Thứ Năm, 26 tháng 7, 2018

Uống nước nhớ nguồn

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Quangvu Ha 24 Tháng 7 lúc 20:50

Uống nước nhớ nguồn


Nhân ngày TB - LS 27/07/2018, được sự ủy nhiệm của Tập thể các Bạn, nguyên là Cựu K7 Trường VHQĐ - TSQ NVT. Ban LL K7 khu vực phía Bắc, đã cử đại diện gồm các Bạn: Thế Dân, Quốc Thái, Quang Vũ & Chiêm Hải đã đến thăm hỏi & Trao quà Tình nghĩa cho GĐ các Bạn là Liệt sỹ của K7 hiện ở Hà Nội: Ngô Tất Thắng, Nguyễn Đức Thảo & Đặng Đình Kỳ. Ban LL đã Ủy nhiệm Bạn Hồ Sỹ Bàng tới thăm, trao quà cho GĐ Bạn Khắc Bình. Riêng Gia đình Bạn Trần Hữu Dân không liên lạc được. Trong số 3 GĐ Liệt sỹ Ban LL đến thăm hiện còn Mẹ Bạn Ngô Tất Thắng còn sống, Cụ đã 93t nhưng cũng không được khỏe.
Một vài hình ảnh BLL đến thăm:

* Thắp hương cho Bạn Ngô Tất Thắng

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2018

Chùm thơ Tri ân các anh hùng liệt sỹ - Trần Lập Công K6

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Trần Lập Công 25/7/2018 21:27·
Sắp đến ngày 27.7 ngày TBLS tôi đăng lại các bài thơ viết về Côn Đảo, về Quảng Trị, về Ngã ba Đồng Lộc với tấm lòng tri ân các anh hùng liệt sỹ những đồng đội của mình sau những chuyến đi thăm.


*
FB Trần Lập Công - 9 Tháng 6, 2017.
Trần Quang Đông 7 Tháng 7, 2017
Bài thơ: Cảm nghĩ nơi ngã ba Đồng Lộc
Tác giả: Trần Lập Công
Diễn ngâm: Quang Đông

CẢM NGHĨ NƠI NGÃ BA ĐỒNG LỘC


Trời oi nồng nắng cháy lửa tháng năm
Chúng tôi đến thăm ngã ba đồng lộc
Nơi tụ điểm cuộc chiến tranh tàn khốc
Trên tuyến đường một A và 15.

Một ngã ba đây chịu đến ngàn lần
Với hàng chục nghìn quả bom các loại
Đế quốc Mỹ chúng quyết tâm phá hoại
Nhằm cắt đường vận tải với tiền phương.

Ở nơi đây có biết bao tấm gương
Đã quyết tử vì tuyến đường chiến đấu
Mười nấm mộ các chị đây đủ thấu
Cạnh bia tưởng niệm thanh niên xung phong.

Đứng nơi đây mà sao thấy nhói lòng
Thương các chị tuổi xanh nằm dưới mộ
Trong khói lửa vượt qua bao bão tố
Rồi vĩnh hằng trong đất mẹ yêu thương.

Kính cẩn lòng thành xin thắp nén hương
Dâng các chị nón, lược, gương, bồ kết
Mười khuôn mặt sáng tâm hồn trinh tiết
Nhân dân mình mãi mãi khắc tri ân.


TLC: 8.6.2017





 ❀ ❀ ❀ ❀

*
FB Trần Lập Công - 12 Tháng 6, 2017.
Trần Quang Đông 2 Tháng 7, 2017
Bài thơ: Khúc tráng ca thành cổ
Tác giả: Trần Lập Công
Diễn ngâm: Quang Đông

KHÚC TRÁNG CA THÀNH CỔ


Đưa con thăm đất Quảng Trị cổ thành
Nơi di tích hào hùng đầy bi - tráng
Thương đồng đội chết bao lần từng mảng
Bom chồng bom nhào lớp những oan hồn.

Nơi bốn ki lô mét vuông không hơn
Có viên sỏi nào còn nguyên dù nhỏ
Bao người lính cũng tan cùng cây cỏ
Máu nhuộm mầu trong đất đó quê hương.

Trên dòng sông Thạch Hãn thật thân thương
Cũng nhuộm đỏ máu và xương đồng đội
Cuộc chiến tám mốt ngày đêm dữ dội
Lính mỗi người chịu tới trăm quả bom.

Thành cổ đây hãy nhẹ bước thôi con
Dưới lòng đất bạn cha còn đang ngủ
Dòng thạch hãn hiền hòa đầy quyến rũ
Mà trong lòng ôm đủ nỗi xót xa.

Tám mốt ngày đêm một bản hùng ca
Thành Quảng Trị đã qua thời lửa khói
Vạn người lính tấm gương đời sáng chói
Tổ Quốc cần không hối tiếc tuổi xuân.

Tuổi hai mươi trong trắng đẹp vô ngần
Tô nên sử “ Khúc tráng ca thành cổ”
Đi tiếp bước bậc cha ông tiên Tổ
Thật oai hùng trong cuộc chống ngoại xâm.

Đốt nhang lên khói tỏa hương trầm
Khóc đồng đội đây trăm miền Tổ Quốc
Đất Thành cổ trở nên nôi quen thuộc
Như mẹ hiền ru ngủ vạn con yêu…!


TLC






 ❀ ❀ ❀ ❀

*
FB Trần Lập Công - 8 Tháng 4, 2017.
29.3 CHÚNG TÔI TỔ CHỨC MỘT CHUYẾN ĐI THĂM CÔN ĐẢO MẢNH ĐẤT HÀO HÙNG NHÂN CHỨNG SỰ ĐẤU TRANH BẤT KHUẤT CỦA MỘT DÂN TỘC LUÔN KHÁT VỌNG TỰ DO.
TRONG ẢNH LÀ MỘ CHỊ SÁU NGHĨA TRANG HÀNG DƯƠNG VÀ ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN. CẦU TẦU. XÚC CẢM TÔI ĐÃ VIẾT BÀI "CÔN ĐẢO THÁNG BA"
Trần Quang Đông 16 Tháng 4, 2017
Bài thơ: Côn đảo tháng ba
Tác giả: Trần Lập Công
Diễn ngâm: Quang Đông

CÔN ĐẢO THÁNG BA


Thỏa bao ngày ao ước với cầu mong
Được đến thăm mảnh đất dầy lịch sử
Hai mươi mấy ngàn oan hồn bất tử
Đã hy sinh nằm lại mảnh đất này….!

