ con đến khu vực hoang vu này. Bấy giờ xung quanh là rừng, lau sậy rậm rạp, kênh rạch chằng chịt… Dân quanh vùng khuyên nên cắm sào giữa sông, ngủ trên ghe và đốt lửa trên bờ phòng thú dữ mò về.

Cụ Trần Văn Ngưu cùng con trai lớn thứ năm Trần Quang Quy khảo sát và quyết định lập nghiệp ở vùng đất cách chợ nổi Ngã Năm chừng 5km đường sông. Sau 10 năm khai khẩn, thấy khu vực này trũng, cá từ khắp nơi đổ về, ông Ngưu tìm cách đắp đập và khai thác cá. Ông thuê cả một vùng đất rộng để khai thác cá.

Ông Trần Văn Ngưu có 9 người con, trong đó ông Trần Quang Quy (ông ngoại Võ Dũng) là con trai lớn. Ông Ngưu mất năm 1928. Ông Quy có 7 người con: dì hai Trần Thị Chơi, dì ba Trần Thị Giác, cậu tư Trần Tấn Lướt, cậu năm Trần Tấn Khả, cậu sáu Trần Quang Hiến, má của Võ Dũng là con gái thứ bảy Trần Kim Anh, cô út Trần Kim Em.

Năm 1929, ông Ngưu mua máy xay xát lúa, đặt tại chợ Ngã Năm. Nhà cửa được xây theo kiến trúc Pháp cùng một ngôi đình. Cứ dịp tết hay thu hoạch mùa màng, ông cho rước gánh hát bội về hát cho bà con nghe.

Từ khi đến đây lập nghiệp, dòng họ Trần được dân làng kính trọng. Nhiều người xin vào làm mướn rồi định cư đến giờ. Người nghèo được ông cho lúa gạo, cấp đất cất nhà.

Có tư tưởng tân tiến, tiếp thu văn hóa thị thành, khi con trai, con gái còn nhỏ ông cho thuê gia sư giỏi về nhà dạy học; khi các con trai đã lớn ông cho đi học trường Lyséum Bassac Cần Thơ. Ngày đó con gái không được đến trường nên 2 cô út Kim Anh, Kim Em được đưa ra chợ Ngã Năm học mỗi ngày. Người trong làng ngày nay vẫn nhắc đến 2 cô con gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, mỗi khi xuống ghe tam bản hầu 2 để đi học thì cửa ghe đóng lại, không ai nhìn thấy.

Ngày Cụ Hồ kêu gọi toàn dân ủng hộ chính phủ, ông Năm Quy hiến vàng bạc, 3300 công đất cùng nhiều đồ đồng (thau nồi, lư đồng …) để đúc súng đạn, chỉ giữ lại 100 công đất nơi có mộ phần cha mẹ. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cho phá nhà lớn và ngôi đình “tiêu thổ kháng chiến”, máy móc xay xát được tháo về, cho đốt khung bao nhà máy.

Sau này, ông cho ráp lại máy móc tại rạch Đường Mốp; vừa xay lúa cho dân, vừa xay lúa cho cách mạng, cung cấp gạo cho Tỉnh ủy Long Châu Hà. Do bị chỉ điểm nên Pháp đã vào bỏ bom xăng, làm cháy một phần nhà máy. Ông kiên trì sửa chữa cho đến khi không còn ráp lại được nữa.

Chiến tranh làm mất hết tài sản, mất cả con nhưng ông bà vẫn nén nỗi đau, dựng lại nhà, tiếp tục sinh sống. Đến năm 1964, khi bị thả hai trái bom trên vườn nhà, sau nhiều trận càn và tuổi đã cao, không còn đủ sức chạy bom đạn, ông mới rời quê về sống với người con trai thứ sáu tại số nhà 158 Nguyễn An Ninh, phường Vĩnh Bảo, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tiếp tục nuôi giấu cán bộ, khi có điều kiện, ông tiếp tế thuốc men, cá khô, thuốc hút, phương tiện xe cộ…

Ông Trần Quang Quy mất năm 1972, bà mất sau ông một năm. Sự nhớ thương, mong chờ gặp lại Võ Dũng và Hiếu Dân không bao giờ thực hiện được. Còn Hiếu Dân sau này về vẫn cứ tiếc: “Ông bà ngoại mất mà không kịp đợi con về”.

Chú Sáu Dân và gia đình bên vợ

Năm 1949, chú Sáu Dân là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá. Một lần đi công tác, ghé qua lớp học của Hội Phụ nữ mở tại rạch Đường Mốp, chú sáu gặp cô Kim Anh. Ngay từ cái nhìn đầu tiên chú đã xao động. Hỏi thăm chú Hai Hữu đi cùng thì biết, đó là con gái ông Năm Quy - một gia đình giàu có, từng hiến đất cho cách mạng. Từ đó chú Sáu thường ghé thăm nhà cô Kim Anh. Chuyện tình bắt đầu.

Khi ngỏ lời cưới cô thì chị thứ hai và anh thứ tư băn khoăn: không biết gia đình chú Sáu ở đâu; cha mẹ, anh em thế nào? Rồi chú là cán bộ cách mạng, chưa biết sống chết ra sao… nên không muốn gả. Riêng ông Năm là người có tư tưởng tiến bộ và có cảm tình với chú Sáu, mặt khác người chị thứ ba biết cô Kim Anh thương chú Sáu nên cũng nói vào. Ông Năm đồng ý gả cô Kim Anh cho chú.

Sau ngày cưới, chú luôn giữ liên lạc với gia đình. Thời gian chống Pháp, chống Mỹ, mỗi lần đi công tác gần nhà, chú cũng tìm cách ghé qua thăm Ngoại. Chú quan tâm và nhớ hoàn cảnh từng người trong gia đình.

Những chuyến về quê thăm mộ phần các cụ, chú Sáu vẫn nhắc lại kỷ niệm cũ: “… Ngày xưa không có chuyện rủ nhau đi chơi… - rồi chú nhìn Hiếu Dân cười - Ngày tết, đến nhà Ngoại là ba “xung phong” chụm lửa nấu bánh tét để được nói chuyện với má bay...”. Nhắc lại chuyện tình của ba má, Hiếu Dân trêu: “Ba đi vận động cách mạng Ngoại rồi “vận động” luôn cả má con… Con biết rồi, ba cưới má khi mới 17 nghen?”. Lúc đó chú Sáu vui vẻ: “Đâu có, má mày sắp 18 mà!” rồi cười mãn nguyện.

Sau này nghỉ hưu, thời gian sống ở nhà con gái Hiếu Dân, chú mới có thời gian dành cho gia đình bên vợ. Thỉnh thoảng chú cho rước bà chị thứ ba và anh thứ sáu lên chơi. Trong bữa cơm sum họp, chú thường nhắc lại chuyện ngày cưới: “Anh Sáu lấy những hạt gạo nhuộm đỏ, dán trên tấm kính chiếu thủy 2 chữ “Tổ Quốc”. Trong lễ tuyên hôn, cô dâu, chú rể trong bộ bà đen bằng vải san đầm; đứng trước bàn thờ Tổ quốc, xúc động như thấy có mình ở trong đó”.

Đám cưới cô chú được tổ chức đơn giản nhưng rất trang trọng, với sự chứng kiến của hai họ nội, ngoại cùng đông đảo bà con xóm giềng. Ông Nguyễn Thành Nhơn, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, đại diện tổ chức và cũng là “đại diện nhà trai”.

Chú Sáu cưới cô Kim Anh năm 1950. Cưới xong sống ở nhà Ngoại. Sau này, chú cứ nhắc mãi cái ao sen nhà ngoại đã bị lấp, từng chứng kiến kỉ niệm đẹp của 2 người. Cũng năm ấy, chú có lệnh ra Bắc. Lúc đó cô Kim Anh đã có mang Võ Dũng.

Cùng chuyến đi còn có một cán bộ cũng có cô vợ trẻ. Cô Năm Liễu (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Kiên Giang), người hoạt động cách mạng trong vùng, chứng kiến cuộc chia tay của 2 cặp vợ chồng, đã kể: “Cả 2 cô vợ đều con nhà giàu, rất trẻ, đẹp. Cô thầm nghĩ, không biết rồi đây họ có chờ đợi chồng được hay không? Vì đi ra Bắc thì biết ngày nào trở lại, không biết ai còn, ai mất!

Lúc chuẩn bị đi, cô vợ kia khóc dữ lắm, làm chồng phải quay xuồng lại tới 2, 3 lần mới dứt đi được. Còn má con gan lắm, khi xuồng ba con đi xa rồi mới khóc… Thật buồn, người phụ nữ kia không chờ đợi được, đã đi lấy chồng. Đó cũng là một thực tế phũ phàng! Còn má Kim Anh của con vẫn một mực thủy chung, chờ ba bay trở về”.

Võ Dũng và những năm tháng sống ở bên ngoại

Tiễn chú Sáu đi Việt Bắc, cô Kim Anh vẫn sống ở nhà ông bà ngoại. Đầu năm 1951, cô sinh Võ Dũng mẹ tròn con vuông. Theo ý chú Sáu, cô đặt tên con trai đầu lòng là Phan Chí Dũng. Năm 1952, con trai thứ hai Phan Thanh Nam ra đời tại Việt Bắc. Biết tin, ông bà ngoại và má Võ Dũng muốn đưa Nam về sống bên ngoại.

Ở miền Nam, Võ Dũng lớn lên trong sự bảo bọc của ông bà ngoại. Ngoại thương Võ Dũng nhiều nhất vì là đứa cháu duy nhất còn sống với ông bà, hơn nữa ba Dũng đi làm cách mạng chưa về… Ngoại cũng thương má của Dũng vì là con gái út, lại phải sống xa chồng. Cô Kim Anh còn xắn áo xắn quần, đi nhổ mạ cấy lúa, giã gạo phồng cả tay… để “tự cải tạo thành phần” gia đình.

Khi má Kim Anh đi thăm ba, dẫn Dũng theo sợ lộ nên đã gửi Dũng ở nhà với Ngoại. Cậu Sáu Hiến thương cháu, đi đâu cũng cho Dũng đi cùng.

Năm 1954, khi Dũng được 4 tuổi, chú Sáu trở về. Đó là lần đầu cha con gặp nhau. Thời gian đó, chú hoạt động ở Bạc Liêu nên cô đi đi về về. Đầu năm 1956, Ngoại đưa cô Kim Anh ra bệnh viện Cần Thơ sinh Hiếu Dân; rồi năm 1962 sinh em Ánh Hồng.

Năm 1965, cô về nhà Ngoại, sinh em Chí Tâm ở Rạch Giá. Đầu năm 1966, trên đường lên thăm chú Sáu, cô đã mất cùng 2 em trên con tầu Thuận Phong.

Tuổi thơ của Võ Dũng ở nhà Ngoại có rất nhiều kỷ niệm. Ai cũng nhớ, Dũng rất nghịch, từng bắt gà lôi của ông ngoại nhổ lông đuôi, gắn vào lưng quần, vừa khom lưng chạy vừa kêu “lức lức”; hay lấy lưỡi cưa trong nhà máy xay dắt vào lưng giả làm kiếm. Mỗi lần giục đi tắm thì cứ chạy vòng vòng quanh đống trấu. Tới giờ đi học thì lần khân, có khi trèo tót lên cây xoài, ngồi vắt vẻo không chịu xuống, má phải cầm roi mới đi…

Võ Dũng ở nhà Ngoại đến năm 1959 thì cùng má và Hiếu Dân qua Phnôm-pênh sống với ba. Ở đó, Dũng được học tiếng Pháp ở trường Lạc Hồng. Dũng rất nghịch, hay ném ống bơ cát qua nhà bên cạnh, bị thưa cảnh sát. Cảnh sát đến kiểm tra, làm cơ quan ta sợ địa điểm bị lộ, phải chuyển.


Gia đình cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.



Ra Bắc rồi về Nam

Từ Phnôm-pênh, Dũng được các chú cho bay sang Hồng-Kông rồi đi phà biển vào Quảng Châu. Từ đây đi tầu liên vận về Hà Nội. Cô Bảy Huệ (phu nhân ông Nguyễn Văn Linh3) đón Dũng về nuôi.