Con đi tìm nhân chứng ở nơi đây
Địa ngục trần gian gông cùm xiềng xích
Những thân xác tù nhân bao thương tích
Vẫn kiên trung lòng son sắt một đời…!

Con đi tìm nhân chứng ở con người
Phòng xà lim bốn bề giam chật hẹp
Bọn ác thú chúng quyết tâm đè bẹp
Dùng cực hình diệt chết mọi niềm tin…!

Con đến đây đường cầu tầu để tìm
Xương thịt cha ông còn vương đây đó
Chín trăm mười bốn người con đã bỏ
Dưới biển đây vác đá để xây đường…!

Con viếng thăm nghĩa trang chốn Hàng Dương
Nơi cô Sáu cùng hai ngàn ngôi mộ
Còn mười tám ngàn người đang đâu đó
Bị cát vùi trong đất Tổ Côn Lôn…!

Thắp nén nhang kính cẩn các linh hồn
Cay khóe mắt nặng lòng về quá khứ
Mong cha ông những người con bất tử
Tổ Quốc Dân mình mãi mãi khắc ghi…!

Nếu hôm nay con không có chuyến đi
Sao biết được những gì về Côn Đảo
Một mảnh đất biết bao nhiêu huyền thoại
Cũng quặn lòng hơn thế kỷ khổ đau…!

Lịch sử hào hùng không ít nỗi sầu
Rất cao cả quyết quên mình ngã xuống
Côn Đảo đây là một nơi minh chứng
Dân tộc mình chống Pháp Mỹ kiên trung..!

Tạm biệt nơi đây Côn Đảo anh hùng
Hòn đảo viên ngọc xanh trên biển cả
Đất mầu mỡ và đẹp tươi đến lạ
Đã vươn mình trong khát vọng ông cha ...!


TLC: 8.4.2017














Hình ảnh cầu tầu Côn Đảo này có 914 tù khổ sai của ta đã bỏ mạng vác đá lớp biển xây cầu tầu nên Cầu tầu này có tên Cầu Tầu 914.

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2018

MƯỜI BÔNG HOA ĐỒNG LỘC - Đỗ Quang Việt K2

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ



MƯỜI BÔNG HOA ĐỒNG LỘC


Mấy chục năm đạn bom thôi gào thét,
Ngã ba này cây cối đã xanh hơn.
Năm mươi năm rồi, các em tròn giấc.
Mười bông hoa mãi mãi tuổi thanh xuân.

Mười nấm mồ thiêng, mười trinh nữ,
Hoà với đất trời, mãi mãi tuổi đôi mươi.
Năm chục năm, họ vẫn nằm yên đó,
Bao người viếng thăm, bao giọt lệ rơi.

“Trời nơi mô xanh bằng trời Can Lộc”
“Nước nơi mô xanh bằng nước sông La”*
Năm mươi năm, trời vẫn xanh như thế,
Các em vẫn nằm đây nghe tiếng chim ca.

Những Cựu chiến binh cùng thế hệ,
Từ muôn nơi về đây viếng các em.
Lần nào về đây cũng nghẹn lòng như thế,
Cũng lệ rơi và đau thắt con tim.

Mấy chục năm rồi, tiếng bom đã dứt,
Cung đường năm nào, nay rộng thênh thang.
Hồn các em hoà vào hồn Đất Nước,
Phấp phới cờ bay, rực rỡ ánh sao vàng.

Đất nước mình trải ngàn năm lịch sử,
Gái trai bao thế hệ hy sinh.
Dân tộc này muôn đời vẫn thế,
Vì Nước, vì dân, ai tiếc thân mình.

Thời gian trôi, cứ thế và cứ thế,
Rồi sẽ trăm năm và sẽ ngàn năm
Cứ yên ngủ cho tròn giấc nhé,
Mười bông hoa tinh khiết trắng vô ngần.


Ngã ba Đồng Lộc, 20/4/2018
(*) Lời một bài hát
Đỗ Quang Việt



FB Viet Do Quang , 25/7/2018 05:10


Bài ca không quên

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

BÀI CA KHÔNG QUÊN

Sáng tác: PHẠM MINH TUẤN - Trình bày: Cẩm Vân


Có một bài ca không bao giờ quên,
là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên.
Có một bài ca không bao giờ quên,
là lời mẹ ru con đêm đêm.
Bài ca tôi không quên tôi không quên
tháng ngày vất vả
Bài ca tôi không quên tôi không quên
gót mòn hành quân hối hả
Làm bạn cùng trăng ngồi ôm súng ngắm sao khuya.
Bài ca tôi không quên tôi không quên những người đã ngã
Bài ca tôi không quên tôi không quên gửi trọn đời cho tất cả
Là đồng đội tôi còn ôm súng giữ biên cương.

Nhưng giờ đây có giây phút bình yên sao tôi quên
Có giây phút bình yên sao tôi quên sao tôi quên.
Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát với quê hương, với bạn bè, với cả cuộc đời
Tôi không thể nào quên.
Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát với em yêu, với đồng đội, với cả lòng mình
Tôi không thể nào quên, tôi không thể nào quên.

* *
Có một bài ca không bao giờ quên, là thành phố nhớ nhung một dáng hình ai
Có một bài ca không bao giờ quên, là cả mùa Xuân tim không phai.
Bài ca tôi không quên tôi không quên những mùa nước đổ
Bài ca tôi không quên tôi không quên em chống xuồng vượt qua pháo nổ
Chỉ một lần quen mà mang nỗi nhớ mênh mông.
Bài ca tôi không quên tôi không quên đất rừng xứ lạ
Bài ca tôi không quên tôi không quên bước dồn đường khuya đói lả
Gạo hẩm cầm hơi, một điếu thuốc cũng chia đôi

Nhưng giờ đây có giây phút bình yên sao tôi quên
Có giây phút bình yên sao tôi quên sao tôi quên.
Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát với quê hương, với bạn bè, với cả cuộc đời
Tôi không thể nào quên.
Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát với em yêu, với đồng đội, với cả lòng mình
Tôi không thể nào quên, tôi không thể nào quên.

CHIỀU NGHĨA TRANG - Đỗ Quang Việt K2

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Đỗ Quang Việt K2
Hôm nay, 24/7 mình đi viếng mộ bố ở NTLS Nhổn, gặp cụ già đi viếng con trai. Nói chuyện với cụ và về viết nên những dòng này:

CHIỀU NGHĨA TRANG


Mẹ già tóc bạc phơ,
Lưng còng
Tay chống gậy,
Những bước chân lẩy bẩy,
Đi giữa hai hàng mộ nghĩa trang.
Mẹ đi thăm mộ con,
Đứa con trai cưng của mẹ.
Mẹ thương nó
Mố côi bố từ tấm bé,
Lớn lên nào đã biết mặt cha.
Ngày ông ấy đi xa,
Cu cậu vẫn còn ẵm ngửa.
Mẹ nuốt nước mắt vào lòng,
Tần tảo nuôi con.
Đến ngày lớn khôn,
Nó nằng nặc đòi đi bộ đội.
Mẹ nhớ như in những lời nó nói:
“ Con phải đi trả thù cho cha”.
Dù trong bụng xót xa,
Nhưng làm sao ngăn
Chí trai của nó!
Bây giờ cu cậu đang nằm đó,
Dưới nấm mồ
Lặng im….
Xung quanh là đồng đội kề bên,
Vẫn hàng lối chỉnh nghiêm,
Thẳng dọc, bằng ngang,
Như duyệt binh thưở trước.
Vì dân, vì nước,
Chúng đã dâng cả tuổi thanh xuân.

Mẹ già lưng còng,
Tóc bạc bay theo gió,
Tay run run
Cắm những bông hoa vào lọ.
Và thắp những nén nhang...

Nước mắt lăn dài
Trên gò má
Đầy những nếp nhăn .
Thầm thì mẹ khấn:
” Con yêu ơi”,
“Đợi thêm một chút,”
“Rồi mẹ con mình lại gặp nhau”,
“Mẹ lại ru con như tự thuở nào”.
“Ngủ yên nhé con trai thân yêu”

Bóng mẹ liêu siêu trong ánh nắng chiều.


Đỗ Quang Việt
(Ảnh sưu tầm trên mạng)


FB Viet Do Quang >> K8 Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi, 24/7/2018 21:08


Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Tưởng niệm Gạc Ma

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Bạn Trỗi K6 viếng thăm
Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma


Lo Vuthang 8 Tháng 5/2018 · Đến Đài Tưởng niệm Gạc Ma thắp hương cho các liệt sĩ (Đại lộ Nguyễn Tất Thành - Thôn Thủy Triều, xã Cam Hải, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa, cách TP. Nha Trang hơn 20km).
Ảnh: Anh Minh, Ngô Sơn, Thắng Lộ, Thắng Lương

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI BẠN

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Tran Kienquoc 22/7/2018 05:42
Một bài viết về LS Nguyễn Khắc Bình k7 của Hồ Sỹ Bàng k7

Sáng chủ nhật, 22/7, lang thang mạng và đọc được bài này. Xúc động quá! Vậy là thêm thông tin của 1 LS trường Trỗi còn thiếu.
Cảm ơn Bàng và người kể chưa biết mặt!