Dũng được gửi xuống Hải Phòng học Trường Học sinh miền Nam số 19, 21 ở Cầu Rào. Đến năm 1963, Bộ Giáo dục trả số học sinh có ba mẹ hoặc người thân ở ngoài Bắc về với gia đình, Dũng lại về nhà cô Bảy Huệ. Dũng và Hiếu Dân được cô chăm sóc và coi cô như má. Các em trong nhà thì gọi Dũng là anh Hai.

Hè năm 1965, cô đưa Dũng lên Trường Văn hóa quân đội ở Trại Hòe, Hà Bắc, bắt đầu cuộc sống Thiếu sinh quân. Có lẽ vì từng tiếp xúc với lính Mỹ, ngụy mà những ngày ở trường, Dũng không hề sợ khi máy bay Mỹ bay qua. Có báo động, Dũng toàn đứng trên nóc hầm theo dõi trận không chiến. Khi thấy tên lửa SAM hay Mig-21 của ta bắn cháy máy bay Mỹ, Dũng nhảy lên hò reo.

Do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng, nhà trường di chuyển từ Trại Hòe lên An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái rồi sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc… Xa má đã 7 năm mà không có thư từ. Sốt ruột, hỏi thăm ba thì ba không trả lời. Hai anh em linh cảm có điều gì chẳng lành. Dũng bỏ học, nhiều lần xin được về nước chiến đấu. Cuối cùng, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh phải đồng ý.

Về nước, các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi học tiếp nhưng Dũng quyết xin về Nam. Thuyết phục không được, các chú cho Dũng về Trường Quân chính QK Tả Ngạn. Tại đây Dũng được học các yếu lĩnh cơ bản của người lính trận: lăn lê, bò toài, đào hầm hào, hành quân, bắn súng, ném lựu đạn, đặt mìn…

Mãn khóa, các chú có ý định cho Dũng đi theo đường qua Hồng-Kông về Campuchia. Dũng lắc đầu: “Mọi người có thể đi dọc Trường Sơn vào B2 thì cháu cũng đi được”. Tháng 8/1969, khi tập trung ở Đoàn huấn luyện cán bộ đi B trên Lương Sơn, Hòa Bình, các chú muốn phát cho Dũng tăng bạt, quần áo, đồ dùng tốt hơn, Dũng cũng không đồng ý.

Trước ngày lên đường, cô Bảy Huệ, cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Các cô rất lo, thằng cháu nghịch ngợm từ bé sẽ sống thế nào suốt dọc đường vào Nam, nó mà vô kỉ luật thì không chỉ tổn thất cho mình nó. Hiểu lo lắng đó, Dũng trả lời: “Các cô và em yên tâm đi, con sẽ không làm cô và em phải hổ thẹn. Con đi lần này, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!”. Hai cô rơm rớm nước mắt thương thằng cháu đã mất má và 2 em, giờ lại đi vào nơi hòn tên mũi đạn có thể dính bất kì lúc nào.

Cuối năm 1969, lên đường đi B. Anh Long, chị Phương cùng chuyến đi với Dũng kể lại, suốt dọc đường không ai biết nó là con ông to, lúc nào cũng vui cười, luôn kể chuyện, tán dóc, luôn sẵn sàng khoác ba-lô, súng đạn giúp người khác, có điếu thuốc thì cùng hút. Ngày chia tay các anh rẽ xuống B5 miền Trung, Dũng lấy trong ba-lô ra tút thuốc, chia đôi: “Anh cầm đi mà hút, em có rồi. Hết thì hút thuốc rê”.

Về đến căn cứ R trên Tây Ninh, ba, con gặp nhau. Nước mắt rưng rưng, chú Sáu ôm Dũng vào lòng: “Từ Rạch Giá, má con bế thằng Tâm mới 4 tháng tuổi, dắt theo Ánh Hồng đi cùng cô Ba giao liên, lên xe đò đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn lên con tầu Thuận Phong vẫn thường chở vợ con sĩ quan ngụy đi thăm chồng trên Tây Ninh.

Không ngờ khi tầu rời bến thì công lệnh “cấm tầu bè qua lại trên đoạn đường sông qua Củ Chi” do lính Mỹ mở trận càn trên sông, đã phát, nhưng nhân viên công vụ lại đi uống cà phê nên lệnh cấm đến trễ. Tàu đã xuất bến.

Sau hơn một giờ đồng hồ, con tầu vào khu vực cấm. Trực thăng UH-1 vè vè trên đầu. Chủ tầu cho tàu chạy ra giữa sông rồi cho trải cờ 3 sọc trên nóc. Phi công trên UH-1 điện về bến tầu thì biết công lệnh đã phát. Cho là “tàu Việt Cộng cải trang” nên từ trên UH-1 đã bắn rốc-két xuống tàu. Tàu chìm. Nhiều người bị chết và bị thương, nhiều người tìm cách bơi vào bờ, nhưng chúng tiếp tục quần thảo, bắn rát…

Nghe tin má và 2 em đi trên con tầu này, ba cùng các chú đã đi dọc bờ sông phía thượng nguồn tìm kiếm mấy ngày trời. Nhà Ngoại xin cấp giấy phép thuê tầu đi suốt từ hạ lưu sông Sài Gòn lên Củ Chi tìm mà không thấy. Đau lắm. Sợ con và em Hiếu Dân biết, buồn mà sinh bệnh nên ba dặn các chú giấu các con.

Giờ, con về đây, ba, con mình có nhau, làm cho ba vơi đi nỗi buồn vì mất mát lớn quá…”.

Cũng buổi đầu tiên gặp lại ba, Dũng kể chuyện được gặp Bác: “Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Phủ Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, con và em Dân cũng được dự. Các bạn thiếu nhi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo và ân cần hỏi thăm học tập ra sao, có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ, thầy cô.

Đến lượt con, Bác hỏi: “Cháu có ngoan không?”. Con khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”. Bác xoa đầu con: “Giỏi! Cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!”. Nói rồi, Bác chia phần kẹo cho con”. Nghe đến đây chú Sáu xúc động ghì chặt Dũng vào lòng.

Về tới B2 nhưng không muốn sống ở trên chiến khu nên Dũng nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn thương nó mới từ miền Bắc vào nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu, các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin. Chỉ một thời gian, Dũng không muốn làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi trực bên máy, con không chịu được. Phải cho con về quê má, xuống đơn vị…”.

Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc xin các chú xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị đóng ở Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 30km. Về trinh sát, Dũng không cậy mình là “con ông cháu cha” từ ngoài Bắc vào mà cùng chia lửa với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai cũng quý.

Chú Sáu Nam 4 ngày đó là Tư lệnh Khu 9, nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát; chưa kịp kéo Dũng lên cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972.

Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2 đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3 chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 hy sinh. Biết tin, đơn vị cử người tìm xác, chôn cất ngay bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá).

Nơi yên nghỉ cuối cùng của cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em

Ông Trần Quang Hiến nhớ lại: “Tới năm 1980, dượng Bảy (cô Kim Anh vợ chú là thứ bảy) mới cho bốc hài cốt Võ Dũng. Sau khi đưa đi hóa thân hoàn vũ, di cốt Dũng được để ngay trong phòng của dượng ở An Phú, quận 2. Từ đó, Dũng luôn được ở bên cạnh ba”.

Sau ngày con tầu Thuận Phong được cẩu lên nhưng bên trong chả còn lại gì. Chú cho xây 3 ngôi mộ gió cho cô Kim Anh và 2 em, ngay tại Củ Chi, nơi con tầu Thuận Phong bị bắn chìm. Sau này mới làm mộ gió cho cô và 2 em ở NTLS TPHCM, không xa Tượng đài Bà má Việt Nam anh hùng.

20 năm sau ngày cô Kim Anh ra đi, có người gợi ý làm thủ tục truy tặng danh hiệu liệt sỹ cho cô. Chú lắc đầu: “Mất mát của gia đình tôi cũng như mất mát của hàng triệu gia đình Việt. Đã 20 năm rồi, vết thương chưa thể lành hẳn nhưng làm việc đó để làm gì? Nếu làm chỉ khoét thêm nỗi đau bấy lâu!”.

… Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Chú cho đưa hài cốt Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió má và 2 em.

Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Hôm đưa Dũng về quê ngoại, chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh mình trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ. Nhìn Hiếu Dân ai cũng đều xúc động vì Hiếu Dân mất gần hết: má, anh Hai Dũng cùng 2 em; giờ chỉ còn lại một mình và anh Ba Nam…”.

Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn bị từ trước, do 2 điêu khắc gia Nguyễn Văn Sánh, Vũ Thế Thái thực hiện. Chân dung cô Kim Anh ở giữa, 2 bên là Ánh Hồng và Chí Tâm, phía dưới là Võ Dũng. Không được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng hình tượng Võ Dũng trên bức phù điêu rất sống động, có nhiều nét giống Dũng ngày ở trường.

Trước nấm mộ của má Kim Anh, Võ Dũng và 2 em, Võ Thúc Minh – bạn thuở Thiếu sinh quân chống Mỹ – xúc động kể: “Trước ngày chia tay, Dũng nhờ tôi xăm lên cánh tay 2 chữ “Hoài Mẫu”. Tôi cầm cái kim khâu đã quấn chỉ, chấm mũi kim vào bát mực Tàu, run run chích từng mũi lên da thịt bạn. Máu bật ra, đau lắm. Mắt rơm rớm nhưng Dũng cắn răng chịu đựng. Tôi hiểu Dũng nhớ má, yêu má đến chừng nào…”.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2018
Trần Kiến Quốc

1. Trong Nam bộ gọi cụ là cố.
2. Một loại thuyền nhỏ có mui.
3. Sau này là Tổng bí thư Đảng CSVN.
4. Sau này là Đại tướng Lê Đức Anh.


Báo điện tử Đại Đoàn Kết - 10:00:28 09/08/2018

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2018

Tâm sự về 1 bài báo đã viết

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ


Thật ra Hiếu Dân, em gái Võ Dũng, có 1 mối thân tình với các anh k5. Lại nữa, là học sinh Trường Bé nhưng Hiếu Dân chả khác gì học sinh Trường Trỗi vì em quá thân tình với Hòa, Bình (con cô Bảy Huệ) và các bạn C11 trường ta.
Năm ngoái dịp 27/7, khi các bạn k5 có ý tưởng về miền Tây viếng thăm mộ phần Huỳnh Kim Trung và Võ Dũng, đã gọi điện cho em. Dân nói: "Em sẽ cho 1 xe và 1 tài phục vụ các anh". Bảo: "Phiền em quá, để các anh tự đi", "Có gì mà phiền, các anh về quê ngoại em mà. Mới lại, đường khó đi cho người đi lần đầu".
Quả thật, chiều hôm đó không có Quý, người dẫn đường thông thạo địa bàn của em, thì chắc chết. Quý rất hiểu biết vì được đi khắp các nẻo cùng chị Dân. Được mời cơm chiều, khi ra xuồng về bến xe đã bảo Quý cho trả tiền thì Quý nói, chị Dân lo hết rồi.
Sau chuyến đi đó, Hạnh - chị họ Võ Dũng, Hiếu Dân - gặp và kể cho tôi nhiều chuyện chưa biết về họ ngoại, gia đình và cả Võ Dũng sinh ra, lớn lên và gắn liền với gia đình của má. Có bài viết khá dài, gửi cho Dân. Hai anh em thống nhất: chưa đăng tải mà chỉ giữ làm tư liệu.
Nhân 27/7 năm nay, có cái gì đó thôi thúc, tôi bảo Dân gửi bài cho báo. Em đồng ý. Bàn đi bàn lại, sửa, rút gọn được 1 bài hơn 4000 chữ.
Là 1 "cộng tác viên dọc đường" của báo TT (ý: gặp cái gì hay thì viết và được đăng), đã gửi đi và nhận được hồi âm: bài không dùng được. Lúc đầu hơi chạnh lòng, sau nghĩ bụng, chắc do TT vừa có scandal nên bài này sợ nhạy cảm(!)...
Nhớ ngay đến TBT Báo Đại Đoàn Kết - 1 cựu học viên Học viện KTQS k14. Cùng là lính Quân sự, từng giao du khi dự Họp mặt Đập Neo, Đoàn Đào và từng có bài cho báo nên khi gửi cho chú, chú nhận lời ngay.
Vì chỉ còn chưa đầy 2 tuần, thời gian quá ngắn, sợ việc dàn trang cho báo ngày 27/7 đã xong, đã nhắn: đăng kịp 27/7 thì tốt, nếu không tùy em sắp xếp. Chú trả lời: "OK a" (đúng như tin nhắn).
Và chiều qua, chú đã nhắn tin: "Bài viết đã đăng trên Tinh hoa Việt số 80 ngày 25/7, anh ạ" và gửi kèm bản chụp tờ báo. Hỏi: "Không có đường link à?" thì được trả lời: "Để còn bán báo đã anh".
Nhắn tin vui cho Hạnh thì được trả lời, bài viết cảm động đến chảy nước mắt nhưng sao vẫn viết "dượng Sáu đưa Võ Dũng về Vĩnh Long?". Quái lạ, xem lại bản chụp thì rõ ràng là "Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Vì sao không chuyển cô và các con về Vũng Liêm, Vĩnh Long mà lại có quyết định đó?".
Lục trên mạng thì ra, đó là bài viết từ 17/7/2016 (http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/chuyen-chua-biet-ve-su-hy-sinh-cua-con-ca-thu-tuong-vo-van-kiet-316031.html), khi mới chỉ biết chú Sáu đưa cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em từ NTLS TPHCM về quê, chứ chưa biết là "về quê ngoại".