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI BẠN


Buổi sáng hôm ấy, sắp tới 27 tháng 7, tôi hẹn gặp được một người bạn gái cùng trường phổ thông. Quán cafe đã hẹn nằm ngay trong Viện Bảo tàng Quân đội. Nơi đây đang khẩn trương chuẩn bị cho ngày lễ. Bọn tôi quen nhau qua cuộc họp toàn khóa. Qua đó, tôi được biết bạn ấy là một trong những người bạn thân học cùng lớp 10 với Nguyễn Khắc Bình, học sinh Khóa 7 trường Văn hóa Quân đội - Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Tôi rất muốn có được nhiều thông tin thêm về Khắc Bình. Sau môt hồi trao đổi, tôi được nghe bạn ấy kể lại chuyện giữa họ. Cô bạn yêu cầu không nêu tên. Xin viết lại chuyện mà bạn ấy kể:
“Ngày ấy, trường Nguyễn Văn Trỗi giải tán. Có nhiều học sinh về trường mình. Đặc điểm chung của các bạn ấy là học hành được, sôi nổi, có nhiều bạn bè ở các lớp khác nhau trong trường. Chắc hẳn mọi người có một thời gian dài cùng học và sinh hoạt nên rất hiểu nhau, có xu hướng tụ lại với nhau. Bọn mình thấy người ta hay nói “hội Trỗi”. Nhiều trận ẩu đả trong và ngoài trường cũng có mặt học sinh trường Trỗi tham gia.
Khắc Bình cũng nằm trong số đó. Mình vẫn nhớ, những ngày đầu về lớp, cậu ấy rất nghịch. Người tầm thước, khuôn mặt xương xương, giọng nói rất to. Mỗi khi tranh luận, giọng của cậu ấy cứ ầm ĩ làm mọi người phải ngoái nhìn.
Ban đầu, cậu ấy cũng làm cả lớp vất vả. Còn nhớ ngày ấy, như thế bọn mình hay nói “ý thức tổ chức kỷ luật” chưa tốt. Thầy chủ nhiệm, Chi đoàn và các cán bộ lớp đều quan tâm đến việc này. Lúc đó mình làm lớp phó phụ trách học tập. Mọi người bàn nhau cùng chung tay giúp đỡ Khắc Bình. Và mình được giao trách nhiệm chia sẻ cùng Khắc Bình lúc đó.
Bọn mình đã cùng nhau học tập, rèn luyện. Ban đầu Khắc Bình bất hợp tác. Cậu ấy khó chịu mỗi khi sinh hoạt lớp, không tập trung học tập. Nhưng sự kiên trì của mọi người đã khiến Khắc Bình dần “hiền “ hơn. Khắc Bình cũng chịu học nhóm và mình cũng hay tâm sự với Khắc Bình.
Cậu ấy cũng có nhiều kết quả đáng mừng. Kết quả học tập tốt. Nhưng điều cơ bản là cậu ấy hòa đồng hơn với mọi người, có ý thức giúp đỡ bạn bè. Tuy cùng sinh năm 1954, nhưng mình sinh trước Khắc Bình nhiều tháng nên trong giao tiếp, cậu ấy luôn gọi mình là chị và bọn mình trở thành chị em kết nghĩa. Có nhiều chuyện tâm sự. Đó là một tình bạn đáng nhớ thời phổ thông của mình.
Bước vào năm 1972, lúc ấy là kỳ 2 lớp 10. Khi ấy chiến trường đang đỏ lửa, học sinh của trường lớp lớp lên đường vào Nam đánh giặc. Bọn mình vẫn đi học hàng ngày, không khí rất sôi động. Mình còn nhớ, chiều hôm ấy, 2 đứa đi xe đạp đi học về. Đến gần cây vú sữa gần quảng trường Ba Đình, Khắc Bình đi chậm lại và nói: “Chúng mình đỗ lại, em có việc muốn hỏi chị”. Bọn mình dừng lại, mình chờ Khắc Bình nói. Mình đang nghĩ cậu ấy muốn tâm sự về một người bạn gái trong lớp mà Khắc Bình rất thân. Nhưng không. Khắc Bình vẫn yên lặng. Một lúc sau, Khắc Bình có nói, em định xung phong đi bộ đội đợt này, chị nghĩ thế nào? Mình giật mình. Đây cũng là một điều mới mẻ với mình. Sau khi biết Khắc Bình chưa nói gì với gia đình, mình chỉ biết nói, nên về nhà trao đổi lại với bố mẹ. Bố mẹ luôn là chỗ dựa vũng chắc cho những đứa con của mình.
Thế rồi Khắc Bình có quyết định nhập ngũ. Chi đoàn khi đó họp, đề nghị kết nạp Đoàn cho Khắc Bình vì những tiến bộ cả về học tập và rèn luyện của cậu ấy. Trước ngày kết nạp Đoàn, Khắc Bình có tâm sự. Khắc Bình muốn được mình chuẩn bị huy hiệu đoàn và chính mình gắn cho Khắc Bình trong lễ kết nạp. Đây cũng là điều mình ấn tượng và thầm cảm ơn Khắc Bình.
Ngày 16 tháng 4, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội. Sắp đến ngày lên đường, cùng bao bạn bè trong lớp, mình chuẩn bị cho các bạn nhập ngũ. Những dòng lưu niệm, những món quà như bút viết, tem, phong bì thư, bàn chải ...chan chứa bao kỷ niệm. Ngày tiễn Khắc Bình nhập ngũ, mình thấy Khắc Bình ôm chặt những món quà đó. Đôi mắt hoe đỏ, Khắc Bình có nói với mình: “Chị yên tâm nhé! Nhớ giữ gìn sức khỏe!”
Thời gian cứ trôi đi. Mình cũng nhận được thư của Khắc Bình gửi về trên các chặng đường hành quân. Trong mỗi lá thư kể về niềm háo hức của một đứa con Hà Nội sắp xung trận, những miền quê đã đi qua và những khó khăn vấp váp khi bước vào cuộc sống mới. Khắc Bình đặc biệt chia sẻ niềm vui khi gặp bạn bè cùng trường, cùng lớp trên đường ra chiến trường. Mấy đứa ôm chầm lấy nhau, gọi lại các biệt danh, liệt kê bạn bè, kể lại kỷ niệm thời học sinh... Mình nhớ nhiều nhất lá thư Khắc Bình viết từ Nam Đàn về. Trong thư, Khắc Bình gửi lại 2 bức ảnh, phía sau ghi những dòng chữ thân thương “Nam Đàn quê Bác 19/8/1972. Khắc Bình của Chị. Kỷ niệm”, “Tặng chị. Đứa em trai của Chị”. Lá thư nói đến việc chuẩn bị lên đường trên con tàu từ đất quê Bác đi đến miền Nam. Trong thư có đoạn viết “Con tàu sẽ lao về phương Nam, mắt em nhòa đi”. Mình có cảm giác rất lâu bọn mình mới gặp lại nhau. Cầm lá thư, mình vừa đọc vừa khóc.
Lá thư cuối cùng Khắc Bình gửi là từ Vĩnh Thành, Vĩnh Linh. Sau đấy không nhận được lá thư nào nữa.
Năm 1973, mình vẫn không nhận được tin gì từ Khắc Bình. Vào một ngày đầu năm 1973, có 3 anh bộ đội đến nhà mình. Gặp mình, các anh hỏi tên mình và giới thiệu: “Chúng tôi là những người cùng đơn vị với anh Bình. Mình mừng lắm, mời các anh vào nhà và muốn được tin của Khắc Bình. Mình mời các anh ngồi và đi pha nước. Lòng thấp thỏm. Mới ngồi xuống, cả 3 anh đã đứng lên. Một anh, giọng như kìm nén, khẽ nói: “Hôm nay đơn vị về đây muốn nói với chị về đồng đội Bình của chúng tôi. Chúng tôi nhân ra Bắc có cuộc họp nên đến thăm chị và có điều muốn nói với chị”. Mình chợt cảm thấy hụt hẫng.
Các anh nói, ở đơn vị, Khắc Bình là một người lính có tính kỷ luật cao, không ngại gian khổ, sẵn sàng giúp đỡ đồng đội. Lính trẻ, có người đã có người yêu, có người chưa. Mỗi lần hỏi Khắc Bình về chuyện này, chỉ thấy cậu ấy cười. Cậu ấy thường nhắc đến chị và nói với anh em về chị với lòng kính trọng. Khắc Bình rất chịu khó viết thư.
Thế rồi các anh kể chuyện Khắc Bình đã ra sao.
Vào đầu 1973, Hiệp định Pari vẫn chưa được ký. Chiến trường trong ấy loang lổ kiểu da báo. Ta với địch giữ những vùng đất xen kẽ nhau. Bọn ngụy trước ngày thất bại đã huy động tổng lực và nhiều cuộc chạm trán vẫn xảy ra giữa những vùng giáp ranh.
Hôm đó là ngày 16 tháng 1 năm 1973. Tổ 3 người, trong đó có Khắc Bình, được cử đi trinh sát. Đến thời điểm đã định, không thấy tổ trở về. Đơn vị hiểu rằng tổ đã bị địch phục kích và cử người đi tìm. Thoạt tiên, anh em phát hiện ra đồng đội thứ nhất, rồi đến tìm thấy đồng đội thứ hai ... hy sinh và cố gắng lần tìm Khắc Bình hồi lâu. Cuối cùng, họ thấy Khắc Bình đang thoi thóp thở, máu loang đầy trên mặt. Anh em nâng Bình lên. Bình chào anh em và cuối cùng chỉ kịp nói: “Nếu tôi trở về thế giới bên kia, xin các anh đến nhà chị tôi và nói với chị rằng tôi vẫn nhớ đến chị”. Nói rồi Khắc Bình mất đi ngay trên tay đồng đội.
Nghe vậy, mình thực sự xúc động, ngồi sụp xuống muốn khóc mà không khóc được, không nói hồi lâu. Các anh thấy vậy, đứng dậy, xin phép về. Không biết nói gì, mình tiễn các anh ra cửa. Cho đến bây giờ, mình mãi ân hận vì mình cũng không hỏi được tên và đơn vị các anh. Đã nhờ nhiều nơi, nhiều mối quan hệ nhưng vẫn vô hiệu.
Gia đình, sau một thời gian dài tìm kiếm, mộ phần Khắc Bình đã được đưa về nghĩa trang quê nhà ở xã Cảnh Dương, Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ngôi mộ nhỏ của bạn ấy nằm trong nghĩa trang nhỏ. Mình cũng đã nhiều lần về viếng mộ bạn ấy.
Mình cảm giác Khắc Bình vẫn đang ở đâu đây. Hai bức ảnh mà Khắc Bình gửi cho mình từ Nam Đàn, mình luôn giữ như một kỷ vật thiêng liêng. Dù đi đâu, xa hay gần, trong nước hay ngoài nước, các buổi họp hay đi du lịch, mình luôn mang theo. Thực khó lý giải đúng không. Cho đến bây giờ, những lá thư Khắc Bình gửi, mình vẫn giữ. Mỗi lần nhìn vào những lá thư ấy, bao buồn vui kỷ niệm tràn về, không thể quên được. Mình cũng xin phép với chồng mình đặt những lá thư này trên một góc bàn thờ thờ Khắc Bình. Anh ấy đồng ý. Và mình cảm ơn anh ấy. Mình đã thi vào Đại học Y nhưng không hiểu sao lại học sư phạm và trở thành cô giáo. Mãi về sau, khi nghiệm lại, mình nhớ có lần Khắc Bình có nói: “Em mong chị về sau sẽ làm cô giáo, chị ạ!”

Câu chuyện dừng lại ở đó. Đường phố vẫn ồn ã. Cô bạn từ từ xoay chiếc điện thoại trên tay và nhìn chăm chăm vào đó. Tình cảm của 2 người bạn tôi thật khó lý giải. Chúng tôi yên lặng. Tôi tự hứa sẽ tìm gia đình Khắc Bình và cùng bạn bè đến thăm. Người bạn liệt sĩ mà bạn bè đã bao năm cố gắng tìm lại, bây giờ đã có những tin tức ban đầu. Khắc Bình ơi! Hy vọng Bình sẽ về lại giữa tình cảm anh em, bạn bè đã thất lạc bạn bấy lâu.

(Bài viết từ 24/7/2016).


Hồ Bàng >> BẠN NVT 22/7/2018 11:41
Hai bức ảnh mà bạn Khắc Bình (liệt sĩ - K7) tặng người bạn phổ thông với đề tặng trong ảnh.







Thông tin mộ LS Nguyễn Khắc Bình

tại Trang Người đưa đò (NGUYỄN SỸ HỒ) - www.nguoiduado.vn
Tên nghĩa trang: NTLS xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.
Họ và tên: Nguyễn Khắc Bình
Năm sinh: 1954
Quê quán: Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình
Cấp bậc/chức vụ: Chiến sĩ
Đơn vị lúc hi sinh: QK5
Ngày hi sinh: 16/01/1973
Vị trí mộ: Lô mộ: 2 Hàng mộ: 11 Số mộ: 7

Ảnh sưu tầm trên mạng của Đào Việt Dũng

Chuyện những “mộ gió”

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Mộ gió - chuyện viết đã 8 năm!
(Kiến Thức 27/07/2010)

Từng có những năm tháng là người lính, có không ít những đồng đội đã hy sinh nên chúng tôi là những người biết nhiều sự thật. Hàng chục năm chiến tranh đã qua đi, nhưng hậu quả của nó để lại những nỗi đau âm ỉ cho những gia đình, nhất là những bà mẹ…
***

Chuyện những “mộ gió”

Mai đã là 27/7. Chiều nay có một cô bé thế hệ 8X điện hỏi: “Chú ơi, mộ gió là gì?”. Vừa nghe cháu hỏi, tim tôi khẽ nhói. Bạn tôi nhiều đứa hy sinh mà giờ chỉ có mộ gió.

Trịnh Thúc Doanh, lính của trung đoàn 95, sư 325. Đúng chiều tối ngày thứ 81 – ngày cuối cùng của chiến dịch trấn giữ Thành cổ Quảng Trị - được lệnh rút. Doanh cùng đồng đội nhanh chóng chạy ra sông Thạch Hãn. Khi vừa nhảy xuống lòng sông thì một viên đạn từ đâu bắn tới, Doanh trúng đạn và mất tích. Đồng đội quơ tìm mà không thấy, buộc phải bơi qua sông.
Cả chục năm sau này, sau nhiều lần gia đình vào tìm kiếm hài cốt mà bất lực. Mẹ Mai của Doanh đã mang nắm đất ven sông, đúng nơi Doanh ngã xuống, về và đưa vào NTLS phường Định Công, Hà Nội; coi đó là hài cốt anh.
Ngày “hạ huyệt”, mẹ Mai không quên “hóa” cho anh cái áo bông đã mặc suốt thời gian ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Y Hòa bạn tôi cũng vậy. Cùng đồng đội sư 312 chốt giữ ngọn đồi Con Kiêu, tranh giành với địch từng mét đất. Bom đạn ác liệt. Chiến sĩ ta gọi đồi này là “đồi Cháy” vì bom đạn đã đốt cháy trụi màu xanh.
Y Hòa kiên gang chiến đấu nhưng không may anh trúng đạn. Máu tươi ướt cả mặt và mái tóc xanh. Cũng chỉ kịp rút túi ngực ra tấm thẻ đoàn viên và chân dung một người bạn gái, cũng ướt nhèm máu, thều thào: “Chuyển… chuyển những… cái này về… về cho gia đình tao” rồi anh tắt thở. Đồng đội vét đất lên, làm hố chôn anh. Hố nông choèn. Bom đạn thế làm sao mà có cái huyệt sâu.
Ngay sau 30/4/1975, có 3 năm quay lại mà không tìm thấy những tọa độ đã “đánh dấu”. Rồi bạn thời Thiếu sinh quân cùng gia đình và đồng đội sư 312 đã cày nát đồi Cháy mà không tìm ra anh và 9 đồng đội. Gia đình tạm thời lấy nắm đất ở đồi Cháy về thay cho hài cốt, đưa vào NTLS TP Buôn Mê Thuột.

***

Và những mộ liệt sĩ “vô danh”
Còn nữa, tân binh Đặng Bá Linh, ngay đêm đầu tiên, ra đánh trận đầu tiên ở cao điểm 105 bắc Quảng Trị. Chưa kịp nổ một phát súng, anh đã trúng đạn. Máu mất nhiều, anh hy sinh. Đồng đội chôn cất anh ở hậu cứ.
Tới ngày quy tập, khi sờ túi thấy còn lọ pénecicline trong túi, cất giữ những thông tin về anh (tên tuổi, đơn vị (A…, B…, C…), hy sinh ngày 26/8/1972) và anh được chuyển về NTLS xã đó. Mộ anh ngày đó có danh.
Sau đó, có đợt di dời lần 2, mộ anh cùng nhiều liệt sĩ từ đây được chuyển về NTLS huyện. Và, không hiểu vì lí do gì mà mọi thông tin về anh thất lạc. Đau hơn, từ ngày đó mộ anh và nhiều đồng đội trở thành vô danh.
Cũng đã nhờ vài nhà ngoại cảm thử tìm nhưng thấy chưa tin cậy nên gia đình lấy nắm đất trên cao điểm 105 về đặt trên bàn thờ.