... Chỉ có 1 bài báo mà đã có bao kỉ niệm vui. Và đúng là ở đời không có bạn thì khó thành công.



FB Tran Kienquoc 26 Tháng 7/2018 lúc 05:55

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ LIỆT SỸ VÕ DŨNG, CON TRAI CẢ CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ LIỆT SỸ VÕ DŨNG, CON TRAI CẢ CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT
Trần Kiến Quốc

Võ Dũng (Phan Chí Dũng)
1951 - 1972.
Chiều ngày 23/7/2017, 30 thầy trò khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-70) lần đầu tiên tới thăm quê ngoại LS Võ Dũng. Trên hai chiếc vỏ lãi, chúng tôi theo con rạch chừng 2km tới nhà con trai dì thứ ba của Võ Dũng. Mọi người được gia đình đón tiếp thịnh tình, rồi cùng ra “Trần Môn Chi Mộ” thắp hương cho các cụ cùng cô Trần Kim Anh, Võ Dũng và 2 em Phan Ánh Hồng, Phan Chí Tâm.


Gia đình chú Sáu Dân (ảnh ghép)




Họ Trần, một dòng họ có tiếng ở Sóc Trăng
Ông Trần Văn Ngưu, tự Nhất Ngưu – Cố ngoại[1] của Võ Dũng, người con thứ sáu của ông Trần Quang – vị quan trong thành Vĩnh Long, dưới quyền của cụ Phan Thanh Giản. Thành Vĩnh Long thất thủ, ông Trần Quang đưa vợ con về làng Trường Thạnh, Cần Thơ, dặn không theo Pháp rồi ông đi biệt tích. Để giấu gốc tích, bà Trần Quang dẫn 6 người con đến Kinh Sáng, vùng đất thuộc thị xã Ngã Năm ngày nay, sinh sống.

Cuối thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1890) ông Trần Văn Ngưu đưa vợ con đến khu vực hoang vu này. Bấy giờ xung quanh là rừng, lau sậy rậm rạp, kênh rạch chằng chịt… Dân quanh vùng khuyên nên cắm sào giữa sông, ngủ trên ghe và đốt lửa trên bờ phòng thú dữ mò về.
Cụ Trần Văn Ngưu cùng con trai lớn thứ năm Trần Quang Quy khảo sát và quyết định lập nghiệp ở vùng đất cách chợ nổi Ngã Năm chừng 5km đường sông.
Sau 10 năm khai khẩn, thấy khu vực này trũng, cá từ khắp nơi đổ về, ông Ngưu tìm cách đắp đập và khai thác cá. Ông thuê cả một vùng đất rộng để khai thác cá. Ghe rổi thương lái Sài Gòn xuống tận nơi thu mua.
Cầu cảng được xây dựng, kênh được mở rộng. Khu vực bến thuyền thắp sáng đèn măng-sông cả đêm. Người trong vùng gọi ông là ông Bá hộ Ngưu. Ấp mới có tên Đường Mốp (xã Vĩnh Quới, thị xã Ngã Năm, Sóc Trăng).
Ông Trần Văn Ngưu có 9 người con, trong đó ông Trần Quang Quy (ông ngoại Võ Dũng) là con trai lớn. Ông Ngưu mất năm 1928. Ông Quy có 7 người con: dì hai Trần Thị Chơi, dì ba Trần Thị Giác, cậu tư Trần Tấn Lướt, cậu năm Trần Tấn Khả, cậu sáu Trần Quang Hiến, má của Võ Dũng là con gái thứ bảy Trần Kim Anh, cô út Trần Kim Em.
Năm 1929, ông Ngưu mua máy xay xát lúa, đặt tại chợ Ngã Năm. Nhà cửa được xây theo kiến trúc Pháp cùng một ngôi đình. Cứ dịp tết hay thu hoạch mùa màng, ông cho rước gánh hát bội về hát cho bà con nghe.

Từ khi đến đây lập nghiệp, dòng họ Trần được dân làng kính trọng. Nhiều người xin vào làm mướn rồi định cư đến giờ. Người nghèo được ông cho lúa gạo, cấp đất cất nhà.
Có tư tưởng tân tiến, tiếp thu văn hóa thị thành, khi con trai, con gái còn nhỏ ông cho thuê gia sư giỏi về nhà dạy học; khi các con trai đã lớn ông cho đi học trường Lyséum Bassac Cần Thơ. Ngày đó con gái không được đến trường nên 2 cô út Kim Anh, Kim Em được đưa ra chợ Ngã Năm học mỗi ngày. Người trong làng ngày nay vẫn nhắc đến 2 cô con gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, mỗi khi xuống ghe tam bản hầu[2] để đi học thì cửa ghe đóng lại, không ai nhìn thấy.
Ngày Cụ Hồ kêu gọi toàn dân ủng hộ chính phủ, ông Năm Quy hiến vàng bạc, 3300 công đất cùng nhiều đồ đồng (thau nồi, lư đồng …) để đúc súng đạn, chỉ giữ lại 100 công đất nơi có mộ phần cha mẹ. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cho phá nhà lớn và ngôi đình “tiêu thổ kháng chiến”, máy móc xay xát được tháo về, cho đốt khung bao nhà máy.
Sau này, ông cho ráp lại máy móc tại rạch Đường Mốp; vừa xay lúa cho dân, vừa xay lúa cho cách mạng, cung cấp gạo cho Tỉnh ủy Long Châu Hà. Do bị chỉ điểm nên Pháp đã vào bỏ bom xăng, làm cháy một phần nhà máy. Ông kiên trì sửa chữa cho đến khi không còn ráp lại được nữa.
Chiến tranh làm mất hết tài sản, mất cả con nhưng ông bà vẫn nén nỗi đau, dựng lại nhà, tiếp tục sinh sống. Đến năm 1964, khi bị thả hai trái bom trên vườn nhà, sau nhiều trận càn và tuổi đã cao, không còn đủ sức chạy bom đạn, ông mới rời quê về sống với người con trai thứ sáu tại số nhà 158 Nguyễn An Ninh, phường Vĩnh Bảo, Tp Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Tiếp tục nuôi giấu cán bộ, khi có điều kiện, ông tiếp tế thuốc men, cá khô, thuốc hút, phương tiện xe cộ… Thường theo dõi chiến sự qua báo chí, biết ngày càng ác liệt, có quá nhiều người của cả 2 bên ngã xuống; ông lo cho con cháu còn đang chiến đấu. Ông mong ước hòa bình, để gia đình được đoàn tụ.
Ông Trần Quang Quy mất năm 1972, bà mất sau ông một năm. Sự nhớ thương, mong chờ gặp lại Võ Dũng và Hiếu Dân không bao giờ thực hiện được. Còn Hiếu Dân sau này về vẫn cứ tiếc: “Ông bà ngoại mất mà không kịp đợi con về”.


Chú Sáu Dân và gia đình bên vợ
Năm 1949, chú Sáu Dân là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá. Một lần đi công tác, ghé qua lớp học của Hội Phụ nữ mở tại rạch Đường Mốp, chú sáu gặp cô Kim Anh. Ngay từ cái nhìn đầu tiên chú đã xao động. Hỏi thăm chú Hai Hữu đi cùng thì biết, đó là con gái ông Năm Quy - một gia đình giàu có, từng hiến đất cho cách mạng. Từ đó chú Sáu thường ghé thăm nhà cô Kim Anh. Chuyện tình bắt đầu.
Khi ngỏ lời cưới cô thì chị thứ hai và anh thứ tư băn khoăn: không biết gia đình chú Sáu ở đâu; cha mẹ, anh em thế nào? Rồi chú là cán bộ cách mạng, chưa biết sống chết ra sao… nên không muốn gả. Riêng ông Năm là người có tư tưởng tiến bộ và có cảm tình với chú Sáu, mặt khác người chị thứ ba biết cô Kim Anh thương chú Sáu nên cũng nói vào. Ông Năm đồng ý gả cô Kim Anh cho chú.
Sau ngày cưới, chú luôn giữ liên lạc với gia đình. Thời gian chống Pháp, chống Mỹ, mỗi lần đi công tác gần nhà, chú cũng tìm cách ghé qua thăm Ngoại. Chú quan tâm và nhớ hoàn cảnh từng người trong gia đình.
Những chuyến về quê thăm mộ phần các cụ, chú Sáu vẫn nhắc lại kỷ niệm cũ: “… Ngày xưa không có chuyện rủ nhau đi chơi… - rồi chú nhìn Hiếu Dân cười - Ngày tết, đến nhà Ngoại là ba “xung phong” chụm lửa nấu bánh tét để được nói chuyện với má bay...”. Nhắc lại chuyện tình của ba má, Hiếu Dân trêu: “Ba đi vận động cách mạng Ngoại rồi “vận động” luôn cả má con… Con biết rồi, ba cưới má khi mới 17 nghen?”. Lúc đó chú Sáu vui vẻ: “Đâu có, má mày sắp 18 mà!” rồi cười mãn nguyện.
Sau này nghỉ hưu, thời gian sống ở nhà con gái Hiếu Dân, chú mới có thời gian dành cho gia đình bên vợ. Thỉnh thoảng chú cho rước bà chị thứ ba và anh thứ sáu lên chơi. Trong bữa cơm sum họp, chú thường nhắc lại chuyện ngày cưới: “Anh Sáu lấy những hạt gạo nhuộm đỏ, dán trên tấm kính chiếu thủy 2 chữ “Tổ Quốc”. Trong lễ tuyên hôn, cô dâu, chú rể trong bộ bà đen bằng vải san đầm; đứng trước bàn thờ Tổ quốc, xúc động như thấy có mình ở trong đó”.
Đám cưới cô chú được tổ chức đơn giản nhưng rất trang trọng, với sự chứng kiến của hai họ nội, ngoại cùng đông đảo bà con xóm giềng. Ông Nguyễn Thành Nhơn, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, đại diện tổ chức và cũng là “đại diện nhà trai”.
Chú Sáu cưới cô Kim Anh năm 1950. Cưới xong sống ở nhà Ngoại. Sau này, chú cứ nhắc mãi cái ao sen nhà ngoại đã bị lấp, từng chứng kiến kỉ niệm đẹp của 2 người. Cũng năm ấy, chú có lệnh ra Bắc. Lúc đó cô Kim Anh đã có mang Võ Dũng.
Cùng chuyến đi còn có một cán bộ cũng có cô vợ trẻ. Cô Năm Liễu (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Kiên Giang), người hoạt động cách mạng trong vùng, chứng kiến cuộc chia tay của 2 cặp vợ chồng, đã kể: “Cả 2 cô vợ đều con nhà giàu, rất trẻ, đẹp. Cô thầm nghĩ, không biết rồi đây họ có chờ đợi chồng được hay không? Vì đi ra Bắc thì biết ngày nào trở lại, không biết ai còn, ai mất!
Lúc chuẩn bị đi, cô vợ kia khóc dữ lắm, làm chồng phải quay xuồng lại tới 2, 3 lần mới dứt đi được. Còn má con gan lắm, khi xuồng ba con đi xa rồi mới khóc… Thật buồn, người phụ nữ kia không chờ đợi được, đã đi lấy chồng. Đó cũng là một thực tế phù phàng! Còn má Kim Anh của con vẫn một mực thủy chung, chờ ba bay trở về”.