Liệt sĩ Trần Hữu Dân cũng tương tự. Trên ngọn đồi không tên gần động Ông Gio, trong một trận chiến không cân sức với bọn ngụy dùng trực thăng vận tấn công lên chốt, Dân bị thương.
Đồng đội cáng anh theo dọc sông Nhung về căn cứ tiền phương. Nhưng vết thương quá nặng, Dân đã hy sinh. Anh được chôn cất cùng liệt sĩ khác.
Sau giải phóng, dân địa phương đi làm rẫy còn thấy bốn nấm mồ và báo cho chính quyền. Anh cũng đã được quy tập về NTLS huyện nơi anh nằm xuống nhưng giờ, mộ vẫn vô danh.

***

… Đó mới chỉ là chuyện của bốn đồng đội, là nỗi đau của 4 gia đình đằng đẵng mấy chục năm qua. Mấy năm trước, theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH thì còn đến 300.000 trường hợp chưa tìm thấy hài cốt hoặc mộ chưa có danh.
Xin được thắp một nén nhang cho linh hồn các anh.

Sài Gòn, 11h30 đêm 26/7/2010.
(CCB Trần Kiến Quốc)

FB Tran Kienquoc, 18 Tháng 7 lúc 14:55



Hong Nam Nguyen: Nguyễn Dũng K15 CTM ĐHBKHN bên mộ liệt sỹ Trịnh Thúc Doanh cũng học K15 CTM, đều là lính 6971, CCB của F325 chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Nghĩa trang Liệt sĩ phường Định Công, Thanh Trì, Hà Nội


Mộ Y Hòa - Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đăk Lăk hay Nghĩa trang Liệt sĩ TP Pleiku? (theo SRTKL).




Nghĩa trang liệt sĩ Huyện Hải Lăng


... nơi hai BanTroi Đặng Bá Linh K6 và Trần Hữu Dân K7 yên nghỉ!



Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?
Ảnh sưu tầm trên mạng


Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

Chùm thơ Tưởng nhớ các bạn liệt sĩ K5 - Trần Kiến Quốc

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ



FB Tran Kienquoc >> Bạn Trỗi K5 - 21/7/2018 06:02.

ĐIỂM DANH

Khóa 5 ta 200 thằng
Bảy thằng dũng cảm lên đường, hy sinh
khi mà lúc tuổi còn xanh
khi mà đang tuổi học hành, yêu đương
Chúng coi cái chết bình thường
nhẹ nhàng chả khác lông hồng khẽ bay
Những thằng bạn của tao ơi
Hôm nay xin được thay thầy điểm danh:

Một, Nguyễn Văn Ngọc (1950 - 10/10/1968)
Hai, Phạm Văn Hạo (1953 - 28/6/1971)
Ba, Võ Dũng (1951 - 21/4/1972)
Bốn, Vũ Kiên Cường (1953 - 28/7/1972)
Năm, Huỳnh Kim Trung (1952 - 20/8/1972)
Sáu, Nguyễn Lâm (1953 - 5/9/1972)
Bảy, Trịnh Thúc Doanh (1953 - 16/9/1972)



Thằng Ngọc "ghẻ", liệt sỹ đầu tiên hy sinh ngoài chiến trường, đi năm 1968.
Thằng Hạo "cồ" vào mặt trận B2, hy sinh 1971.
Còn 5 thằng còn lại đi năm 1972, Mùa hè đỏ lửa!




MỘT KÝ ỨC KHÓ QUÊN THỜI HOA LỬA - Hồi ký của Vũ Văn Toàn

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

FB Tran Kienquoc 21/7/2018

MỘT BÀI VIẾT CỦA ĐỒNG ĐỘI VỀ DOANH


Quang Bắc, Xuân Minh, Công Chính, Chí Hòa... và tôi có Nguyễn Hồng Nam là bạn từ ngày đi Trại Nhi đồng Miền Bắc năm 1958, 59 ở 20 Thụy Khê.
Nam là cựu sinh viên Bách khoa, đi lính 1971 cùng Trịnh Thúc Doanh, cùng ra mặt trận Quảng Trị. May mà còn về.
Nam có trong tay bài viết này và còm trong bài viết "Mộ gió" của tôi. Nay xin đăng lại:
Nguyễn Trà Vinh - bạn học cùng lứa với Trịnh Thúc Doanh, cùng khóa K15 CTM ĐHBK với Nguyễn Dũng và tôi, cùng gia nhập đoàn binh 6971. Nguyễn Trà Vinh cùng ở C16 E95 với Trịnh Thúc Doanh.
Hôm nay là Ngày giỗ LS Trịnh Thúc Doanh, cùng đại đội c16, E95, F325 - Lính SV 6971 - Sinh viên K15 A CTM ĐHBK HN.
Doanh hy sinh sau khi chuyển sang đơn vị khác cũng trong Trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ QT. Mẹ LS có làm giỗ gọi bọn tôi đến thắp hương cho đồng đội, cho bạn mình. Năm nay do hoàn cảnh ko đi được nhưng vẫn nhớ!
Xin phép được trích đăng lại Hồi ký của Vũ Văn Toàn (CCB cùng Trung đoàn) Người đã chứng kiến Trịnh Thúc Doanh hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn:
Ảnh trong bài: "43 năm - Liệt Sỹ Trịnh Thúc Doanh K5" - NgoTheVinh, 21/9/2015, Blog "Bạn Trỗi K5".
Nâng cốc mời rượu Trịnh Thúc Doanh.
Từ phải qua trái: Anh Dương, Nguyễn Dũng, Nguyễn Trà Vinh, Ngô Thế Vinh, Đinh Kim Khôi, Hoàng Việt Dũng, Nguyễn Tuấn Kiệt, Vũ Văn Toàn, Hoàng Văn Thông, anh Trung. Trong đó Nguyễn Dũng, Nguyễn Trà Vinh, Vũ Văn Toàn, Hoàng Văn Thông đều là các "Lính sinh viên" Thành Cổ Quàng Trị cùng đơn vị với Trịnh Thúc Doanh. Đặc biệt có Vũ Văn Toàn là Lính bắn tỉa tại Thành Cổ, là người ở cùng Trịnh Thúc Doanh chứng kiến lúc Trịnh Thúc Doanh hy sinh. Điều nay đã được Vũ Văn Toàn viết trong Hồi ký của mình với nhan đề "Một ký ức khó quên thời Hoa Lửa". Tôi sẽ có dịp giới thiệu với các bạn Hồi ký này phần có nói đến Trịnh Thúc Doanh và sự chứng kiến lúc Doanh hy sinh.