Võ Dũng và những năm tháng sống ở bên ngoại
Tiễn chú Sáu đi Việt Bắc, cô Kim Anh vẫn sống ở nhà ông bà ngoại. Đầu năm 1951, cô sinh Võ Dũng mẹ tròn con vuông. Theo ý chú Sáu, cô đặt tên con trai đầu lòng là Phan Chí Dũng. Năm 1952, con trai thứ hai Phan Thanh Nam ra đời tại Việt Bắc. Biết tin, ông bà ngoại và má Võ Dũng muốn đưa Nam về sống bên ngoại.
Ở miền Nam, Võ Dũng lớn lên trong sự bảo bọc của ông bà ngoại. Ngoại thương Võ Dũng nhiều nhất vì là đứa cháu duy nhất còn sống với ông bà, hơn nữa ba Dũng đi làm cách mạng chưa về… Ngoại cũng thương má của Dũng vì là con gái út, lại phải sống xa chồng. Cô Kim Anh còn xắn áo xắn quần, đi nhổ mạ cấy lúa, giã gạo phồng cả tay… để “tự cải tạo thành phần” gia đình.
Khi má Kim Anh đi thăm ba, dẫn Dũng theo sợ lộ nên đã gửi Dũng ở nhà với Ngoại. Cậu Sáu Hiến thương cháu, đi đâu cũng cho Dũng đi cùng.
Năm 1954, khi Dũng được 4 tuổi, chú Sáu trở về. Đó là lần đầu cha con gặp nhau. Thời gian đó, chú hoạt động ở Bạc Liêu nên cô đi đi về về. Đầu năm 1956, Ngoại đưa cô Kim Anh ra bệnh viện Cần Thơ sinh Hiếu Dân; rồi năm 1962 sinh em Ánh Hồng.
Năm 1965, cô về nhà Ngoại, sinh em Chí Tâm ở Rạch Giá. Đầu năm 1966, trên đường lên R thăm chú Sáu, cô đã mất cùng 2 em trên con tầu Thuận Phong.
Tuổi thơ của Võ Dũng ở nhà Ngoại có rất nhiều kỷ niệm. Ai cũng nhớ, Dũng rất nghịch, từng bắt gà lôi của ông ngoại nhổ lông đuôi, gắn vào lưng quần, vừa khom lưng chạy vừa kêu “lức lức”; hay lấy lưỡi cưa trong nhà máy xay dắt vào lưng giả làm kiếm. Mỗi lần giục đi tắm thì cứ chạy vòng vòng quanh đống trấu. Tới giờ đi học thì lần khân, có khi trèo tót lên cây xoài, ngồi vắt vẻo không chịu xuống, má phải cầm roi mới đi…
Võ Dũng ở nhà Ngoại đến năm 1959 thì cùng má và Hiếu Dân qua Phnôm-pênh sống với ba. Ở đó, Dũng được học tiếng Pháp ở trường Lạc Hồng. Dũng rất nghịch, hay ném ống bơ cát qua nhà bên cạnh, bị thưa cảnh sát. Cảnh sát đến kiểm tra, làm cơ quan ta sợ địa điểm bị lộ, phải chuyển.


Ra Bắc rồi về Nam
Từ Phnôm-pênh, Dũng được các chú cho bay sang Hồng-Kông rồi đi phà biển vào Quảng Châu. Từ đây đi tầu liên vận về Hà Nội. Cô Bảy Huệ (phu nhân ông Nguyễn Văn Linh[3]) đón Dũng về nuôi.
Dũng được gửi xuống Hải Phòng học Trường Học sinh miền Nam số 19, 21 ở Cầu Rào. Đến năm 1963, Bộ Giáo dục trả số học sinh có ba mẹ hoặc người thân ở ngoài Bắc về với gia đình, Dũng lại về nhà cô Bảy Huệ. Dũng và Hiếu Dân được cô chăm sóc và coi cô như má. Các em trong nhà thì gọi Dũng là anh Hai.
Hè năm 1965, cô đưa Dũng lên Trường Văn hóa quân đội ở Trại Hòe, Hà Bắc, bắt đầu cuộc sống Thiếu sinh quân. Có lẽ vì từng tiếp xúc với lính Mỹ, ngụy mà những ngày ở trường, Dũng không hề sợ khi máy bay Mỹ bay qua. Có báo động, Dũng toàn đứng trên nóc hầm theo dõi trận không chiến. Khi thấy tên lửa SAM hay Mig-21 của ta bắn cháy máy bay Mỹ, Dũng nhảy lên hò reo.
Do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng, nhà trường di chuyển từ Trại Hòe lên An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái rồi sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc… Xa má đã 7 năm mà không có thư từ. Sốt ruột, hỏi thăm ba thì ba không trả lời. Hai anh em linh cảm có điều gì chẳng lành. Dũng bỏ học, nhiều lần xin được về nước chiến đấu. Cuối cùng, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh phải đồng ý.
Về nước, các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi học tiếp nhưng Dũng quyết xin về Nam. Thuyết phục không được, các chú cho Dũng về Trường Quân chính QK Tả Ngạn. Tại đây Dũng được học các yếu lĩnh cơ bản của người lính trận: lăn lê, bò toài, đào hầm hào, hành quân, bắn súng, ném lựu đạn, đặt mìn…
Mãn khóa, các chú có ý định cho Dũng đi theo đường qua Hồng-Kông về Campuchia. Dũng lắc đầu: “Mọi người có thể đi dọc Trường Sơn vào B2 thì cháu cũng đi được”. Tháng 8/1969, khi tập trung ở Đoàn huấn luyện cán bộ đi B trên Lương Sơn, Hòa Bình, các chú muốn phát cho Dũng tăng bạt, quần áo, đồ dùng tốt hơn, Dũng cũng không đồng ý.
Trước ngày lên đường, cô Bảy Huệ, cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Các cô rất lo, thằng cháu nghịch ngợm từ bé sẽ sống thế nào suốt dọc đường vào Nam, nó mà vô kỉ luật thì không chỉ tổn thất cho mình nó. Hiểu lo lắng đó, Dũng trả lời: “Các cô và em yên tâm đi, con sẽ không làm cô và em phải hổ thẹn. Con đi lần này, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!”. Hai cô rơm rớm nước mắt thương thằng cháu đã mất má và 2 em, giờ lại đi vào nơi hòn tên mũi đạn có thể dính bất kì lúc nào.
Cuối năm 1969, lên đường đi B. Anh Long, chị Phương cùng chuyến đi với Dũng kể lại, suốt dọc đường không ai biết nó là con ông to, lúc nào cũng vui cười, luôn kể chuyện, tán dóc, luôn sẵn sàng khoác ba-lô, súng đạn giúp người khác, có điếu thuốc thì cùng hút. Ngày chia tay các anh rẽ xuống B5 miền Trung, Dũng lấy trong ba-lô ra tút thuốc, chia đôi: “Anh cầm đi mà hút, em có rồi. Hết thì hút thuốc rê”.
Về đến căn cứ R trên Tây Ninh, ba, con gặp nhau. Nước mắt rưng rưng, chú Sáu ôm Dũng vào lòng: “Từ Rạch Giá, má con bế thằng Tâm mới 4 tháng tuổi, dắt theo Ánh Hồng đi cùng cô Ba giao liên, lên xe đò đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn lên con tầu Thuận Phong vẫn thường chở vợ con sĩ quan ngụy đi thăm chồng trên Tây Ninh.
Không ngờ khi tầu rời bến thì công lệnh “cấm tầu bè qua lại trên đoạn đường sông qua Củ Chi” do lính Mỹ mở trận càn trên sông, đã phát, nhưng nhân viên công vụ lại đi uống cà phê nên lệnh cấm đến trễ. Tàu đã xuất bến.
Sau hơn một giờ đồng hồ, con tầu vào khu vực cấm. Trực thăng UH-1 vè vè trên đầu. Chủ tầu cho tàu chạy ra giữa sông rồi cho trải cờ 3 sọc trên nóc. Phi công trên UH-1 điện về bến tầu thì biết công lệnh đã phát. Cho là “tàu Việt Cộng cải trang” nên từ trên UH-1 đã bắn rốc-két xuống tàu. Tàu chìm. Nhiều người bị chết và bị thương, nhiều người tìm cách bơi vào bờ, nhưng chúng tiếp tục quần thảo, bắn rát…
Nghe tin má và 2 em đi trên con tầu này, ba cùng các chú đã đi dọc bờ sông phía thượng nguồn tìm kiếm mấy ngày trời. Nhà Ngoại xin cấp giấy phép thuê tầu đi suốt từ hạ lưu sông Sài Gòn lên Củ Chi tìm mà không thấy. Đau lắm. Sợ con và em Hiếu Dân biết, buồn mà sinh bệnh nên ba dặn các chú giấu các con.
Giờ, con về đây, ba, con mình có nhau, làm cho ba vơi đi nỗi buồn vì mất mát lớn quá…”.
Cũng buổi đầu tiên gặp lại ba, Dũng kể chuyện được gặp Bác: “Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Dinh Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, con và em Dân cũng được dự. Các bạn thiếu nhi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo và ân cần hỏi thăm học tập ra sao, có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ, thầy cô.
Đến lượt con, Bác hỏi: "Cháu có ngoan không?". Con khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”. Bác xoa đầu con: “Giỏi! Cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!”. Nói rồi, Bác chia phần kẹo cho con”. Nghe đến đây chú Sáu xúc động ghì chặt Dũng vào lòng.
Về tới B2 nhưng không muốn sống ở trên chiến khu nên Dũng nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn thương nó mới từ miền Bác vào nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu, các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin. Chỉ một thời gian, Dũng không muốn làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi trực bên máy, con không chịu được. Phải cho con về quê má, xuống đơn vị…”.
Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc xin các chú xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị đóng ở Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 30km. Về trinh sát, Dũng không cậy mình là “con ông cháu cha” từ ngoài Bắc vào mà cùng chia lửa với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai cũng quý.
Chú Sáu Nam[4] ngày đó là Tư lệnh Khu 9, nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát; chưa kịp kéo Dũng lên cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972.
Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2 đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3 chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 hy sinh. Biết tin, đơn vị cử người tìm xác, chôn cất ngay bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá).


Nơi yên nghỉ cuối cùng của cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em
Ông Trần Quang Hiến nhớ lại: “Tới năm 1980, dượng Bảy (cô Kim Anh vợ chú là thứ bảy) mới cho bốc hài cốt Võ Dũng. Sau khi đưa đi hóa thân hoàn vũ, di cốt Dũng được để ngay trong phòng của dượng ở An Phú, quận 2. Từ đó, Dũng luôn được ở bên cạnh ba”.
Sau ngày con tầu Thuận Phong được cẩu lên nhưng bên trong chả còn lại gì. Chú cho xây 3 ngôi mộ gió cho cô Kim Anh và 2 em, ngay tại Củ Chi, nơi con tầu Thuận Phong bị bắn chìm. Sau này mới làm mộ gió cho cô và 2 em ở NTLS TPHCM, không xa Tượng đài Bà má Việt Nam anh hùng.

20 năm sau ngày cô Kim Anh ra đi, có người gợi ý làm thủ tục truy tặng danh hiệu liệt sỹ cho cô. Chú lắc đầu: “Mất mát của gia đình tôi cũng như mất mát của hàng triệu gia đình Việt. Đã 20 năm rồi, vết thương chưa thể lành hẳn nhưng làm việc đó để làm gì? Nếu làm chỉ khoét thêm nỗi đau bấy lâu!”.
… Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Chú cho đưa hài cốt Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió má và 2 em.
Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Vì sao không chuyển cô và các con về Vũng Liêm, Vĩnh Long mà lại có quyết định đó? Khi tìm hiểu thì chị Hạnh, cháu chú Sáu, cho hay: “Quê ngoại chính là nơi chôn rau cắt rốn của Dũng. Sinh ra, lớn lên đến khi ra Bắc, Dũng được sống với Ngoại nên có nhiều tình cảm và kỉ niệm. Ở ngoài Bắc, Dũng quyết tâm trở về quê hương chiến đấu, trả thù cho má, 2 em. Và chính trên mảnh đất này Dũng đã hy sinh. Đó chính là lí do để dượng quyết định đưa Dũng cùng má và 2 em về Sóc Trăng.
Hôm đưa Dũng về quê ngoại, chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh mình trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ. Nhìn Hiếu Dân ai cũng đều xúc động vì Hiếu Dân mất gần hết: má, anh Hai Dũng cùng 2 em; giờ chỉ còn lại một mình và anh Ba Nam…”.
Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn bị từ trước, do 2 điêu khắc gia Nguyễn Văn Sánh, Vũ Thế Thái thực hiện. Chân dung cô Kim Anh ở giữa, 2 bên là Ánh Hồng và Chí Tâm, phía dưới là Võ Dũng. Không được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng hình tượng Võ Dũng trên bức phù điêu rất sống động, có nhiều nét giống Dũng ngày ở trường.

Chú Sáu cùng vợ chồng Hiếu Dân bên mộ cô Kim Anh,
Võ Dũng, Ánh Hồng và Chí Tâm.


Trước nấm mộ của má Kim Anh, Võ Dũng và 2 em, Võ Thúc Minh – bạn thuở Thiếu sinh quân chống Mỹ – xúc động kể: “Trước ngày chia tay, Dũng nhờ tôi xăm lên cánh tay 2 chữ “Hoài Mẫu”. Tôi cầm cái kim khâu đã quấn chỉ, chấm mũi kim vào bát mực Tàu, run run chích từng mũi lên da thịt bạn. Máu bật ra, đau lắm. Mắt rơm rớm nhưng Dũng cắn răng chịu đựng. Tôi hiểu Dũng nhớ má, yêu má đến chừng nào…”.
Thầy bạn k5 bên Võ Dũng, cô Kim Anh và 2 em. Sóc Trăng 27/7/2017.


Nhìn bức phù điêu nhận ngay ra thằng bạn đôn hậu, nghĩa tình; nghịch ngợm, dũng cảm, liều lĩnh nhưng đầy bản lĩnh… Giá mà còn sống thì Võ Dũng sẽ là một cán bộ đầy năng lực.
Sài Gòn. Tháng 7/2018
Trần Kiến Quốc


Trường Văn hóa quân đội – Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-70) thuộc Tổng cục Chính trị QĐNDVN, đào tạo 8 khóa với 1200 học sinh, cung cấp cho quân đội gần 900 sĩ quan và hơn 1000 kĩ sư, bác sĩ, cử nhân… Có 2 thầy giáo và 28 học sinh đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có liệt sỹ Võ Dũng.



[1] Trong Nam bộ gọi cụ là cố.
[2] Một loại thuyền nhỏ có mui.
[3] Sau này là Tổng bí thư Đảng CSVN.
[4] Sau này là Đại tướng Lê Đức Anh.


Theo BÁO LIẾP "BẠN TRỖI K5", Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Lưu bút của Võ Dũng

Nguyễn Quang Vinh với nhóm: Bạn Trỗi K5 - 30 Tháng 7/2017 lúc 16:36 ·
Trong cuốn lưu bút của thày Xuyên B trưởng của K5 và K8 còn lưu bút của: Võ Dũng (trang 8), Vũ Kiên Cường (trang 11), Văn Huấn (trang 25) và...v..v..

Tran Kienquoc với nhóm: Bạn Trỗi K5 - 31 Tháng 7/2017 lúc 6:24
Võ Dũng lưu bút cho thầy Xuyên
Bạn rất quý thầy và rất hài hước khi gửi lại thầy lưu bút:
Gần nhau thì thấy bình thường
Xa nhau thì thấy tình thương dạt dào
Hay đã chúc thầy:
- Ăn không ngon, ngủ không yên,
- Ngày ốm 2 lần trưa và tối.
Bạn kí tên Võ Văn Dũng (tức Võ Trường Chiến)






Xem:
Lưu bút - Thầy Xuyên.pdf


Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ MỘ PHẦN LS VÕ DŨNG

Tran Kienquoc 1 Tháng 8/2017 lúc 7:34
Năm 1967, Dũng từ Quế Lâm về nước. Chiểu theo nguyện vọng của Dũng, các chú cho Dũng vào học ở trường Quân chính quân khu Tả Ngạn, ngay trước dãy núi Chí Linh, Hải Dương. Cuối năm 1969, sau khi tập trung trên trường Huấn luyện cán bộ đi B ở Lương Sơn, Hòa Bình, Dũng theo đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Trước khi đi, cô Bảy Huệ, dì Tư Duy Liên và Hiếu Dân lên thăm. Cô Bảy lo lắng vì thằng cháu ngỗ nghịch, sợ không chịu được gian khổ chiến trường. Dũng đã trả lời: "Con đi lần này, 1 - xanh cỏ, 2 - đỏ ngực. Con sẽ không làm cho cô, dì Tư và em phải hổ thẹn!".

Vào tới B2, gặp ba nhưng Dũng không muốn ở trên chiến khu mà nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn mỗi nó là con trai nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu, các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin.
Chỉ một thời gian, Dũng không muốn làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi bên máy, con không chịu được. Phải cho con về quê má, xuống đơn vị chiến đấu, trả thù cho má”.

Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc xin các chú cho xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị Dũng đóng ở Hồng Vân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 80-90km. Về trinh sát, Dũng không cậy mình là “con ông cháu cha” mà cùng chia lửa với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai cũng quý.
Chú Sáu Nam ngày đó là Tư lệnh Khu 9, nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát. Chưa kịp kéo Dũng lên cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972.

Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2 đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3 chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 đã hy sinh. Biết tin, đơn vị đã cử người tìm xác và chôn cất ở ngay bên bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Vân, tỉnh Rạch Giá).

Sau giải phóng tới 1980, chú Sáu cho cải táng mộ Dũng, cho hóa thân rồi cho vào hộp tro luôn để trong phòng ngủ, cạnh bàn làm việc. Vậy là lần này Dũng được sống mãi với ba.

Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Trước kia vẫn để di cốt Võ Dũng ngay cạnh bàn làm việc, nay chú phải đưa Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió của má và Ánh Hồng, Chí Tâm ở NTLS TPHCM. Chúng tôi từng đến thăm mộ bạn. Ngôi mộ nho nhỏ, trắng toát, xếp cùng mộ đồng đội thành bông hoa 9 cánh - như đội hình 1 tiểu đội trong chiến đấu.

Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Vì sao không chuyển cô và các con về quê chú ở Vĩnh Long mà chú lại có quyết định đó? Chúng tôi có hỏi chị Hạnh và Hiếu Dân thì hay: Quê ngoại chính là nơi chôn rau cắt rốn của Dũng; từ khi sinh ra, lớn lên đến khi ra Bắc, Dũng được sống với bên ngoại nên có nhiều tình cảm và kỉ niệm với mảnh đất cùng cô bác, anh chị trong họ; ở ngoài Bắc, Dũng quyết tâm trở về quê hương chiến đấu để trả thù cho má và 2 em; chính trên mảnh đất này Dũng đã chiến đấu và hy sinh. Đó chính là lí do để chú quyết định đưa Dũng cùng má và 2 em về Sóc Trăng.
Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn bị từ trước, có hình cô Kim Anh, Võ Dũng, Ánh Hồng và Chí Tâm, do 1 điêu khắc gia người Sài Gòn thực hiện. Chưa được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng nhìn hình ảnh Võ Dũng trên bức phù điêu ấy thấy rất sống động, có nét giống Dũng.







Hôm đưa Dũng về quê ngoại, chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ.
Thật cảm động trước toan tính của chú trước lúc đi xa. Ba năm sau, chú mất.










Ảnh ghép thêm Dũng, Dân và bé Chí Tâm.





Viếng thăm bạn LS Võ Dũng

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ
27/7/1947-27/7/2017

Bài tổng hợp

Những việc làm ý nghĩa trong
"Tháng 7 tri ân các AHLS và người có công"

(Trích)
TranKienQuoc, Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017, BÁO LIẾP "BẠN TRỖI K5"
[...]
Thầy trò chúng tôi vừa có 2 ngày (22 và 23/7) cùng sống, cùng hành quân, cùng trải nghiệm trong chuyến đi về Miền Tây, đến thăm 2 bạn học Huỳnh Kim Trung và Võ Dũng.
Hai bạn của chúng tôi đều hy sinh năm 1972, khi vừa tròn 20 tuổi. Hai đứa mãi mãi tuổi 20 đến hôm nay tròn 45 năm. Chúng tôi tự hào vì các bạn.

Huỳnh Kim Trung hiện an nghỉ ở NTLS Tiền Giang, ngay bên quốc lộ 1. Chúng tôi đến với bạn khi mặt trời đã đứng bóng vì chiếc xe County chở đoàn bị nổ lốp trên đường cao tốc HCM - Trung Lương. Phải mất 3 tiếng gọi cứu hộ thay lốp. Nhưng Huỳnh Kim Trung đã gặp được 2 thầy và gần 30 bạn cũ.
Dọc đường đón thêm Hà Văn Công, Nguyễn Bình bạn cùng k5 và anh Nguyễn Nam Khánh k2 Trỗi.

Võ Dũng cùng má Trần Kim Anh và 2 em Phan Thị Ánh Hồng, Phan Chí Tâm, năm 2005 được chú Sáu Dân đưa từ NTLS TPHCM về Sóc Trăng, quê cô Kim Anh. Võ Hiếu Dân, em gái Võ Dũng, vì bận việc không đi cùng đã cử Quý (tài xế của Cty), giỏi nghề (tay lái lụa), thông thạo địa bàn, dẫn đường rồi gia đình ra đón tận ngoài lộ. Đường vào nhà không thể đi bằng ô tô nên chúng tôi được gia đình đón bằng xuồng (lãi) theo 5km đường kênh rạch vào nhà.
Chúng tôi đã được thắp hương tại Trần Lăng Chi Mộ - khu mộ của các cụ ngoại Võ Dũng tới đây khai khẩn hơn 150 năm qua, xây dựng thành 1 khu trù phú, có thương cảng, có nhà máy xay xát gạo đầu tiên của Miền Tây.
Bốn má con Võ Dũng được cải trong cùng 1 nơi với 1 bức phù điêu bằng đá, có mặt cả 4 người. Nhìn Võ Dũng rất giống ngày còn sống với chúng tôi.
Sau khi thắp hương, ghi hình, chúng tôi trở về nhà và được chiêu đãi 1 bữa cháo vịt siêm ngon như chưa bao giờ được ăn (nhất là bữa trưa chưa được dùng). Dưới trời đêm mát lạnh, chúng tôi cùng thân nhân của Võ Dũng trò chuyện. Thật cảm động khi nghe người nhà tâm sự, đây là lần đầu tiên sau giải phóng có các bạn của Võ Dũng về thăm quê.
Trò chuyện mới hay, lúc 1g chiều có cơn mưa lớn lắm. À, vậy ra cô Kim Anh và Võ Dũng cố tình đánh "pan" cho nổ lốp trước của xe (mà là lốp bên phải, để xe an toàn dạt vào lề đường) và tránh được cơn mưa. Vì theo kế hoạch thì 1g chiều, chúng tôi sẽ đi xuồng từ bến ở lộ vào nhà. Nếu vào lúc đó thì ướt mem cả đoàn.
Tối 22/7, về tới Đoàn an dưỡng 30 Cần Thơ đã rất muộn (21.30) nhưng cả đoàn vẫn ra bờ sông ăn bữa cơm bộ đội. Trò chuyện tới gần 24.00 mới giải tán về ngủ.

Sáng 23/7, dù ngủ ít nhưng hơn 20 thầy bạn cũng có chuyến du lịch trên sông, thăm Chợ nổi Cái Răng - di sản văn hóa phi vật thể của vùng sông nước miền Tây. Không gì vui hơn khi cùng được sống với thầy, bạn cũ.

Sau khi rời nhà nghỉ, chúng tôi đến thăm nhà thầy Trần Sinh.- thầy giáo TDTT, tác giả bài thể dục "36 động tác võ tay không", nguyên Trưởng ban Võ toàn quân. Thầy dạy chúng tôi cả bài Đâm lê Quyết thắng... Nhờ thầy mà chúng tôi có sức khỏe vào đời.
Thầy mất cách đậy dăm năm. Trong đám tang, thật buồn vì người lính già của Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp lại không được phủ quân kì trên linh cữu. Và, thầy trò Trường Trỗi đã "xử lí kịp thời" để điều đó không xảy ra. Ngày đưa thầy đi, mọi thủ tục đầy đủ. Ấy cùng là tình cảm, là cư xử trọng nghĩa với đồng nghiệp, với thầy giáo!
Sau khi thăm gia đình thầy Trần Sinh, chúng tôi xin phép ra về. Dù chân yếu lắm, cô vẫn ra tận nơi xe dừng, tiễn chúng tôi. Thật cảm động!

Em Hiếu Dân mời đoàn tới thăm Khu tưởng niệm chú Sáu Dân ở Vũng Liêm nên chúng tôi phải tách đoàn: Thầy Vọng, thầy Trinh cùng Khánh Hòa, Kiến Quốc đi Vũng Liêm; xe County chở Thế Thịnh cùng anh em tới thăm Nhà máy bia của Hà Văn Công. Cuộc đón tiếp và giao lưu với cán bộ, CNV Bia Vĩnh Long đã được các bạn tường thuật.
Riêng đoàn đi Vũng Liêm được tài Quý chở, đã tới lúc 10.30. Anh Nghiêm, Phó chủ tịch Vĩnh Long, được báo đã chờ đón tiếp đoàn. Quả thật làm chúng tôi ái ngại quá. Nhưng ngay từ phút đầu, khách, chủ trở nên thân thiết.
Sau khi trò chuyện ở phòng khách, chúng tôi cùng anh Nghiêm vào thắp hương tưởng niệm chú Sáu. Thầy Vọng thay mặt thầy trò nhà trường có mấy dòng lưu bút vào sổ lưu niệm.
Sau đó, vào thăm ngôi nhà chú hay về nghỉ mỗi chuyến đi về. Nhìn gian phòng ngủ giản dị, được trang bị cái TV Sony cũ mà cảm phục 1 con người. Phú quý, sang trọng chả nghĩa gì!
Trước phòng ngủ là nơi hội họp với bộ bàn ghế gỗ được giữ gìn từ ngày chú còn sống. Ngay bên phòng ngủ của chú là phòng nghỉ của bác sĩ và bảo vệ. Rất mộc mạc, gần gũi và bình dị.
Ngay cạnh phòng ngủ là cái ao chú hay ra câu cá giải trí.
Cách 1 con đường là công viên NKKN. Chú từng tham gia NKKN. Sinh thời chú có ý tưởng xây dựng công viên này ngay trung tâm huyện Vũng Liêm. Theo nguyện vọng của chú, năm 2010, đã khởi công xây dựng công viên. Nơi cao nhất Vũng Liêm là ngọn đồi nhân tạo với tượng bán thân của bà Hồng - đàn chị của chú Sáu trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 1940, người chỉ huy trực tiếp chiếm và làm chủ huyện lỵ Vũng Liêm trong 3 ngày.
Trưa, đoàn được anh Nghiêm mời bữa cơm với đặc sản Vũng Liêm: trạch om nghệ, tôm hùm...
Anh Nghiêm cảm động khi được đón thầy trò Trường NVT - những thầy, bạn của anh Võ Dũng, con chú Sáu. Anh cũng cảm đông khi được nghe chúng tôi kể lại những kỉ niệm đẹp với Võ Dũng. Anh có lời mời anh chị em trường ta về Vũng Liêm thăm khu tưởng niệm chú Sáu.
Thầy Vọng, thầy Trinh đã tặng anh Nghiêm huy hiệu trường Trỗi và huy hiệu Đại tướng và anh xin phép được công nhận là lính Trỗi k9. Tôi chia sẻ với anh Nghiêm: "Sau Cụ Hồ thì Đại tướng và chú Sáu Dân là những người được dân quý, dân yêu. Đó cũng là vinh dự cho Vũng Liêm quê anh!".



Huynh Kim Thanh 22/7/2017 lúc 11:15
Sáng 22/07/2017
Đoàn cựu hs trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi chuẩn bị khởi hành đi miền Tây tri ân các AHLS bạn học K5 của trường.

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Trích BÊN THẮNG CUỘC - Huy Đức

Trích BÊN THẮNG CUỘC
Huy Đức

[...]
Hai anh em Võ Dũng và Hiếu Dân nhận được tin mẹ và hai em ngay sau Tết năm ấy. Đây không phải là hoàn cảnh cá biệt ở trường học sinh miền Nam. Sau năm 1954 nhiều cán bộ miền Nam không đi tập kết. Với một số cán bộ cao cấp, Đảng đưa vợ con họ ra Bắc trước như bà Ngô Thị Huệ, vợ ông Nguyễn Văn Linh, bà Nguyễn Thuỵ Nga, vợ miền Nam của ông Lê Duẩn. Một số gia đình đã “chia sẻ rủi ro” bằng cách gửi một vài đứa con ra Bắc trong khi cha mẹ vẫn chiến đấu ở miền Nam.
Nhiều người không ngờ miền Bắc “thiên đường của các con tôi”(164) lại thiếu thốn khó khăn như vậy. Bà Bảy Huệ kể:
“Chúng tôi nghèo lắm, lương của tôi, vụ phó được chín mươi ba đồng, nuôi cả bầy con. Mấy đứa trẻ như thằng Dũng, con Hiếu Dân đều ở trong nhà tôi. Tiêu chuẩn mỗi đứa được bốn thước vải mỗi năm mà chúng lớn như thổi, lại nghịch phá, quần áo cứ chẳng mấy lúc mà rách, mà ngắn, chật. Thấy tôi khó khăn, anh Phạm Hùng kêu Ban Thường Vụ Quốc hội cho truy lĩnh tiền lương đại biểu Quốc hội khoá I từ 1946-1959 của tôi, được một khoản tiền lớn, tôi đem gởi Văn phòng Trung ương xài dần”.
Nhưng, thiếu thốn chưa phải là điều mà những đứa trẻ như Võ Dũng khó thích nghi với miền Bắc.
Chị Hiếu Dân kể:
“Trước khi chia tay, má tôi chuẩn bị cho một xấp váy áo, cái nào cũng đẹp. Ra Bắc, một hôm tôi mặc một cái váy ngắn một chút trên đầu gối. Anh Dũng liền kêu vào nhà đánh cho tôi mấy roi và bắt thay ngay. Anh tôi sau đó đã xé đi những bộ đồ đẹp nhất mà má tôi mua cho. Lúc đầu tôi rất ấm ức. Nhưng về sau, nhìn xung quay mới thấy không có đứa trẻ nào mặc váy, không ai mặc đồ màu mè sặc sỡ, tất cả chỉ có màu lính hoặc là màu sẫm. Tôi mới hiểu vì sao anh tôi làm vậy”.
Cả Hiếu Dân và Võ Dũng đều ra tới miền Bắc khi đã lên chín lên mười. Họ đã biết quan sát và so sánh giữa hai môi trường xã hội: miền Nam và miền Bắc. Bà Bảy Huệ kể:
“Võ Dũng là một đứa trẻ rất hiếu động. Giữa đám trẻ không mẹ không cha ấy, Dũng nổi lên như một ‘thủ lĩnh’. Nhiều khi ra đường quậy phá, bị công an giữ, nó lại tìm cách chạy về gặp tôi nói ‘có chuyện quan trọng, cô Bảy phải ra ngay’. Thế là tôi lại phải đi bảo lãnh cho chúng nó. Hồi bọn trẻ học ở Hưng Yên, có bữa Võ Dũng muốn đãi những bạn bè học sinh miền Nam - những đứa trẻ thiếu chất và ăn không bao giờ đủ no - một bữa tươi, nó báo với ông chánh Văn phòng Tỉnh uỷ là ‘ngày mai đám giỗ mẹ’. Thế là Văn phòng Tỉnh uỷ lại chuẩn bị mấy mâm cho nó mời bạn bè. Với bạn bè thì hết lòng, nhưng Võ Dũng không bao giờ chấp nhận sự áp đặt của người lớn. Hồi mới ra Bắc, bác Hồ có kêu mấy đứa trẻ con em miền Nam tới Phủ Chủ tịch. Dũng được bác Hồ gọi đến hỏi: ‘Cháu ngoan không?’. Nhìn đĩa kẹo bánh mà Bác sắp cho các cháu ngoan một cách thèm thuồng nhưng Dũng vẫn nói: ‘Cháu không ngoan’. Về nó bảo tôi: Cháu nói thật”. Theo bà Bảy Huệ: “Bình thường thì nó cũng ngoan như cháu ngoan bác Hồ, nhưng gặp chuyện ai ăn hiếp bạn bè là nó sống chết. Thông minh, gan dạ và hào hiệp lắm”.
Sau này khi gặp nhau trong chiến trường miền Nam, nghe Võ Dũng kể, ông Kiệt mới hiểu những đứa trẻ học sinh miền Nam như Dũng có mặc cảm, người lớn ở miền Bắc không bao giờ chịu nghe chúng nó. Ông Kiệt nói:
“Khi mới vào nó cũng thăm dò ngay cả mình. Nó nghĩ mình cũng giống như mấy ông bà ngoài Bắc quen áp đặt, có nói lại thì không nghe không hiểu ngôn ngữ của nhau. Ở chiến trường một thời gian, nó nói, mấy chú trong này mới lắm”.
Cái chết của mẹ và hai em trở thành một động lực trực tiếp để Võ Dũng kiên quyết vào Nam, phần để “trả thù cho mẹ”, phần để thoát khỏi không gian tù túng đang bó chân một chàng trai mười tám. Năm 1969, anh nhập ngũ sau đó đi thẳng vào Trung ương Cục. Lần đầu vào chiến trường nhưng khi phải di chuyển xuống Khu IX, Võ Dũng đã chọn con đường công khai. Trong vai một Khmer kiều, Võ Dũng được người giao liên của bố anh, bà Sáu Trung, đưa về từ Châu Đốc, theo xe đò xuống Rạch Giá.
Sau khi vợ và hai con mất, ông Võ Văn Kiệt vừa cần một người thân ở bên cạnh vừa, trong thâm tâm, muốn giữ an toàn cao nhất cho con mình. Võ Dũng được đưa về ở trong cơ quan Khu uỷ, cạnh cha. Bác sỹ riêng của ông Võ Văn Kiệt, ông Huỳnh Hoài Nam kể:
“Ổng dặn tôi kèm Dũng, ‘có khó khăn gì mày lo’. Nhưng Dũng rất ngang bướng, nó cứ đòi xuống đơn vị. Dũng kêu: Em về đây để chiến đấu chứ đâu phải để đào hầm cho ba em núp”.
Năm 1971, sau khi lãnh đạo Khu lấy lại được tư thế sau những tổn thất ghê gớm của Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt phát động đưa con em cán bộ ra mặt trận. Dũng nhân đấy nói, không lẽ kêu gọi con người ta ra trận mà con mình ngồi trong cứ, thế là đòi đi. Bác sỹ Nam kể:
“Ổng kêu tôi làm công tác tư tưởng. Tôi nói: ‘Dũng, em về miền Nam làm gì?’. Nó bảo: ‘Chiến đấu trả thù’. ‘Vậy em có thấy bọn anh chiến đấu không?’. Nó bảo: ‘Có, nhưng chiến đấu trong xó không hà’. Tôi lấy chuyện mẹ và các em đã mất ra khuyên can, Dũng vẫn dứt khoát. Ông Kiệt thấy thế đành bảo, thôi để nó đi”.
Dũng đòi bằng được ra một đại đội trinh sát. Ông Kiệt nhớ lại:
“Ông Lê Đức Anh biết chuyện định chuyển cháu về pháo binh, chưa kịp ra quyết định thì Dũng mất”.
Võ Dũng hy sinh ngày 29-4-1972 khi đang luồn qua những hàng rào dây thép gai trinh sát. Theo anh Hồ Văn Út, cận vệ của ông Kiệt:
“Hôm sau, mấy bà má phải vào đồn lính, xin xác Dũng về an táng bên kênh Tư Ký, Sóc Trăng”.
Ông Võ Văn Kiệt nhận được tin con trai hy sinh khi đang chủ trì cuộc họp Thường vụ Khu uỷ. Gương mặt người chính uỷ tái lại, nhưng ông chỉ mím môi để cho nước mắt chảy vào trong.
Những người cận vệ luôn sống cách ông vài bước chân cũng không khi nào nhìn thấy ông Kiệt khóc. Trước ba quân, vẫn là một ông Tám Thuận mạnh mẽ. Nhưng, khi trở về trong chòi riêng ông trở thành một con người khác, lặng câm, cô độc. Bác sĩ Huỳnh Hoài Nam kể:
“Ông thích uống cà phê sữa nhưng dạo ấy ông thường kêu tụi tôi làm ‘chà và đen’, cách ông gọi cà phê không. Đó là loại cà phê dành cho những đêm không ngủ. Kể từ khi bà Trần Kim Anh và hai đứa con thơ mất tích trên sông Sài Gòn, có hai kỷ vật lúc nào cũng được ông Kiệt giữ bất li thân đó là bức chân dung của bà và bộ đồ bà ba may bằng lụa tơ tằm. Bác sĩ Nam kể: “Mỗi khi dời cứ, thường chúng tôi giúp ông xếp đồ. Riêng tấm hình và bộ đồ của bà thì tự tay ông làm lấy”...

Trích "Tản mạn chuyện cũ" - Trần Phong K5

Trần Phong K5

… Hè năm 1963, Võ Dũng sang nhà tôi chơi. Anh em mến nhau, Võ Dũng xin phép cha tôi được ở cùng anh em chúng tôi. Võ Dũng gọi cha tôi bằng Ba. Hết mùa hè, chúng tôi vào học lớp 4 trường Phổ thông Nguyễn Trãi ở đầu phố Cửa Bắc. Tại đây, chúng tôi đã gặp các bạn: Phan Đức Dũng, Nguyễn Đôn Hoà, Huỳnh Kim Trung (anh hùng liệt sĩ). Tôi còn nhớ trường Nguyễn Trãi khá đẹp, kiến trúc kiểu thực dân Pháp. Tôi và Võ Dũng học chung một lớp. Cô giáo CN lớp chúng tôi có tên là Liên Hương. Cô trẻ và xinh nhất trường. Có lần, chúng tôi đang làm bài tập trong lớp, cả lớp im phăng phắc. Trần Lãnh thò đầu nhìn vào lớp học và bảo: "Cô giáo ngủ gật rồi!". Cô giáo đứng phắt dậy, Trần Lãnh bỏ chạy mất. ("Hay thật! Cái tay TP này chuyện gì cũng nhớ, nhất là những chuyện không đứng đắn lắm" - Trần Lãnh nói).

Hồi ấy, Võ Dũng có nhiều bạn bè. Nhóm của Võ Dũng làm cho cô giáo CN lo ngại. Cô sợ kết quả học tập của Võ Dũng không đạt. Cô giáo đã đến gặp cha tôi và bàn bạc một hồi. Vài ngày sau, có một bạn gái, học lớp khác, thật dễ thương đến gặp cha tôi và bảo đến kèm Võ Dũng học tập theo yêu cầu của cô giáo CN. Họ nhanh chóng trở thành đôi bạn học tập. Từ đó Võ Dũng học khá hẳn lên. Bọn con trai chúng tôi chọc ghẹo cô gái là nàng Châu Long vâng lệnh chồng là Dương Lễ đến nuôi chàng hàn sĩ Lưu Bình. Cô gái ngượng ngùng, một thời gian sau không đến nữa. Nhưng kể từ đó, sức học của Võ Dũng khá hơn nhiều. Chúng tôi cùng tốt nghiệp tiểu học. Sau đó, tôi theo gia đình đi sơ tán, còn bạn Võ Dũng về nhà cô Bảy Huệ (phu nhân cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh). Sau này, anh em tôi gặp nhau tại trường Thiếu sinh quân ở Việt Bắc.

(Trích „Tản mạn chuyện cũ” - Trần Phong, 03/06/2011, Blog Tran Phong http://vn.360plus.yahoo.com/tranvanphongk5/article?mid=66.)

Võ Văn Kiệt – Trong bóng dáng một người cha

Võ Văn Kiệt
Trong bóng dáng một người cha

Nguyễn Thành Phong

Thủ tướng Võ Văn Kiệt là một nhà lãnh đạo xuất sắc của Việt Nam. Ông đã để lại dấu ấn quan trọng trong việc hoạch định và lãnh đạo đường lối Đổi mới đất nước từ năm 1986. Nhiều công trình lớn, có ý nghĩa đặc biệt với quốc kế dân sinh được khởi thảo và thực hiện từ vầng trán của ông. Trong cuộc sống riêng, ông là một người con, người chồng, người cha như bao con người chúng ta, nhiều đồng cảm với chúng ta. Nhân những ngày Xuân sống với không khí gia đình, xin cùng ôn lại một câu chuyện nhỏ về ông...


Chân dung cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt


Ngày 12/7/1995, buổi sáng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu trực tiếp trên Đài truyền hình Việt Nam để tuyên bố hoan nghênh Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton quyết định bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Buổi chiều hôm đó, ông cho gọi tôi lên để nói chuyện về người con trai đầu của ông, người lính Phan Chí Dũng - đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Khu 9 thời chống Mỹ.
Cuối năm 1994, tuần báo Thanh Niên Thời Đại (khi đó tôi là thư ký toà soạn) có biên tập và in một bài báo nhỏ từ câu chuyện của một người bạn học với Phan Chí Dũng. Chuyện rằng: Dù bận trăm công ngàn việc trong cương vị Thủ tướng mà mới đó, chú Sáu Dân đã cho gọi những đứa bạn cùng học với con trai mình hồi tập kết ra Bắc tới và dành hẳn một buổi để trò chuyện, tâm tình. Ông ngồi lặng đi, mái tóc bạc rung khẽ, khi nghe các bạn của Dũng kể về những ngày sống và học tập cùng con trai ông, những phút giây Dũng buồn bã thẫn thờ khi nhớ tới ba, mẹ và các em cùng quê hương còn mịt mờ trong máu lửa. Ông chăm chú tới từng chi tiết nhỏ như cố tìm kiếm điều gì… Rồi ông hỏi:
- Khi đi học ngoài này, Dũng có thương một cháu gái nào không? Nếu có, các cháu cho chú biết để chú có thể tìm…
Tất cả lặng đi vì tấm lòng thăm thẳm của người cha này. Như bao nhiêu người cha khác, ông vẫn luôn tìm kiếm dấu vết còn lại của đứa con đã hy sinh.
Sau khi bài báo in ra, tôi có dịp gặp ông tại Lễ khánh thành Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Ông nói với tôi:
- Chú mới đọc bài báo và càng thêm nhớ Dũng nhiều… Chú không biết tụi bay đưa chuyện này lên báo. Nếu biết, chú đã có thể kể thêm nhiều chi tiết nữa về Dũng…

Sau đó, vào đầu tháng 7/1995, tôi có đề nghị được ông kể cho nghe thêm về Phan Chí Dũng. Chính vì thế mà chiều hôm đó, trước chuyến đi công tác dài ngày ở các tỉnh phía Nam, ông đã cho gọi tôi lên.
Ngồi với ông trên ghế đá dưới vòm cây xanh Phủ chủ tịch, tôi nghe ông kể:
- Dũng là con cả của chú. Năm 1951, khi chú lên đường từ trong Nam ra Việt Bắc dự Đại hội lần thứ II của Đảng thì mẹ Dũng có thai và cuối năm đó sanh Dũng. Dự Đại hội xong, chú quay lại chiến trường miền Nam. Rồi Dũng có thêm hai đứa em nữa. Em trai kế Dũng tên là Nam và cô em gái Hiếu Dân. Sau năm 1954, tình hình miền Nam dần dần ác liệt hơn. Ba anh em Dũng cùng nhiều thiếu nhi con em cán bộ miền Nam được lần lượt đón ra Bắc để ăn học. Chia tay, cô chú thương tụi nhỏ ghê gớm. Nhưng tình hình như vậy, còn biết làm sao? Chúng còn quá nhỏ và nhớ ba mẹ dữ lắm.
Đầu năm 1966, báo chí và Đài Tiếng nói Việt Nam ngoài miền Bắc đưa tin và cực lực phản đối việc giặc Mỹ bắn vào chiếc tàu đò Thuận Phong chở toàn dân thường gồm trẻ em, người già và phụ nữ đi trên sông Sài Gòn. Lúc đó, Mỹ tiến hành trận càn quy mô lớn đầu tiên đánh vào vùng “Tam giác sắt” Củ Chi - Bến Cát. Máy bay trực thăng Mỹ quần đảo trên bầu trời. Chiếc tàu Thuận Phong đã lọt vào những con mắt khát máu. Mặc dù biết đây là tàu đò chở dân thường qua lại trên sông Sài Gòn đoạn từ thị xã Tân An lên tới Dầu Tiếng, nhưng để đề phòng hậu hoạ, máy bay Mỹ đã xả súng bắn tới tấp. Chiếc tàu với hơn hai trăm dân thường đã bắt đầu chìm, máu dân thường đã loang đỏ mặt sông mà mấy chiếc trực thăng vẫn châu vào vãi đạn xuống cho tới khi chiếc tàu chìm hẳn mới thôi. Một đoạn sông bầm sẫm máu…
Khi sự kiện này xảy ra, chú Sáu Dân đang công tác ở cơ sở tại Nhà Bè, phía Nam khu Sài Gòn - Gia Định. Nghe tin, ông bồn chồn lo lắng không biết có đồng chí cán bộ hay giao liên nào của ta đi trên con tàu ấy và bị hy sinh? Ông không ngờ một đau thương mất mát rất lớn đã đến với ông: Người vợ thân yêu của ông cùng hai đứa con nhỏ xíu, sinh ra sau khi ba anh em Dũng đã được đón ra ngoài Bắc, trong đó đứa con trai út mới năm tháng tuổi ông còn chưa biết mặt, đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông Sài Gòn cùng chiếc tàu này. Bà mẹ cơ sở mà ông coi như mẹ đẻ, người đã về thành phố để đón vợ con ông lên căn cứ, cũng cùng nằm lại nơi đây. Cho tới khi từ cơ sở Nhà Bè về tới căn cứ Củ Chi, ông mới biết chuyện. Nỗi đau như cơn bão cuộn xoáy trong tâm can ông…
Tin mẹ và hai em bị giặc giết, không biết bằng cách nào đã đến trường học sinh miền Nam ở ngoài Bắc và Dũng đã biết được. Anh bắt đầu nung nấu ý định xin vào bộ đội chiến đấu trả thù cho mẹ và hai em. Dũng xin đi học lái máy bay chiến đấu. Anh to khoẻ, mọi tiêu chuẩn đều đạt, duy chỉ có một chiếc răng hỏng nên bị loại. Sau khi tốt nghiệp cấp III, trong khi nhiều bạn học đi vào đại học hoặc tới học viện quân sự ở nước ngoài thì Dũng nằng nặc đòi vào Nam. Các bác các chú có phân tích, khuyên nhủ thế nào Dũng cũng không nghe, cứ nhất quyết đòi vào Nam để được chiến đấu và gặp ba. Đòi riết rồi anh cũng được chấp nhận.
Sau rất nhiều ngày hành quân gian khổ, Dũng tới được vùng Củ Chi và gặp lại ba. Hai cha con ôm nhau sau bao ngày xa cách, sau mất mát đau thương. Dũng nói với ba:
- Con sẽ ở với ba một thời gian cho thoả bao lâu nay phải xa ba. Rồi ba cho con xuống đơn vị trực tiếp chiến đấu.
Thời gian đó (khoảng cuối năm 1970) tình hình chiến trường hết sức căng thẳng, nhất là ở Khu 9. Giặc Mỹ triển khai kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, tiến công càn quét ghê gớm để chuẩn bị ngồi vào bàn Hội nghị Paris. Ba của Dũng khi đó là Bí thư khu uỷ Sài Gòn – Gia Định. Trên quyết định đưa ông xuống tăng cường cho Khu 9. Thấy ba chuẩn bị đi xuống chiến trường trực tiếp chiến đấu, Dũng nhất quyết đi theo. Nhận thấy quyết tâm của con trai, ông đã đồng ý cho Dũng đi. Dũng hăm hở lao vào cùng tổ bảo vệ chuẩn bị đi xuống Khu 9 trước để lo căn cứ, còn ông sẽ xuống sau. Từ Sài Gòn – Gia Định xuống tới Khu 9 xa tới mấy trăm cây số và có hai cách đi: Đi bí mật và đi công khai. Đi bí mật thì an toàn nhưng mất nhiều thời gian, còn đi công khai trên các tuyến xe đò thì nhanh hơn, mất chưa tới hai ngày nhưng rất mạo hiểm vì Dũng đang trẻ, ở độ tuổi quân dịch, dễ bị vây bắt đi lính như chơi.
Ông gọi Dũng tới và hỏi:
- Có hai cách đi đó. Con chọn cách đi nào?
- Con đi công khai! – Dũng đáp quả quyết.
- Nhưng như vậy nguy hiểm lắm. Con đã lường hết chưa?
- Con đã tính hết rồi. Ba cứ yên tâm.
Nói như vậy nhưng Dũng vẫn phải qua một cuộc “sát hạch” rất kỹ lưỡng. Người trực tiếp “sát hạch” Dũng là cô Sáu Trung. Cô là một cán bộ giao liên giàu kinh nghiệm, rất mưu trí và dũng cảm (Sau này cô Sáu Trung được phong danh hiệu Anh hùng và trở thành người thân thiết trong gia đình chú Sáu). Cô Sáu Trung đặt ra bao nhiêu câu hỏi về các tình huống có thể xảy ra và bắt Dũng phải trải lời về cách xử lý thật chi tiết. Dũng đã trả lời đạt yêu cầu cô Sáu Trung. Cô tới nói với ba của Dũng:
- Thằng Dũng được lắm. Anh cứ cho nó đi công khai. Xuống đó chắc nó còn làm nên chuyện nữa. Tôi đảm bảo với anh vậy mà.
Rất lo cho con, mặc dù đã đồng ý với cô Sáu Trung, trước khi Dũng đi, ông còn gọi Dũng tới dặn thêm:
- Nếu nhỡ con bị tụi nó bắt thì cứ nhận đại cái vụ mình làm giả giấy tờ để trốn lính thôi. Sau đó, thế nào nó cũng giam con một vài ngày rồi đưa tới Quang Trung để huấn luyện. Con cứ làm theo. Khi nào bị đưa ra trận thì cố chạy sang phía mình rồi xin gặp mấy chú, mấy bác ở trên. Ba biết, ba sẽ cho người đón con về.
Dũng trả lời làm cho ông nhớ mãi:
- Nếu rủi có thế thiệt, khi vô Quang Trung, con sẽ cố hết sức học và tìm hiểu tụi nó để sau này ra, con sẽ “oánh” lại chúng ngon hơn.
Chuyến đi công khai của Dũng xuống Khu 9 diễn ra hết sức “ngon lành”. Dũng dùng giấy tờ giả là thanh niên Việt kiều ở Campuchia mới về nước đang ở trong diện miễn quân dịch tám tháng. Trên đường đi, đôi ba lần Dũng tìm cách làm quen và sà vào chơi với tụi lính nguỵ, tranh thủ tìm hiểu cách bố phòng, hoạt động của tụi nó.
Xuống tới Khu 9, Dũng nhập vào đơn vị bảo vệ của Khu uỷ. Dũng giấu không cho ai biết mình là con trai ông Sáu Dân. Dũng sống phóng khoáng và hoà nhập với tất cả mọi người. Ai cũng quí mến Dũng vì Dũng vui, tốt bụng và đặc biệt là gan dạ và mưu trí. Có lần, một tổ cán bộ của ta trên đường tới Khu uỷ công tác thì bị giặc phục kích bắn và tổ cán bộ đã lạc mỗi người một nơi giữa vùng đất lạ lẫm. Dũng biết chuyện và dẫn anh em lặn lội đi tìm, bất chấp mọi nguy hiểm để gom lại đủ số cán bộ đó đưa về căn cứ. Đơn vị bảo vệ Khu uỷ sau đó được tuyên dương Đơn vị anh hùng. Trong thành tích chung, có đóng góp của Dũng. Là đơn vị bảo vệ nên mục tiêu chính là bảo vệ an toàn cán bộ. Mỗi khi địch đánh tới, đơn vị thường nhanh chóng đưa cán bộ rút đi chỗ khác, chỉ có một bộ phận nhỏ rút chậm để đánh địch nhằm mục đích bảo vệ. Bao giờ Dũng cũng ở trong bộ phận rút sau cùng này.
Ở đơn vị này chưa đầy năm thì Dũng không chịu nữa. Dũng nằng nặc đòi ba mình cho ra đơn vị chiến đấu trực tiếp. Dũng nói với ba:
- Ở bảo vệ, giặc tới thì rút hoài, chán lắm. Con hứa sẽ trả thù cho má và hai em. Không được đánh giặc thì trả thù làm sao? Đợt này dứt khoát ba phải cho con xuống đơn vị chiến đấu.
Đúng vào dịp này, trên có chỉ thị tăng cường cán bộ giỏi và mạnh cho các đơn vị chiến đấu trực tiếp, tập trung tấn công lại địch. Ông đã đồng ý và Dũng khoác ba lô lên vai, chia tay ông. Xuống tới đơn vị chiến đấu, Dũng xin vào đại đội trinh sát mũi nhọn. Dũng đã cùng anh em trinh sát nhiều đồn bốt và lập phương án tấn công. Vài tháng sau, ông nhận được tin Dũng hy sinh anh dũng khi cùng đơn vị đánh tan đồn Bàu Ráng của địch. Dũng ngã xuống trong tư thế hướng về phía địch. Máu từ vết thương đã thấm đỏ khắp thân hình anh và khẩu súng hết đạn vẫn đang ghì chắc trong tay…
Kể tới đây, giọng chú Sáu Dân như trầm hẳn xuống:
- Hồi đó, Tư lệnh Khu 9 là anh Sáu Nam (Chủ tịch nước Lê Đức Anh sau này). Anh Sáu Nam biết rõ những mất mát của chú. Khi Dũng xuống đơn vị chiến đấu một thời gian, anh Sáu Nam mới biết. Ảnh không đồng ý với chú. Ảnh đã lệnh cho tham mưu và viết thư xuống trung đoàn kêu Dũng về để học lớp pháo binh. Dẫu sao, lúc đó Dũng cũng là đứa học hành tới nơi, tới chốn, cần phải chú ý để đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng quân đội lâu dài. Thư anh Sáu Nam gửi tới trung đoàn đúng vào lúc Dũng vừa hy sinh – Ông ngừng lời, rồi nói chậm rãi – Nhưng… nếu như lá thư có đến sớm hơn, thì chắc Dũng cũng không chịu. Nó đang say chiến đấu đến thế cơ mà. Chú hiểu nó lắm. Chỉ tiếc là nó đã hy sinh sớm quá. Nếu không, chắc nó còn làm nên nhiều chuyện nữa…

Tôi ngồi yên lặng như cùng chia sẻ với ông hồi tưởng về đứa con yêu. Lúc sau, tôi rụt rè hỏi ông:
- Thưa chú, chú họ Võ, vậy sao Dũng lại mang họ Phan?
Ông đã dứt ra khỏi dòng hồi tưởng:
- Đâu có, chú họ Phan chớ. Vậy nên Dũng cũng họ Phan mà. Võ là họ của mẹ chú. Chú thương bả lắm. Vì vậy, khi hoạt động, chú lấy họ Võ là theo họ mẹ đó.
Tôi đưa hai bàn tay nắm lấy tay ông. Ngồi bên cạnh tôi không còn là khoảng cách với vị thủ tướng mà là một người con hiếu đễ với cha mẹ, quê hương, dòng tộc. Và trong bóng dáng một người cha, Võ Văn Kiệt cũng như bao nhiêu người cha trên đời này, cũng thường đau đáu về những đứa con của mình. Tôi khẽ hỏi:
- Chú ơi, vậy bây giờ anh Dũng nằm ở đâu?
- Sau khi Dũng hy sinh, anh em đưa Dũng về chôn cất ở nghĩa trang trong khu căn cứ. Sau giải phóng, chú cho đón Dũng về thành phố Hồ Chí Minh, hoả táng hài cốt Dũng. Bình tro hài cốt Dũng được đặt ở nghĩa tranh thành phố cùng mẹ và hai em của Dũng. Nhưng chỉ có tro hài cốt của Dũng là có thật. Còn mẹ và hai em của Dũng thì chỉ là nắm đất lấy từ lòng tàu Thuận Phong làm tượng trưng thôi.
Sau khi chiếc tàu đò Thuận Phong bị giặc Mỹ bắn chìm, các đồng chí của ông cùng bà con bên ngoại đã mò tìm bao nhiêu lâu, hết nước ròng lại nước lớn mà không sao tìm được thi hài của vợ và hai con của ông. Sau này, người ta đã trục vớt được xác chiếc tàu đó lên. Bao gia đình có người thân chết trong chiếc tàu đó, mỗi gia đình bốc lấy một nắm đất đưa về làm mộ tượng trưng cho họ mà thôi.
Vậy là nỗi đau và mất mát trong chiến tranh đã chạm đến hầu hết các gia đình Việt Nam. Và vấn đề hài cốt những người đã mất trong chiến tranh đã có ở ngay trong gia đình của một trong những người lãnh đạo cao nhất của đất nước ta. Thế mà nhiều năm qua, chúng ta chưa làm được bao nhiêu để giải quyết việc này, cũng có phần để tập trung lo tìm hài cốt của những người lính Mỹ. Chúng ta làm điều này vì nhân đạo, vì hoà hiếu, vì mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Không biết những gia đình của những người lính Mỹ mất tích, chưa tìm thấy hài cốt trong chiến tranh ở Việt Nam có hiểu được điều này?
Tôi nói với ông điều này và đưa ra bình luận về phát biểu của ông trên truyền hình buổi sáng, tuyên bố sẵn sàng thiết lập ngoại giao bình thường với Hoa Kỳ nhân tuyên bố của Tổng thông Bill Clinton bình thường hoá quan hệ với Việt Nam..
Ông cười, kể:
- Khi chú nói xong trên tivi, có một ông già nông dân ở Đồng Nai gọi điện thoại ra Văn phòng Chính phủ nói muốn trực tiếp nói chuyện và chúc mừng Thủ tướng về thắng lợi này. Văn phòng ghi lại số điện thoại của ổng và đầu giờ chiều nay, chú đã gọi vào nói chuyện với ổng. Chú với ổng thống nhất là thật đáng vui mừng vì chuyện nầy và dù sao thì cũng cần nhanh chóng hướng tới tương lai để xây dựng đất nước, vì các thế hệ tương lai…

Nguyễn Thành Phong

Nguồn: Báo Điện tử Dân Sinh - 21/02/2015 11:49