MỘT KÝ ỨC KHÓ QUÊN
THỜI HOA LỬA

Hồi ký

Trời tối đen như mực, tôi và Phú đen cắt ngang cánh đồng lần theo ven quốc lộ 1 qua sân bay Ái Tử đi về hướng bãi vượt Nham Biều để sang Thành cổ Quảng Trị. Hai thằng cứ lầm lũi khom khom để đi, trên đầu máy bay địch gầm rú thi nhau trút bom, cùng với pháo kích trong đất liền và pháo từ ngoài biển bắn vào tạo ra những tiếng nổ xé trời, những tia chớp loằng ngoằng, làm mặt đất lúc nào cũng rung lên. Tuy phải tránh bom, pháo nhưng cũng chính những tia chớp và pháo sáng lại giúp chúng tôi xác định hướng đi rõ hơn.

Tôi và Phú đen cứ bám sát nhau đi, bất thần nghe tiếng ú xoẹt của quả pháo kích địch hai đứa nhảy xuống hố bom bên cạnh, như một phản xạ tự vệ giữa cái sống và cái chết. Tiếng nổ chát chúa làm đất tung lên khét lẹt rơi xuống nơi tôi và Phú đang ở dưới. May mà nó nổ cách chúng tôi hơn chục mét.Tôi gọi hỏi Phú:
- Có làm sao không mày?
- Không sao- Phú trả lời
Dù không ai bị thương, nhưng cả hai chúng tôi đều bị mắc kẹt bởi những dây thép gai bùng nhùng sắc nhọn, chắc khi dọn sân bay Ái Tử anh em vứt xuống. Chúng tôi cứ ra sức gỡ nhấc được chân này thì chân kia lại mắc vào đám bùng nhùng. Tôi bảo Phú cởi ba lô và súng quẳng lên bờ để tay rảnh bám vào đất nhoài người lên. Mãi sau thì hai đứa cũng thoát được lên miệng hố bom, dù chân tay đứa nào cũng ứa máu.
- Thế là thoát khỏi cái bẫy nguy hiểm này- Phú cười.
Hai đứa lại tiếp tục lần theo hướng để về bến vượt Nham Biều đối diện. Bên ấy là Dinh Tỉnh trưởng, nơi Sở Chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 95 mà tôi và Phú được điều sang để tăng cường chốt bảo vệ. Tìm được bến vượt, chúng tôi chỉ mặc một chiếc quần lót, còn cho hết vào trong phao bơi buộc chặt, ôm phao sẵn sàng, chờ khi pháo địch chuyển làn là vượt sông. Đứa nào cũng cảm thấy hồi hộp. Tất cả anh em được tăng cường sang Thành đều có chung tâm trạng như vậy. Đến mép bờ sông Thạch Hãn, chúng tôi thấy anh em đơn vị vận tải nổ xuồng máy chở vũ khí, đạn dược, nhu yếu phẩm để tiếp tế cho tuyến trước đồng thời chở thương binh ra tuyến ngoài cứu chữa. Nhìn cảnh quân ta ra vào tấp nập, tôi và Phú như được tiếp thêm nghị lực vượt sông. Hòa cùng đoàn quân sang chi viện cho tuyến trước, khi bơi tiến sát gần bờ phía nam cách chừng 2-3 mét, thấy phập phồng những bóng đen nổi trên mặt nước, tôi choàng tay vào xem thử thì rủn cả người. Đó toàn là những xác người đã bắt đầu trương lên lập lờ trôi. Tôi cố bơi vào bờ càng nhanh càng tốt, vừa để thoát ra khỏi cảm giác kinh hãi, vừa tránh pháo kích của địch. Leo lên bờ, tôi và Phú chạy luôn vào Dinh Tỉnh trưởng. Nơi này đã bị bom đạn đánh sập chỉ còn tầng ngầm để đặt Sở Chỉ huy tiền phương của trung đoàn và tiếp nhận sơ cấp cứu thương binh và chờ đến tối chuyển về tuyến sau. Sở Chỉ huy cách địch không xa. Tôi và Phú được phân đi chốt phía tây cách Dinh Tỉnh trưởng khoảng 500- 600m gần tuyến đường vào Thành cổ.

Chúng tôi ngồi trong chiếc hầm chữ A bị bom pháo đánh xập xệ, dưới nền đất nhão đen mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Dù khó chịu, nhưng chẳng còn cách nào khác, vì sự sống và cái chết cận kề nhau nên cứ chui vào đó để chốt. Trong ánh sáng lờ mờ, ngồi phải khom lưng bó gối, mỏi lưng thì thay nhau đứa ngồi đứa nằm. Ban ngày chúng tôi không đi ra ngoài để tránh địch phát hiện, chỉ quan sát qua khe hở tấm bê tông, nhưng vẫn phải đề phòng với bọn máy bay do thám L19 và VO10 vo vo bay suốt ngày đêm tuần tiễu trên đầu. Không dám ra ngoài, tiểu ở trong hầm sợ mùi, thằng Phú sáng kiến khom lòng bàn tay để hắt ra ngoài. Thỉnh thoảng một quả pháo ĐK của địch bay chéo qua cửa hầm sang bên Nham Biều, viên đạn đỏ lừ qua khe hở. Nhưng âm thanh chát chúa của tiếng pháo ta bắn chi viện, tiếng pháo địch cùng những tiếng gầm rú trút bom của B52 và các loại phản lực thi nhau quần đảo trút bom làm cho đầu chúng tôi lúc nào cũng như muốn nổ tung lên. Thỉnh thoảng Phú đen lại lấy 2 ngón tay nút vào hai lỗ tai, miệng lẩm bẩm chửi Mỹ, ngụy cậy nhiều tiền của đến đây bắn phá không tiếc đạn bom, bọn tao cũng không sợ.

Toàn bộ khu vực thị xã Quảng Trị đêm cũng như ngày pháo sáng bắn liên hồi, pháo, bom nổ làm mảnh đất này như rung lên, dưới sông các cột nước tung lên dựng đứng rồi rơi ào ào xuống. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng AK và hỏa lực của quân ta đánh lấn chiếm. Đêm xuống, những chiếc xuồng của ta chở vũ khí đạn dược cùng nhu yếu phẩm để tiếp tế chi viện cho tuyến trước và vận chuyển thương binh về tuyến sau. Dưới mưa bom bão đạn, bất chấp hiểm nguy, anh em vẫn vận chuyển thương binh ra rồi nhận vũ khí trang thiết bị, lương thực vào chốt, anh em được bổ sung vào các đơn vị chiến đấu tỏa đi các hướng…

Một buổi tối, tổ chốt của tôi được bổ sung thêm một người. Đêm tối lờ mờ chẳng nhận rõ mặt, một người lò dò đi đến. Nhận rõ khẩu lệnh, tôi vội kéo anh ta vào trong hầm, thu xếp xong chỗ, tôi hỏi:
- Cậu quê ở đâu, mới vào à?
- Tớ tên là Doanh, quê ở Hà Nội, là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Bách Khoa- đồng đội mới trả lời.
Qua hỏi thăm lẫn nhau, chủng tôi còn biết, bố mẹ Doanh đang công tác ở viện Quân y 108.

Từ khi bổ sung thêm người, chốt chúng tôi lại nảy sinh thêm vấn đề về sinh hoạt. Đó là hầm hai đứa đã chật, bây giờ thêm một thằng nữa lại chật hơn, không khí ngột ngạt vô cùng. Cái khó ló cái khôn, để đỡ vướng víu, ba thằng chúng tôi chỉ cởi trần mặc quần lót nằm ngồi thay nhau. Qua mấy hôm, bùn đất bám vào khắp người hết lớp này đến lớp khác, tóc lâu không cắt, quánh lại, bết trên đầu.

Doanh mới vào, nên có thêm một số nhu yếu phẩm của hậu phương. Một hôm, nó quờ tay vào ba lô vớ được hộp sữa đặc, nó reo lên: “Ôi, quà của mẹ tao chuẩn bị cho, mang từ Hà Nội vào”. Bao ngày ăn uống thiếu chất, nhìn hộp sữa, tôi và Phú đen phát thèm, cứ hau háu bảo Doanh mở uống luôn. Nhưng cả bọn loay hoay một lúc mà không làm thế nào mở được. Cuối cùng Phú đen nghĩ ra kế là dùng cái thông nòng súng đục hai lỗ, thay nhau hút. Hộp sữa quay một vòng qua ba thằng là hết. Do sữa đặc nhiều đường, đứa nào cũng khát nước. Sẵn có bi đông nước lấy ở sông Thạch Hãn tối trước, ba đứa thay nhau tu. Chỉ một lát sau, bất chợt, bụng đứa nào cũng sôi ùng ục, cứ cười hoặc ho là không kiềm chế được sự thiếu tế nhị. Nhưng do hoàn cảnh bắt buộc và do sự tự điều chỉnh cho thích nghi của cơ thể cơn đau bụng cũng dần yên, dù chẳng có thuốc thang gì.

Vào một đêm, tôi đang phiên canh gác, bỗng thấy anh em mình ở các chốt lần lượt đi về và thông báo có lệnh rút khỏi thành. Tôi gọi Phú và Doanh dậy và nhanh chóng lấy túi ni lông cho ba lô súng đạn vào buộc chặt để chuẩn bị vượt sông rút về tuyến sau. Anh em ở các hướng chốt cũng đang về và chuẩn bị ngớt đợt pháo kích của địch là vượt sông về phía bắc sông Thạch Hãn. Hình như địch cũng đã phát hiện ta rút quân nên chúng bắn pháo cản đường tới tấp, nước sông Thạch Hãn như sôi lên. Bên cạnh đó, vì nhiều ngày liên tục Quảng Trị mưa rất to, nước sông lên nhanh làm cho mặt sông rộng thêm. Những yếu tố ấy cùng với sự mệt mỏi qua thời gian chiến đấu bảo vệ Thành Cổ làm cho anh em vượt sông khó khăn thêm. Thấy pháo địch ngớt tất cả anh em ào xuống vượt sông. Có người thì bị trôi mất phao, có người lúng túng vì không biết bơi, thỉnh thoảng có tiếng kêu cứu yếu ớt vọng lên rồi tắt dần. Trên trời pháo sáng địch bắn dày làm sáng rực cả dòng sông, máy bay địch gầm rú cộng với những bước chân người, tiếng gọi nhau làm náo động cả dòng sông. Ba chúng tôi tiến về bờ sông, thằng Doanh nhanh nhảu tìm được đường xuống trước còn tôi và Phú lùm tùm chưa xuống được. Bất ngờ có tiếng nổ dưới sông nơi thằng Doanh vừa xuống, tôi và Phú ngã té ngửa trở lại trống ngực đập thình thịch. Sau khi bật dậy, tôi lao ra chỗ pháo vừa nổ gọi tìm Doanh nhưng không thấy, chúng tôi nghĩ Doanh đã hy sinh và trôi đi rồi mà không làm cách nào khác. Tiếp tục vượt sông, tôi và Phú bơi gần nhau chỉ được một đoạn rồi bị trôi xa mỗi đứa một nơi. Chiếc phao bơi của tôi to, nước chảy siết kéo trôi đi rất nhanh không theo ý mình được. Một lúc sau thì chiếc phao tuột khỏi tay và trôi đi mất. Bơi tay không, rất lâu sau tôi mới vào được bờ, cảm thấy may mắn bởi thời gian bơi không có pháo địch. Vừa chạy vừa tránh pháo sáng khỏi rơi vào đầu, tôi thầm thở phào may mà mình là dân quê, biết bơi lội từ bé nên vượt được cửa ải chết người này. Chạy thục mạng vào được làng Nham Biều, chui đại vào một căn hầm chữ A xiêu vẹo, tôi nằm nghỉ cho đỡ mệt, nhưng rồi ngủ lúc nào không biết, khi tỉnh dậy nước đã ngập nửa người do trời mưa nước chảy xuống. Ngoài trời đã sáng, lại phải ngồi nguyên đợi đến tối tôi mới tìm đường về đơn vị.

Sau này, dù đã tham gia nhiều trận đánh lớn, qua nhiều lần chỉ cách cái chết trong gang tấc nhưng những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vẫn không thể nào phai nhạt trong tôi.

Vũ Văn Toàn

Nguồn "tuyengiaohungyen.vn" Trang Thông tin điện tử - BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN