Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI BẠN

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Tran Kienquoc 22/7/2018 05:42
Một bài viết về LS Nguyễn Khắc Bình k7 của Hồ Sỹ Bàng k7

Sáng chủ nhật, 22/7, lang thang mạng và đọc được bài này. Xúc động quá! Vậy là thêm thông tin của 1 LS trường Trỗi còn thiếu.
Cảm ơn Bàng và người kể chưa biết mặt!

CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI BẠN


Buổi sáng hôm ấy, sắp tới 27 tháng 7, tôi hẹn gặp được một người bạn gái cùng trường phổ thông. Quán cafe đã hẹn nằm ngay trong Viện Bảo tàng Quân đội. Nơi đây đang khẩn trương chuẩn bị cho ngày lễ. Bọn tôi quen nhau qua cuộc họp toàn khóa. Qua đó, tôi được biết bạn ấy là một trong những người bạn thân học cùng lớp 10 với Nguyễn Khắc Bình, học sinh Khóa 7 trường Văn hóa Quân đội - Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Tôi rất muốn có được nhiều thông tin thêm về Khắc Bình. Sau môt hồi trao đổi, tôi được nghe bạn ấy kể lại chuyện giữa họ. Cô bạn yêu cầu không nêu tên. Xin viết lại chuyện mà bạn ấy kể:
“Ngày ấy, trường Nguyễn Văn Trỗi giải tán. Có nhiều học sinh về trường mình. Đặc điểm chung của các bạn ấy là học hành được, sôi nổi, có nhiều bạn bè ở các lớp khác nhau trong trường. Chắc hẳn mọi người có một thời gian dài cùng học và sinh hoạt nên rất hiểu nhau, có xu hướng tụ lại với nhau. Bọn mình thấy người ta hay nói “hội Trỗi”. Nhiều trận ẩu đả trong và ngoài trường cũng có mặt học sinh trường Trỗi tham gia.
Khắc Bình cũng nằm trong số đó. Mình vẫn nhớ, những ngày đầu về lớp, cậu ấy rất nghịch. Người tầm thước, khuôn mặt xương xương, giọng nói rất to. Mỗi khi tranh luận, giọng của cậu ấy cứ ầm ĩ làm mọi người phải ngoái nhìn.
Ban đầu, cậu ấy cũng làm cả lớp vất vả. Còn nhớ ngày ấy, như thế bọn mình hay nói “ý thức tổ chức kỷ luật” chưa tốt. Thầy chủ nhiệm, Chi đoàn và các cán bộ lớp đều quan tâm đến việc này. Lúc đó mình làm lớp phó phụ trách học tập. Mọi người bàn nhau cùng chung tay giúp đỡ Khắc Bình. Và mình được giao trách nhiệm chia sẻ cùng Khắc Bình lúc đó.
Bọn mình đã cùng nhau học tập, rèn luyện. Ban đầu Khắc Bình bất hợp tác. Cậu ấy khó chịu mỗi khi sinh hoạt lớp, không tập trung học tập. Nhưng sự kiên trì của mọi người đã khiến Khắc Bình dần “hiền “ hơn. Khắc Bình cũng chịu học nhóm và mình cũng hay tâm sự với Khắc Bình.
Cậu ấy cũng có nhiều kết quả đáng mừng. Kết quả học tập tốt. Nhưng điều cơ bản là cậu ấy hòa đồng hơn với mọi người, có ý thức giúp đỡ bạn bè. Tuy cùng sinh năm 1954, nhưng mình sinh trước Khắc Bình nhiều tháng nên trong giao tiếp, cậu ấy luôn gọi mình là chị và bọn mình trở thành chị em kết nghĩa. Có nhiều chuyện tâm sự. Đó là một tình bạn đáng nhớ thời phổ thông của mình.
Bước vào năm 1972, lúc ấy là kỳ 2 lớp 10. Khi ấy chiến trường đang đỏ lửa, học sinh của trường lớp lớp lên đường vào Nam đánh giặc. Bọn mình vẫn đi học hàng ngày, không khí rất sôi động. Mình còn nhớ, chiều hôm ấy, 2 đứa đi xe đạp đi học về. Đến gần cây vú sữa gần quảng trường Ba Đình, Khắc Bình đi chậm lại và nói: “Chúng mình đỗ lại, em có việc muốn hỏi chị”. Bọn mình dừng lại, mình chờ Khắc Bình nói. Mình đang nghĩ cậu ấy muốn tâm sự về một người bạn gái trong lớp mà Khắc Bình rất thân. Nhưng không. Khắc Bình vẫn yên lặng. Một lúc sau, Khắc Bình có nói, em định xung phong đi bộ đội đợt này, chị nghĩ thế nào? Mình giật mình. Đây cũng là một điều mới mẻ với mình. Sau khi biết Khắc Bình chưa nói gì với gia đình, mình chỉ biết nói, nên về nhà trao đổi lại với bố mẹ. Bố mẹ luôn là chỗ dựa vũng chắc cho những đứa con của mình.
Thế rồi Khắc Bình có quyết định nhập ngũ. Chi đoàn khi đó họp, đề nghị kết nạp Đoàn cho Khắc Bình vì những tiến bộ cả về học tập và rèn luyện của cậu ấy. Trước ngày kết nạp Đoàn, Khắc Bình có tâm sự. Khắc Bình muốn được mình chuẩn bị huy hiệu đoàn và chính mình gắn cho Khắc Bình trong lễ kết nạp. Đây cũng là điều mình ấn tượng và thầm cảm ơn Khắc Bình.
Ngày 16 tháng 4, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội. Sắp đến ngày lên đường, cùng bao bạn bè trong lớp, mình chuẩn bị cho các bạn nhập ngũ. Những dòng lưu niệm, những món quà như bút viết, tem, phong bì thư, bàn chải ...chan chứa bao kỷ niệm. Ngày tiễn Khắc Bình nhập ngũ, mình thấy Khắc Bình ôm chặt những món quà đó. Đôi mắt hoe đỏ, Khắc Bình có nói với mình: “Chị yên tâm nhé! Nhớ giữ gìn sức khỏe!”
Thời gian cứ trôi đi. Mình cũng nhận được thư của Khắc Bình gửi về trên các chặng đường hành quân. Trong mỗi lá thư kể về niềm háo hức của một đứa con Hà Nội sắp xung trận, những miền quê đã đi qua và những khó khăn vấp váp khi bước vào cuộc sống mới. Khắc Bình đặc biệt chia sẻ niềm vui khi gặp bạn bè cùng trường, cùng lớp trên đường ra chiến trường. Mấy đứa ôm chầm lấy nhau, gọi lại các biệt danh, liệt kê bạn bè, kể lại kỷ niệm thời học sinh... Mình nhớ nhiều nhất lá thư Khắc Bình viết từ Nam Đàn về. Trong thư, Khắc Bình gửi lại 2 bức ảnh, phía sau ghi những dòng chữ thân thương “Nam Đàn quê Bác 19/8/1972. Khắc Bình của Chị. Kỷ niệm”, “Tặng chị. Đứa em trai của Chị”. Lá thư nói đến việc chuẩn bị lên đường trên con tàu từ đất quê Bác đi đến miền Nam. Trong thư có đoạn viết “Con tàu sẽ lao về phương Nam, mắt em nhòa đi”. Mình có cảm giác rất lâu bọn mình mới gặp lại nhau. Cầm lá thư, mình vừa đọc vừa khóc.
Lá thư cuối cùng Khắc Bình gửi là từ Vĩnh Thành, Vĩnh Linh. Sau đấy không nhận được lá thư nào nữa.
Năm 1973, mình vẫn không nhận được tin gì từ Khắc Bình. Vào một ngày đầu năm 1973, có 3 anh bộ đội đến nhà mình. Gặp mình, các anh hỏi tên mình và giới thiệu: “Chúng tôi là những người cùng đơn vị với anh Bình. Mình mừng lắm, mời các anh vào nhà và muốn được tin của Khắc Bình. Mình mời các anh ngồi và đi pha nước. Lòng thấp thỏm. Mới ngồi xuống, cả 3 anh đã đứng lên. Một anh, giọng như kìm nén, khẽ nói: “Hôm nay đơn vị về đây muốn nói với chị về đồng đội Bình của chúng tôi. Chúng tôi nhân ra Bắc có cuộc họp nên đến thăm chị và có điều muốn nói với chị”. Mình chợt cảm thấy hụt hẫng.
Các anh nói, ở đơn vị, Khắc Bình là một người lính có tính kỷ luật cao, không ngại gian khổ, sẵn sàng giúp đỡ đồng đội. Lính trẻ, có người đã có người yêu, có người chưa. Mỗi lần hỏi Khắc Bình về chuyện này, chỉ thấy cậu ấy cười. Cậu ấy thường nhắc đến chị và nói với anh em về chị với lòng kính trọng. Khắc Bình rất chịu khó viết thư.
Thế rồi các anh kể chuyện Khắc Bình đã ra sao.
Vào đầu 1973, Hiệp định Pari vẫn chưa được ký. Chiến trường trong ấy loang lổ kiểu da báo. Ta với địch giữ những vùng đất xen kẽ nhau. Bọn ngụy trước ngày thất bại đã huy động tổng lực và nhiều cuộc chạm trán vẫn xảy ra giữa những vùng giáp ranh.
Hôm đó là ngày 16 tháng 1 năm 1973. Tổ 3 người, trong đó có Khắc Bình, được cử đi trinh sát. Đến thời điểm đã định, không thấy tổ trở về. Đơn vị hiểu rằng tổ đã bị địch phục kích và cử người đi tìm. Thoạt tiên, anh em phát hiện ra đồng đội thứ nhất, rồi đến tìm thấy đồng đội thứ hai ... hy sinh và cố gắng lần tìm Khắc Bình hồi lâu. Cuối cùng, họ thấy Khắc Bình đang thoi thóp thở, máu loang đầy trên mặt. Anh em nâng Bình lên. Bình chào anh em và cuối cùng chỉ kịp nói: “Nếu tôi trở về thế giới bên kia, xin các anh đến nhà chị tôi và nói với chị rằng tôi vẫn nhớ đến chị”. Nói rồi Khắc Bình mất đi ngay trên tay đồng đội.
Nghe vậy, mình thực sự xúc động, ngồi sụp xuống muốn khóc mà không khóc được, không nói hồi lâu. Các anh thấy vậy, đứng dậy, xin phép về. Không biết nói gì, mình tiễn các anh ra cửa. Cho đến bây giờ, mình mãi ân hận vì mình cũng không hỏi được tên và đơn vị các anh. Đã nhờ nhiều nơi, nhiều mối quan hệ nhưng vẫn vô hiệu.
Gia đình, sau một thời gian dài tìm kiếm, mộ phần Khắc Bình đã được đưa về nghĩa trang quê nhà ở xã Cảnh Dương, Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ngôi mộ nhỏ của bạn ấy nằm trong nghĩa trang nhỏ. Mình cũng đã nhiều lần về viếng mộ bạn ấy.
Mình cảm giác Khắc Bình vẫn đang ở đâu đây. Hai bức ảnh mà Khắc Bình gửi cho mình từ Nam Đàn, mình luôn giữ như một kỷ vật thiêng liêng. Dù đi đâu, xa hay gần, trong nước hay ngoài nước, các buổi họp hay đi du lịch, mình luôn mang theo. Thực khó lý giải đúng không. Cho đến bây giờ, những lá thư Khắc Bình gửi, mình vẫn giữ. Mỗi lần nhìn vào những lá thư ấy, bao buồn vui kỷ niệm tràn về, không thể quên được. Mình cũng xin phép với chồng mình đặt những lá thư này trên một góc bàn thờ thờ Khắc Bình. Anh ấy đồng ý. Và mình cảm ơn anh ấy. Mình đã thi vào Đại học Y nhưng không hiểu sao lại học sư phạm và trở thành cô giáo. Mãi về sau, khi nghiệm lại, mình nhớ có lần Khắc Bình có nói: “Em mong chị về sau sẽ làm cô giáo, chị ạ!”

Câu chuyện dừng lại ở đó. Đường phố vẫn ồn ã. Cô bạn từ từ xoay chiếc điện thoại trên tay và nhìn chăm chăm vào đó. Tình cảm của 2 người bạn tôi thật khó lý giải. Chúng tôi yên lặng. Tôi tự hứa sẽ tìm gia đình Khắc Bình và cùng bạn bè đến thăm. Người bạn liệt sĩ mà bạn bè đã bao năm cố gắng tìm lại, bây giờ đã có những tin tức ban đầu. Khắc Bình ơi! Hy vọng Bình sẽ về lại giữa tình cảm anh em, bạn bè đã thất lạc bạn bấy lâu.

(Bài viết từ 24/7/2016).


Hồ Bàng >> BẠN NVT 22/7/2018 11:41
Hai bức ảnh mà bạn Khắc Bình (liệt sĩ - K7) tặng người bạn phổ thông với đề tặng trong ảnh.







Thông tin mộ LS Nguyễn Khắc Bình

tại Trang Người đưa đò (NGUYỄN SỸ HỒ) - www.nguoiduado.vn
Tên nghĩa trang: NTLS xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.
Họ và tên: Nguyễn Khắc Bình
Năm sinh: 1954
Quê quán: Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình
Cấp bậc/chức vụ: Chiến sĩ
Đơn vị lúc hi sinh: QK5
Ngày hi sinh: 16/01/1973
Vị trí mộ: Lô mộ: 2 Hàng mộ: 11 Số mộ: 7

Ảnh sưu tầm trên mạng của Đào Việt Dũng

Chuyện những “mộ gió”

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Mộ gió - chuyện viết đã 8 năm!
(Kiến Thức 27/07/2010)

Từng có những năm tháng là người lính, có không ít những đồng đội đã hy sinh nên chúng tôi là những người biết nhiều sự thật. Hàng chục năm chiến tranh đã qua đi, nhưng hậu quả của nó để lại những nỗi đau âm ỉ cho những gia đình, nhất là những bà mẹ…
***

Chuyện những “mộ gió”

Mai đã là 27/7. Chiều nay có một cô bé thế hệ 8X điện hỏi: “Chú ơi, mộ gió là gì?”. Vừa nghe cháu hỏi, tim tôi khẽ nhói. Bạn tôi nhiều đứa hy sinh mà giờ chỉ có mộ gió.

Trịnh Thúc Doanh, lính của trung đoàn 95, sư 325. Đúng chiều tối ngày thứ 81 – ngày cuối cùng của chiến dịch trấn giữ Thành cổ Quảng Trị - được lệnh rút. Doanh cùng đồng đội nhanh chóng chạy ra sông Thạch Hãn. Khi vừa nhảy xuống lòng sông thì một viên đạn từ đâu bắn tới, Doanh trúng đạn và mất tích. Đồng đội quơ tìm mà không thấy, buộc phải bơi qua sông.
Cả chục năm sau này, sau nhiều lần gia đình vào tìm kiếm hài cốt mà bất lực. Mẹ Mai của Doanh đã mang nắm đất ven sông, đúng nơi Doanh ngã xuống, về và đưa vào NTLS phường Định Công, Hà Nội; coi đó là hài cốt anh.
Ngày “hạ huyệt”, mẹ Mai không quên “hóa” cho anh cái áo bông đã mặc suốt thời gian ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Y Hòa bạn tôi cũng vậy. Cùng đồng đội sư 312 chốt giữ ngọn đồi Con Kiêu, tranh giành với địch từng mét đất. Bom đạn ác liệt. Chiến sĩ ta gọi đồi này là “đồi Cháy” vì bom đạn đã đốt cháy trụi màu xanh.
Y Hòa kiên gang chiến đấu nhưng không may anh trúng đạn. Máu tươi ướt cả mặt và mái tóc xanh. Cũng chỉ kịp rút túi ngực ra tấm thẻ đoàn viên và chân dung một người bạn gái, cũng ướt nhèm máu, thều thào: “Chuyển… chuyển những… cái này về… về cho gia đình tao” rồi anh tắt thở. Đồng đội vét đất lên, làm hố chôn anh. Hố nông choèn. Bom đạn thế làm sao mà có cái huyệt sâu.
Ngay sau 30/4/1975, có 3 năm quay lại mà không tìm thấy những tọa độ đã “đánh dấu”. Rồi bạn thời Thiếu sinh quân cùng gia đình và đồng đội sư 312 đã cày nát đồi Cháy mà không tìm ra anh và 9 đồng đội. Gia đình tạm thời lấy nắm đất ở đồi Cháy về thay cho hài cốt, đưa vào NTLS TP Buôn Mê Thuột.

***

Và những mộ liệt sĩ “vô danh”
Còn nữa, tân binh Đặng Bá Linh, ngay đêm đầu tiên, ra đánh trận đầu tiên ở cao điểm 105 bắc Quảng Trị. Chưa kịp nổ một phát súng, anh đã trúng đạn. Máu mất nhiều, anh hy sinh. Đồng đội chôn cất anh ở hậu cứ.
Tới ngày quy tập, khi sờ túi thấy còn lọ pénecicline trong túi, cất giữ những thông tin về anh (tên tuổi, đơn vị (A…, B…, C…), hy sinh ngày 26/8/1972) và anh được chuyển về NTLS xã đó. Mộ anh ngày đó có danh.
Sau đó, có đợt di dời lần 2, mộ anh cùng nhiều liệt sĩ từ đây được chuyển về NTLS huyện. Và, không hiểu vì lí do gì mà mọi thông tin về anh thất lạc. Đau hơn, từ ngày đó mộ anh và nhiều đồng đội trở thành vô danh.
Cũng đã nhờ vài nhà ngoại cảm thử tìm nhưng thấy chưa tin cậy nên gia đình lấy nắm đất trên cao điểm 105 về đặt trên bàn thờ.

Liệt sĩ Trần Hữu Dân cũng tương tự. Trên ngọn đồi không tên gần động Ông Gio, trong một trận chiến không cân sức với bọn ngụy dùng trực thăng vận tấn công lên chốt, Dân bị thương.
Đồng đội cáng anh theo dọc sông Nhung về căn cứ tiền phương. Nhưng vết thương quá nặng, Dân đã hy sinh. Anh được chôn cất cùng liệt sĩ khác.
Sau giải phóng, dân địa phương đi làm rẫy còn thấy bốn nấm mồ và báo cho chính quyền. Anh cũng đã được quy tập về NTLS huyện nơi anh nằm xuống nhưng giờ, mộ vẫn vô danh.

***

… Đó mới chỉ là chuyện của bốn đồng đội, là nỗi đau của 4 gia đình đằng đẵng mấy chục năm qua. Mấy năm trước, theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH thì còn đến 300.000 trường hợp chưa tìm thấy hài cốt hoặc mộ chưa có danh.
Xin được thắp một nén nhang cho linh hồn các anh.

Sài Gòn, 11h30 đêm 26/7/2010.
(CCB Trần Kiến Quốc)

FB Tran Kienquoc, 18 Tháng 7 lúc 14:55



Hong Nam Nguyen: Nguyễn Dũng K15 CTM ĐHBKHN bên mộ liệt sỹ Trịnh Thúc Doanh cũng học K15 CTM, đều là lính 6971, CCB của F325 chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Nghĩa trang Liệt sĩ phường Định Công, Thanh Trì, Hà Nội


Mộ Y Hòa - Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đăk Lăk hay Nghĩa trang Liệt sĩ TP Pleiku? (theo SRTKL).




Nghĩa trang liệt sĩ Huyện Hải Lăng


... nơi hai BanTroi Đặng Bá Linh K6Trần Hữu Dân K7 yên nghỉ!



Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?
Ảnh sưu tầm trên mạng


Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018

Chùm thơ Tưởng nhớ các bạn liệt sĩ K5 - Trần Kiến Quốc

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ



FB Tran Kienquoc >> Bạn Trỗi K5 - 21/7/2018 06:02.

ĐIỂM DANH

Khóa 5 ta 200 thằng
Bảy thằng dũng cảm lên đường, hy sinh
khi mà lúc tuổi còn xanh
khi mà đang tuổi học hành, yêu đương
Chúng coi cái chết bình thường
nhẹ nhàng chả khác lông hồng khẽ bay
Những thằng bạn của tao ơi
Hôm nay xin được thay thầy điểm danh:

Một, Nguyễn Văn Ngọc (1950 - 10/10/1968)
Hai, Phạm Văn Hạo (1953 - 28/6/1971)
Ba, Võ Dũng (1951 - 21/4/1972)
Bốn, Vũ Kiên Cường (1953 - 28/7/1972)
Năm, Huỳnh Kim Trung (1952 - 20/8/1972)
Sáu, Nguyễn Lâm (1953 - 5/9/1972)
Bảy, Trịnh Thúc Doanh (1953 - 16/9/1972)



Thằng Ngọc "ghẻ", liệt sỹ đầu tiên hy sinh ngoài chiến trường, đi năm 1968.
Thằng Hạo "cồ" vào mặt trận B2, hy sinh 1971.
Còn 5 thằng còn lại đi năm 1972, Mùa hè đỏ lửa!




MỘT KÝ ỨC KHÓ QUÊN THỜI HOA LỬA - Hồi ký của Vũ Văn Toàn

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

FB Tran Kienquoc 21/7/2018

MỘT BÀI VIẾT CỦA ĐỒNG ĐỘI VỀ DOANH


Quang Bắc, Xuân Minh, Công Chính, Chí Hòa... và tôi có Nguyễn Hồng Nam là bạn từ ngày đi Trại Nhi đồng Miền Bắc năm 1958, 59 ở 20 Thụy Khê.
Nam là cựu sinh viên Bách khoa, đi lính 1971 cùng Trịnh Thúc Doanh, cùng ra mặt trận Quảng Trị. May mà còn về.
Nam có trong tay bài viết này và còm trong bài viết "Mộ gió" của tôi. Nay xin đăng lại:
Nguyễn Trà Vinh - bạn học cùng lứa với Trịnh Thúc Doanh, cùng khóa K15 CTM ĐHBK với Nguyễn Dũng và tôi, cùng gia nhập đoàn binh 6971. Nguyễn Trà Vinh cùng ở C16 E95 với Trịnh Thúc Doanh.
Hôm nay là Ngày giỗ LS Trịnh Thúc Doanh, cùng đại đội c16, E95, F325 - Lính SV 6971 - Sinh viên K15 A CTM ĐHBK HN.
Doanh hy sinh sau khi chuyển sang đơn vị khác cũng trong Trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ QT. Mẹ LS có làm giỗ gọi bọn tôi đến thắp hương cho đồng đội, cho bạn mình. Năm nay do hoàn cảnh ko đi được nhưng vẫn nhớ!
Xin phép được trích đăng lại Hồi ký của Vũ Văn Toàn (CCB cùng Trung đoàn) Người đã chứng kiến Trịnh Thúc Doanh hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn:
Ảnh trong bài: "43 năm - Liệt Sỹ Trịnh Thúc Doanh K5" - NgoTheVinh, 21/9/2015, Blog "Bạn Trỗi K5".
Nâng cốc mời rượu Trịnh Thúc Doanh.
Từ phải qua trái: Anh Dương, Nguyễn Dũng, Nguyễn Trà Vinh, Ngô Thế Vinh, Đinh Kim Khôi, Hoàng Việt Dũng, Nguyễn Tuấn Kiệt, Vũ Văn Toàn, Hoàng Văn Thông, anh Trung. Trong đó Nguyễn Dũng, Nguyễn Trà Vinh, Vũ Văn Toàn, Hoàng Văn Thông đều là các "Lính sinh viên" Thành Cổ Quàng Trị cùng đơn vị với Trịnh Thúc Doanh. Đặc biệt có Vũ Văn Toàn là Lính bắn tỉa tại Thành Cổ, là người ở cùng Trịnh Thúc Doanh chứng kiến lúc Trịnh Thúc Doanh hy sinh. Điều nay đã được Vũ Văn Toàn viết trong Hồi ký của mình với nhan đề "Một ký ức khó quên thời Hoa Lửa". Tôi sẽ có dịp giới thiệu với các bạn Hồi ký này phần có nói đến Trịnh Thúc Doanh và sự chứng kiến lúc Doanh hy sinh.



MỘT KÝ ỨC KHÓ QUÊN
THỜI HOA LỬA

Hồi ký

Trời tối đen như mực, tôi và Phú đen cắt ngang cánh đồng lần theo ven quốc lộ 1 qua sân bay Ái Tử đi về hướng bãi vượt Nham Biều để sang Thành cổ Quảng Trị. Hai thằng cứ lầm lũi khom khom để đi, trên đầu máy bay địch gầm rú thi nhau trút bom, cùng với pháo kích trong đất liền và pháo từ ngoài biển bắn vào tạo ra những tiếng nổ xé trời, những tia chớp loằng ngoằng, làm mặt đất lúc nào cũng rung lên. Tuy phải tránh bom, pháo nhưng cũng chính những tia chớp và pháo sáng lại giúp chúng tôi xác định hướng đi rõ hơn.

Tôi và Phú đen cứ bám sát nhau đi, bất thần nghe tiếng ú xoẹt của quả pháo kích địch hai đứa nhảy xuống hố bom bên cạnh, như một phản xạ tự vệ giữa cái sống và cái chết. Tiếng nổ chát chúa làm đất tung lên khét lẹt rơi xuống nơi tôi và Phú đang ở dưới. May mà nó nổ cách chúng tôi hơn chục mét.Tôi gọi hỏi Phú:
- Có làm sao không mày?
- Không sao- Phú trả lời
Dù không ai bị thương, nhưng cả hai chúng tôi đều bị mắc kẹt bởi những dây thép gai bùng nhùng sắc nhọn, chắc khi dọn sân bay Ái Tử anh em vứt xuống. Chúng tôi cứ ra sức gỡ nhấc được chân này thì chân kia lại mắc vào đám bùng nhùng. Tôi bảo Phú cởi ba lô và súng quẳng lên bờ để tay rảnh bám vào đất nhoài người lên. Mãi sau thì hai đứa cũng thoát được lên miệng hố bom, dù chân tay đứa nào cũng ứa máu.
- Thế là thoát khỏi cái bẫy nguy hiểm này- Phú cười.
Hai đứa lại tiếp tục lần theo hướng để về bến vượt Nham Biều đối diện. Bên ấy là Dinh Tỉnh trưởng, nơi Sở Chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 95 mà tôi và Phú được điều sang để tăng cường chốt bảo vệ. Tìm được bến vượt, chúng tôi chỉ mặc một chiếc quần lót, còn cho hết vào trong phao bơi buộc chặt, ôm phao sẵn sàng, chờ khi pháo địch chuyển làn là vượt sông. Đứa nào cũng cảm thấy hồi hộp. Tất cả anh em được tăng cường sang Thành đều có chung tâm trạng như vậy. Đến mép bờ sông Thạch Hãn, chúng tôi thấy anh em đơn vị vận tải nổ xuồng máy chở vũ khí, đạn dược, nhu yếu phẩm để tiếp tế cho tuyến trước đồng thời chở thương binh ra tuyến ngoài cứu chữa. Nhìn cảnh quân ta ra vào tấp nập, tôi và Phú như được tiếp thêm nghị lực vượt sông. Hòa cùng đoàn quân sang chi viện cho tuyến trước, khi bơi tiến sát gần bờ phía nam cách chừng 2-3 mét, thấy phập phồng những bóng đen nổi trên mặt nước, tôi choàng tay vào xem thử thì rủn cả người. Đó toàn là những xác người đã bắt đầu trương lên lập lờ trôi. Tôi cố bơi vào bờ càng nhanh càng tốt, vừa để thoát ra khỏi cảm giác kinh hãi, vừa tránh pháo kích của địch. Leo lên bờ, tôi và Phú chạy luôn vào Dinh Tỉnh trưởng. Nơi này đã bị bom đạn đánh sập chỉ còn tầng ngầm để đặt Sở Chỉ huy tiền phương của trung đoàn và tiếp nhận sơ cấp cứu thương binh và chờ đến tối chuyển về tuyến sau. Sở Chỉ huy cách địch không xa. Tôi và Phú được phân đi chốt phía tây cách Dinh Tỉnh trưởng khoảng 500- 600m gần tuyến đường vào Thành cổ.

Chúng tôi ngồi trong chiếc hầm chữ A bị bom pháo đánh xập xệ, dưới nền đất nhão đen mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Dù khó chịu, nhưng chẳng còn cách nào khác, vì sự sống và cái chết cận kề nhau nên cứ chui vào đó để chốt. Trong ánh sáng lờ mờ, ngồi phải khom lưng bó gối, mỏi lưng thì thay nhau đứa ngồi đứa nằm. Ban ngày chúng tôi không đi ra ngoài để tránh địch phát hiện, chỉ quan sát qua khe hở tấm bê tông, nhưng vẫn phải đề phòng với bọn máy bay do thám L19 và VO10 vo vo bay suốt ngày đêm tuần tiễu trên đầu. Không dám ra ngoài, tiểu ở trong hầm sợ mùi, thằng Phú sáng kiến khom lòng bàn tay để hắt ra ngoài. Thỉnh thoảng một quả pháo ĐK của địch bay chéo qua cửa hầm sang bên Nham Biều, viên đạn đỏ lừ qua khe hở. Nhưng âm thanh chát chúa của tiếng pháo ta bắn chi viện, tiếng pháo địch cùng những tiếng gầm rú trút bom của B52 và các loại phản lực thi nhau quần đảo trút bom làm cho đầu chúng tôi lúc nào cũng như muốn nổ tung lên. Thỉnh thoảng Phú đen lại lấy 2 ngón tay nút vào hai lỗ tai, miệng lẩm bẩm chửi Mỹ, ngụy cậy nhiều tiền của đến đây bắn phá không tiếc đạn bom, bọn tao cũng không sợ.

Toàn bộ khu vực thị xã Quảng Trị đêm cũng như ngày pháo sáng bắn liên hồi, pháo, bom nổ làm mảnh đất này như rung lên, dưới sông các cột nước tung lên dựng đứng rồi rơi ào ào xuống. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng AK và hỏa lực của quân ta đánh lấn chiếm. Đêm xuống, những chiếc xuồng của ta chở vũ khí đạn dược cùng nhu yếu phẩm để tiếp tế chi viện cho tuyến trước và vận chuyển thương binh về tuyến sau. Dưới mưa bom bão đạn, bất chấp hiểm nguy, anh em vẫn vận chuyển thương binh ra rồi nhận vũ khí trang thiết bị, lương thực vào chốt, anh em được bổ sung vào các đơn vị chiến đấu tỏa đi các hướng…

Một buổi tối, tổ chốt của tôi được bổ sung thêm một người. Đêm tối lờ mờ chẳng nhận rõ mặt, một người lò dò đi đến. Nhận rõ khẩu lệnh, tôi vội kéo anh ta vào trong hầm, thu xếp xong chỗ, tôi hỏi:
- Cậu quê ở đâu, mới vào à?
- Tớ tên là Doanh, quê ở Hà Nội, là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Bách Khoa- đồng đội mới trả lời.
Qua hỏi thăm lẫn nhau, chủng tôi còn biết, bố mẹ Doanh đang công tác ở viện Quân y 108.

Từ khi bổ sung thêm người, chốt chúng tôi lại nảy sinh thêm vấn đề về sinh hoạt. Đó là hầm hai đứa đã chật, bây giờ thêm một thằng nữa lại chật hơn, không khí ngột ngạt vô cùng. Cái khó ló cái khôn, để đỡ vướng víu, ba thằng chúng tôi chỉ cởi trần mặc quần lót nằm ngồi thay nhau. Qua mấy hôm, bùn đất bám vào khắp người hết lớp này đến lớp khác, tóc lâu không cắt, quánh lại, bết trên đầu.

Doanh mới vào, nên có thêm một số nhu yếu phẩm của hậu phương. Một hôm, nó quờ tay vào ba lô vớ được hộp sữa đặc, nó reo lên: “Ôi, quà của mẹ tao chuẩn bị cho, mang từ Hà Nội vào”. Bao ngày ăn uống thiếu chất, nhìn hộp sữa, tôi và Phú đen phát thèm, cứ hau háu bảo Doanh mở uống luôn. Nhưng cả bọn loay hoay một lúc mà không làm thế nào mở được. Cuối cùng Phú đen nghĩ ra kế là dùng cái thông nòng súng đục hai lỗ, thay nhau hút. Hộp sữa quay một vòng qua ba thằng là hết. Do sữa đặc nhiều đường, đứa nào cũng khát nước. Sẵn có bi đông nước lấy ở sông Thạch Hãn tối trước, ba đứa thay nhau tu. Chỉ một lát sau, bất chợt, bụng đứa nào cũng sôi ùng ục, cứ cười hoặc ho là không kiềm chế được sự thiếu tế nhị. Nhưng do hoàn cảnh bắt buộc và do sự tự điều chỉnh cho thích nghi của cơ thể cơn đau bụng cũng dần yên, dù chẳng có thuốc thang gì.

Vào một đêm, tôi đang phiên canh gác, bỗng thấy anh em mình ở các chốt lần lượt đi về và thông báo có lệnh rút khỏi thành. Tôi gọi Phú và Doanh dậy và nhanh chóng lấy túi ni lông cho ba lô súng đạn vào buộc chặt để chuẩn bị vượt sông rút về tuyến sau. Anh em ở các hướng chốt cũng đang về và chuẩn bị ngớt đợt pháo kích của địch là vượt sông về phía bắc sông Thạch Hãn. Hình như địch cũng đã phát hiện ta rút quân nên chúng bắn pháo cản đường tới tấp, nước sông Thạch Hãn như sôi lên. Bên cạnh đó, vì nhiều ngày liên tục Quảng Trị mưa rất to, nước sông lên nhanh làm cho mặt sông rộng thêm. Những yếu tố ấy cùng với sự mệt mỏi qua thời gian chiến đấu bảo vệ Thành Cổ làm cho anh em vượt sông khó khăn thêm. Thấy pháo địch ngớt tất cả anh em ào xuống vượt sông. Có người thì bị trôi mất phao, có người lúng túng vì không biết bơi, thỉnh thoảng có tiếng kêu cứu yếu ớt vọng lên rồi tắt dần. Trên trời pháo sáng địch bắn dày làm sáng rực cả dòng sông, máy bay địch gầm rú cộng với những bước chân người, tiếng gọi nhau làm náo động cả dòng sông. Ba chúng tôi tiến về bờ sông, thằng Doanh nhanh nhảu tìm được đường xuống trước còn tôi và Phú lùm tùm chưa xuống được. Bất ngờ có tiếng nổ dưới sông nơi thằng Doanh vừa xuống, tôi và Phú ngã té ngửa trở lại trống ngực đập thình thịch. Sau khi bật dậy, tôi lao ra chỗ pháo vừa nổ gọi tìm Doanh nhưng không thấy, chúng tôi nghĩ Doanh đã hy sinh và trôi đi rồi mà không làm cách nào khác. Tiếp tục vượt sông, tôi và Phú bơi gần nhau chỉ được một đoạn rồi bị trôi xa mỗi đứa một nơi. Chiếc phao bơi của tôi to, nước chảy siết kéo trôi đi rất nhanh không theo ý mình được. Một lúc sau thì chiếc phao tuột khỏi tay và trôi đi mất. Bơi tay không, rất lâu sau tôi mới vào được bờ, cảm thấy may mắn bởi thời gian bơi không có pháo địch. Vừa chạy vừa tránh pháo sáng khỏi rơi vào đầu, tôi thầm thở phào may mà mình là dân quê, biết bơi lội từ bé nên vượt được cửa ải chết người này. Chạy thục mạng vào được làng Nham Biều, chui đại vào một căn hầm chữ A xiêu vẹo, tôi nằm nghỉ cho đỡ mệt, nhưng rồi ngủ lúc nào không biết, khi tỉnh dậy nước đã ngập nửa người do trời mưa nước chảy xuống. Ngoài trời đã sáng, lại phải ngồi nguyên đợi đến tối tôi mới tìm đường về đơn vị.

Sau này, dù đã tham gia nhiều trận đánh lớn, qua nhiều lần chỉ cách cái chết trong gang tấc nhưng những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vẫn không thể nào phai nhạt trong tôi.

Vũ Văn Toàn

Nguồn "tuyengiaohungyen.vn" Trang Thông tin điện tử - BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN


Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

VÒNG TRÒN MỘ LIỆT SỸ

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ


FB Viet Sy Hoang - 26 Tháng 7/2017.


VÒNG TRÒN MỘ LIỆT SỸ

Mời Bạn hãy đến Nghĩa trang LS TP Hồ chí Minh...

- Tập hợp tiểu đội hàng ngang!
Tất cả điểm danh buổi sáng,
Nhưng ở nghĩa trang này những ngôi mộ màu trắng,
Quây quần thành vòng tròn số không.

Tiểu đội ở đây những người con, người bố, người chồng.
Hình hài không còn nguyên vẹn,
Những người lính đã ra đi một thời lửa đạn,
Họ nằm lại đây thanh thản như không.

Họ ra đi tài sản là con số không,
Bao ước mơ và tình yêu để lại,
Chỉ có tuổi trẻ họ đem theo mãi,
Sống thì già nua, riêng Liệt sỹ chết mãi không già.

Buổi sáng nghĩa trang rộn tiếng chim ca,
Các anh nằm đó không ai tỉnh dậy,
Nhưng người Quản trang thì vẫn thấy,
Tiểu đội hàng ngang tập thể dục mỗi ngày.

Họ chết rồi,
tiểu đội không thể xếp hàng thẳng ngay,
Nhưng là lính họ vẫn thành đội ngũ,
Dẫu vòng tròn số không nhưng là đội hình đông đủ,
Chia đều tình yêu thương khi mỗi ngôi mộ có bóng người.

Xương nát thịt tan các anh vẫn mỉm cười,
Nắm chặt tay thành vòng tròn mộ Liệt sỹ,
Vòng tròn số không chẳng có sự phân chia, những lời hoa mỹ,
Chết nằm đây nhưng những người sống phải cúi đầu.

SG - 7/2016 - 2017
-------------
P/S:
Nghĩa trang TP Hồ chí Minh, bố trí các Liệt sỹ quây quần bên nhau thành vòng tròn theo từng tiểu đội.

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

Chúng tôi đến thắp hương cho Anh Trỗi

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ

Chúng tôi đến thắp hương
cho Anh Trỗi




Có gia đình ông anh họ bên vợ vào chơi, chúng tôi đã thay mặt họ hàng tiếp đãi và đưa anh chị đi thăm thú SG.
Nằm nhà, Sơn đọc được cuốn "Cuộc đời tôi" - tự truyện của chị Phan Thị Quyên, vợ AHLS Nguyễn Văn Trỗi, đã bày tỏ: "Có thể cho chúng em đi thăm chị Quyên và thắp hương cho Anh Trỗi được không? Đây cũng là dịp Ngày TBLS 27/7". "Cũng thân tình với bà chị nhưng phải để hỏi đã vì chị đang bệnh". Gọi cho bà chị, chị đồng ý.
Chiều nay, tôi đã đưa Sơn, Nguyệt và cháu Minh Anh tới thăm. Sau khi thắp hương cho các cụ, cho Anh Trỗi và em trai anh Tư Dũng, chúng tôi có cuộc chuyện trò thân tình với chị.


Nguyệt vợ Sơn tâm sự: "Đúng ra cháu phải gọi là cô Quyên vì năm chú hy sinh thì cháu mới sinh... Cho tới giờ những bài học về AHLS Nguyễn Văn Trỗi cháu vẫn còn nhớ. Từ khi là học sinh tới giờ chúng cháu vẫn chỉ gọi Anh Trỗi nên xin cho phép cháu gọi cô là chị cho trẻ".
Tưởng chỉ thăm chừng nửa tiếng mà vui chuyện tới 4g mới chia tay. Chị kể nhiều về mối tình của Anh chị, về gia đình, về chú Sáu Dân và cả về lần chuyển hài cốt Anh từ nghĩa trang Văn Giáp Q2 về NTLS TPHCM tháng 5 vừa rồi...
Sơn Nguyệt cùng suy nghĩ, đúng là có duyên nên mới gặp được chị Quyên và thắp hương cho Anh Trỗi đúng ngày hôm nay.
Bảo Minh Anh, hôm này cháu đã được gặp thần tượng của thế hệ bố mẹ bằng xương bằng thịt. Bác ấy thân tình, giản dị. Hỏi cháu có được học nhiều về AHLS Nguyễn Văn Trỗi thì cháu lắc đầu. Ôi, buồn cho nền giáo dục của chúng ta làm sao!


FB Tran Kienquoc, 17/7/2018 19:11




Chuyện vừa ghi lại


Đêm hôm trước, hẹn chị sáng hôm sau qua thăm. Chị bảo sáng đi thử máu; hẹn lại chiều thì chị đồng ý. Sau đó bà chị còn gọi lại qua Facetime, thấy chị hồng hào, mập ra.
Chiều qua đến thăm thấy bà chị khỏe hơn ngày đón Anh Trỗi từ Nghĩa trang Văn Giáp Q2 về NTLSTP. Chị bảo, có lẽ là do Anh Trỗi phù hộ!


Gặp các chú từ ngoài Bắc vào
Trong nhiều câu chuyện, có những chuyện ngày chị mới từ SG lên R, đầu năm 1965.
Chị nhớ lại, mới lên R đã được gặp chú Chín Vinh (Trần Độ), chú Sáu Ry (Nguyễn Chí Thanh) tại Đại hội Phụ nữ miền. Chú Chín Vinh cao to, khỏe mạnh hơn chú Sáu Ry. Các chú rất thương chị.
Chị đã tặng chú Chín bức ảnh cưới của anh chị.
(Tới 2015, nhân dịp kỉ niệm 50 năm Trường Nguyễn Văn Trỗi, anh Trần Thắng (con chú Trần Độ) đã tặng lại tôi bức ảnh này để góp vào kho tư liệu của trường. Sau đó, tôi đã tặng lại chị. Chị không ngờ bức ảnh này còn được chú giữ gìn cẩn thận và giao lại cho con cháu).
Tới tháng 7/1967 nghe tin chú Sáu mất ngoài HN, chị buồn lắm.

Với chú Sáu Dân
Chú Sáu ngày đó thường xuyên cắm chốt ở Y4 (còn gọi là "Y tư" - địa bàn của bộ chỉ huy Mặt trận SG - Gia Định, sát với Củ Chi). Thỉnh thoảng chú mới về R họp. Thương chị, mỗi lần về chú đều cho chị mấy trăm "ria" (tiền Campuchia) để tiêu vặt vì biết chị sống xa nhà không có liên lạc (vì phải giữ bí mật).
Sau này, khi học xong lớp y tá, chị xin chú cho về "Y tư" làm việc: "Chú cho cháu về đó để được phục vụ trực tiếp bộ đội và bà con". Chú cười: "Ở đâu cũng là phục vụ cách mạng mà. Mà thôi, khi nào có xe hơi thì chú sẽ đón về".
Chị nhớ lại sau Mậu Thân 68, tới thăm các đơn vị bộ đội, thấy toàn lính Bắc trẻ măng, có em mới 17, 18. Chị thương lắm và nghĩ, đúng là miền Bắc đã hy sinh sức người sức của để giải phóng miền Nam.
Vì thân tình với chú mà được chú chia sẻ. Lúc đó chị mới biết, thím Kim Anh và 2 em Hồng Ánh, Chí Tâm đã hy sinh trên con tầu sông Thuận Phong ở Củ Chi trong chuyến lên thăm chú cuối năm 1966.
Chú cũng kể có gửi 2 em Võ Dũng và Hiếu Dân ra miền Bắc. Chú còn đùa vui: "Thực ra chú ở trong này có ai biết nhưng vì thằng Dũng ra Bắc học, quá nghịch ngợm quậy phá mà chú nổi tiếng ngoài đó, ai cũng biết..."(!).
... Ở ngoài Bắc, sau thời gian dài không có thư từ của má, Dũng linh cảm có chuyện không hay nên bỏ học và xin về Nam chiến đấu. Nó xẻ dọc Trường Sơn về với chú. Hai ba con ôm nhau khóc khi chú kể hết sự thật về cái chết của má và 2 em. Cũng chỉ sống ở chiến khu ít ngày là nó xin về mặt trận SG - Gia Định. Ở đó làm lính thông tin cũng chỉ ít ngày là xin về Khu 9, quê má nó, chiến đấu.
Tại đó, nó giấu chú xin về đơn vị trinh sát và đã hy sinh ngày 21/4/1972 trong 1 chuyến đi trinh sát cùng 2 đồng đội...".
Chị cảm động nhắc lại: "Chú mất mát quá nhiều trong cuộc chiến này nhưng vẫn gồng lên chịu đựng và làm việc hết mình. Rồi chính chú lại là người ủng hộ và tác thành cho chị cưới anh Tư Dũng".

Đám cưới "không giấy hôn thú"
Được ra Bắc tháng 5/1969, chị cùng chị Nguyễn Thị Châu (vợ tử tù Côn Đảo Lê Hồng Tư) được gặp Bác đúng ngày sinh nhật năm ấy và 2 lần nữa. Sau đó, chị được sang thăm Liên-xô và Cuba. Khi về lại Matxcơva ngày 3/9/1969, chị nghe tin Bác mất.
“Chị cứ tiếc mãi không có tấm ảnh nào chụp chung với Bác, em ạ. Nay đã hết cơ hội. Ngày đó chú Kỳ nói: còn có lần sau gặp Bác, còn lần này chưa chụp vì phải giữ bí mật”, chị nhớ lại.
Nhớ lời Bác dặn phải học mới có thể về quê hương phục vụ, chị vào học Trường phổ thông Lao động TW (mật danh HT2) sơ tán ở Từ Hồ, Bần Yên Nhân, Hưng Yên. Tại đây chị đã gặp anh Tư Dũng
Cũng năm 1973, trong buổi liên hoan tiễn chị Châu và chị Duy Liên về lại miền Nam tại nhà chú Lê Toàn Thư, chị Châu ghé tai: "Chú Sáu Dân và chú Mười Cúc đang ra ngoài này họp. Chị có kể chuyện của em và anh Thiện cho chú Sáu nghe”.
Xa miền Nam đã 4 năm, nhớ nhà, nhớ quê, chị xin phép chú Thư cho lại thăm 2 chú. Lần đó, chú Thư và chú Tô Lâm (Phó ban Tuyên huấn TW Cục) đưa chị và anh Thiện tới thăm chú Sáu. Gặp chú, anh Thiện chào:
- Chào anh Sáu!
- Trời, mày đó hả Dũng? – chú bắt chặt tay anh và quay sang chị Quyên – Nghe Châu nói, học ở ngoài này, cháu có thân với thằng Thiện, mà Thiện có thời gian làm cơ yếu ở Y4. Chú nghĩ hoài mà không nhớ có ai tên Thiện? Té ra, Thiện chính là Tư Dũng, Lê Tâm Dũng.
… Đầu 1965, anh Tư Dũng được phân công về Y4. Mậu thân 1968 lại được theo chú Sáu xuống chỉ đạo mặt trận SG – Gia Định. Sau khi về lại R, anh đuợc phân công sang Sứ quán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Phnôm-pênh. Do yêu cầu bảo mật, anh phải đổi tên Lê Trung Thiện. Năm 1970, sau khi Chính phủ Shihanuok bị đảo chính, anh ra Bắc; sau đó đưọc phụ trách đoàn dũng sỹ diệt Mỹ sang thăm Tiệp Khắc. Đến đầu 1971, anh vào học tại HT2.
Nghe kể lại chuyện cũ, chú Sáu cười: “Thôi, Tư Dũng thì cứ xưng hô “anh em“ cho tiện, còn Quyên cứ giữ nguyên cách gọi “chú cháu”. Thế hai đứa làm đám cưới đi!”. Mừng quá, chị mách với chú:
- Ở ngoài này cưới phức tạp lắm chú ơi, phải đi đăng ký kết hôn. Khi đăng ký, Uỷ ban lại đưa tên 2 nguời lên bảng để nhân dân xem có đúng là anh chưa vợ, chị chưa chồng hay không; nếu đúng thì một tuần lễ sau mới cho đăng ký… Mà thôi, để cháu học xong rồi về Nam cưới luôn thể.
- Không nên vậy, nếu học đại học phải 4-5 năm sau mới xong. Năm nay Quyên đã 29, còn Tư Dũng đã 37 rồi. Cưới đi, nhất là dịp đang có chú ở ngoài này. Thế hiện nay 2 đứa quân số ở đâu?
- Dạ, trong Nam quản lý ạ. Vì quân số trong Nam, nên khi bầu cử, tụi cháu không được đi bỏ phiếu.
Khi đó, chú Sáu cuời và quay sang chú Thư:
- Nếu là quân số trong Nam thì có thể cưới không cần đăng ký. Trong chiến trường, thủ tục rất đơn giản. Khi 2 anh chị yêu thương nhau và quyết định xây dựng gia đình thì chỉ cần báo cáo tổ chức là xong, sau đó sẽ làm đám cưới. Ta có thể tổ chức cho Quyên và Tư Dũng cưới “kiểu miền Nam”.
- Ý anh như vậy thì ta sẽ tổ chức cho 2 đưá cưới “không đăng ký” - chú Thư trả lời.
Ngày 29/4/1973, vào đợt nghỉ lễ Lao động quốc tế, đám cưới “không có đăng ký kết hôn” đã được tổ chức tại nhà chú Lê Toàn Thư ở 57 Phan Đình Phùng. Chú Thư làm chủ hôn. Tối đó, các cô chú ở Ban thống nhất, cả chú Sáu Dân cùng các anh chị bên Trung ương Đoàn, anh chị trong Nam đang học chung cùng bà con họ hàng thôn Văn Giáp… đến dự đông đủ.
Đám cưới tổ chức theo kiểu “đời sống mới”, đơn giản, chỉ có kẹo bánh, thuốc lá, nước trà, nhưng thật vui.Đám cưới anh Tư Dũng - chị Quyên 29/4/1973 tại HN, có sự chứng giám của chú Sáu Dân.


Chuyện giờ mới nhắc lại
Phải hàng chục năm sau mới được nghe câu chuyện cảm động từ Hà Chí Thành, con trai cụ Hà Huy Giáp.
"... Thấy chị được mời đi khắp các đơn vị để nói chuyện về anh Trỗi và giới thiệu tác phẩm "Sống Như Anh", Bác Hồ tâm sự với đồng chí Hà Huy Giáp:
“Quyên nó còn trẻ, còn phải xây dựng gia đình. Các đồng chí có đưa đi nói chuyện cũng phải kheo khéo, kẻo khó cho cháu sau này”.
Hôm qua đã nhắc lại chuyện này với chị. Thế mới biết Bác thật giản dị, quan tâm, lo lắng đến từng chi tiết của 1 con người.

FB Tran Kienquoc, 18/7/2018 07:14


Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

ĐÓN CON VỀ - Đỗ Quang Việt K2

Tháng 7 với ngày 27 - Tri ân Thương binh Liệt sỹ


ĐÓN CON VỀ


Ơn Giời con đã về đây,
Sau bao năm tháng, bao ngày nhớ mong.
Đi đường xa, có mệt không?
Phải qua bao núi, bao sông, con nờ?
Bao đêm thao thức ngóng chờ,
Không chợp được mắt, lần rờ thắp hương.
Ngày con xếp sách lên đường,
Ngủ không được, mẹ thắp hương ông bà,
Khấn rằng cháu nó đi xa,
Cùng bao bạn nó đi ra chiến trường.
Xin ông bà rủ lòng thương,
Phù hộ cho cháu bước đường hành quân.
Vượt qua khó nhọc gian truân,
Đá mềm, chân cứng, bình an trở về.
Con đi, giữ trọn lời thề,
Tuổi xuân quyết hiến dâng vì nước non.
Ở nhà dạ héo, tâm mòn,
Ngày đêm năm tháng mong con chóng về.
Thế rồi một buổi chiều quê,
Có anh bộ đội tìm về nhà ta.
Tưởng vui, hoá lại xót xa,
Đất trời muốn xụp, mái nhà chao nghiêng….

Tìm con, đi khắp bao miền,
May, con khôn sống, thác thiêng, dẫn đường.
Thôi, giờ từ giã chiến trường,
Về quê hương mẹ thân thương thuở nào.
Con nằm trong lá cờ sao,
Mẹ ôm con giống ngày nào còn thơ.

Mẹ già, mái tóc bạc phơ,
Thâu đêm thức với bàn thờ cúng con.


Đỗ Quang Việt
(Ảnh trên mạng)


FB Viet Do Quang >> BẠN NVT, 15/7/2018 13:59


Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Ảnh LS Vũ Kiên Cường

Ảnh LS Vũ Kiên Cường của bạn Nguyễn Trọng Quang Vinh - K5 chia sẻ trên FB Nguyen Vinh 10 Tháng 10, 2015.

Đây là tấm ảnh mà Nguyễn Quang Vinh, trước khi đi Hungary vào năm 1971, được Vũ Kiên Cường tặng làm kỷ niệm và Nguyễn Quang Vinh đã tặng lại gia đình Cường tấm ảnh này.

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2018

Những kỷ niệm về CHU TẤN QUANG - Sử Bình



...
Ngày Trường chuyển về Bắc Thái. Thời điểm chiến tranh ngày càng ác liệt, đề phòng máy bay Mỹ đánh phá, nên các Trung đội đóng rải rác cách xa nhau trên một quả đồi lớn, nhà của Ban chỉ huy Đại đội ở khu vực giữa, nhà ăn và bếp thì nằm phía Đông Bắc của đồi...

Nói chung, bạn bè trong Đại đội đều quen biết nhau, qua sinh hoạt tập thể, nhưng ít thân hơn các bạn trong cùng Trung đội.

Có một hôm ăn cơm chiều xong tôi tha thẩn ra xem cái cối gạo nương sử dụng sức nước đang giã cụp cụp phía dưới nhà ăn, rồi men theo bờ ruộng ra tới con suối lớn. Hồi còn ở nhà tôi rất mê câu cá và biết câu cũng rất sớm, nên thấy có suối, có nước là xem thử có cá không. Đến nơi thấy nước suối rất nông và chảy qua đá khá xiết, chả thấy có con cá nào. Đang phân vân thì giật mình khi nghe tiếng hỏi:
- Đằng ấy đang tìm gì thế?
Tôi nhìn sang thì thấy Quang "bò liếm" đang đứng trong bụi cây cũng đang nhìn dòng suối.
- Tớ xem suối có cá không để Chủ nhật đi câu - tôi nói.
- Có nước là có cá thôi, nhưng ở đây làm gì có bán đồ câu...
Cứ thế, tôi và Quang "bò" nói chuyện làm quen và bàn cách làm lưỡi câu bằng kim khâu, dây câu bằng chỉ trắng chập đôi, chì thì cắt từ tuýp kem đánh răng, rồi đập dẹp... Tôi có dịp quan sát kỹ thằng bạn mới quen: mái tóc trước trán dựng ngược lên một mảng (chắc thế bạn bè mới đặt là "bò liếm"). Đôi mắt một mí với cái nhìn gườm gườm khó gần. Nhưng khi nói chuyện rồi mới thấy đây là một bạn chân thành, tử tế. Hóa ra hai đứa đều có chung sở thích câu cá, bắn chim.

Đúng hẹn, sáng Chủ nhật được nghỉ, tôi và Quang chuẩn bị xong hết "đồ nghề" xuống suối. Nhìn đồ câu của tôi Quang nói :
- Chưa được rồi, cậu để dây trắng thế này mà câu cá nó sợ không ăn đâu.
Không đợi tôi phản ứng, Quang bứt mấy cái lá rừng chà xát lên dây câu cho tôi. Trong nháy mắt dây chỉ trắng đã thành màu xanh lá và sẵn sàng.

Ở đoạn suối này chỉ có độc loại cá giống cá Trạch dưới xuôi, nhưng màu xanh nước biển lốm đốm chấm trắng rất đẹp. Cá ăn câu liên tục, hai đứa tôi ngồi trong bóng cây câu được mấy xâu, nhiều lắm.

Vừa câu vừa nói chuyện "trên trời dưới đất". Đến trưa thì hai đứa như đã thân nhau từ lâu lắm rồi.

Vậy là từ đó, tuy không cùng Trung đội nhưng tôi và Quang hay đi câu cùng nhau. Sang trường mới Quế Lâm hai đứa cũng cùng đi bắt cá đuôi cờ về nuôi chọi với cá của các bạn khác. Cá của Quang nuôi thường là những con không đẹp, thậm chí là xấu xí nữa, nhưng hầu như chả có cá của đứa nào dám đấu, vì cá Quang nuôi toàn loại có độc chiêu: con thì chuyên cắn lòi mắt đối thủ, con thì tấn công rách đuôi, cụt đuôi đối thủ ngay khi mới vào dạo đầu "ép nước"...

Khi Trường chuyển về Hưng Hóa, hai đứa chúng tôi cùng làm súng cao su, chiều nào cũng trèo tường, trốn ra ngoài đi bắn chim Chào mào, Liếu điếu.

Sang năm sau, hai đứa tôi đều "đạt" danh hiệu "cá biệt" và "được" chuyển đến Đồng Lạc - Thạch Thất cùng với Quốc Bình, Hồng lồi, Thái bò, Triều Tiên, Toàn trố, Quang chày...

Tôi nhớ, đến Đồng Lạc hôm trước hôm sau Quang đã phát hiện có cái ao "phụ lão" cách nhà chỉ vài trăm mét. Tối đến hai đứa rủ nhau ra câu trộm (thực ra chỉ vì mê câu, chứ câu lên lại thả xuống hoặc vứt đi chứ có ăn bao giờ đâu).Trời tối đen như mực, ao nằm giữa đồng không mông quạnh, không có nhà xung quanh, chả sợ bị ai phát hiện, hai đứa ngồi ngay trên đường lộ câu xuống. Sau lưng là một đường mương thủy lợi, bên kia bờ mương là rặng chuối mỗi lần gió thổi qua là lại nghe đập lạch bạch, thật bất an. Ngồi câu mà tôi cứ thấy phảng phất mùi nhang đen (loại nhang mà người ta chỉ dùng cho đám ma ở Miền Bắc). Cá không ăn mồi, không được con nào. Ngồi chán tôi đứng dậy đi khám phá xung quanh thì phát hiện : sát bên rặng chuối sau lưng là một ngôi mộ người ta mới chôn lúc chiều, vòng hoa còn mới, mùi nhang đen còn vương trên đất. Quay lại báo cho Quang, cậu ấy vẫn tỉnh khô ngồi câu. Còn tôi thì da gà nổi lên, chỉ muốn chạy. Đúng là Quang "bò" lỳ lợm thật...

Năm sau nữa tôi và Quang lại cùng nhau có mặt ở Đồi Dền - Thạch Thất với phần lớn những gương mặt "thân quen" từ Đồng Lạc (bớt đi Thái bò, Triều Tiên... Thêm vào Phú sĩ...). Chiều nào hai đứa cũng mang súng cao su đi rảo quanh đồi, săn lũ chào mào đang đi tìm chỗ ngủ.

Rồi Trường giải tán, tôi và Quang không gặp lại nhau nữa. Khoảng năm 1971 tôi đi xem Triển lãm Giảng Võ, xem xong đang đi ra thì gặp Quang đi vào. Cậu ấy mặc bộ quân phục mới toanh, không có quân hàm. Mừng quá nhưng hai thằng chỉ hỏi thăm nhau được mấy câu. Quang nói đang học năm nhất ĐH Sư phạm, xung phong đi bộ đội đơt này... Cậu ấy đang đi với bạn gái nên tôi không tiện giữ lâu. Chúng tôi chào nhau rồi đi mà không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp và nói chuyện với Quang.

Bẵng đi một thời gian dài. Khoảng năm 1981. Tôi đang là Trợ lý Hậu cần phụ trách Doanh trại của Viện Quân y 115 Tp. Hồ Chí Minh. Đơn vị có một số giường chiến lợi phẩm cần tân trang phục vụ thương bệnh binh. Tôi ký Hợp đồng với một sĩ quan Quân đội hưu trí nhận giải quyết việc này - đó là chú Chu Tấn Kiệt. Sau khi Hợp đồng hoàn tất, chú Kiệt mời tôi ra nhà chơi. Nhà chú ở đường Nguyễn Trãi, ngay cửa chợ An Đông. Buổi chiều hết giờ làm, tôi ra thăm chú.Hôm nay chú ở nhà một mình, cô đi vắng, hai em cũng không có nhà. Ngồi ở phòng khách chờ chú vào pha nước, tôi có dịp quan sát : nhà mặt tiền đường, chú mở xay xát gạo để có thêm thu nhập. Quay nhìn bức vách sau chỗ đang ngồi tôi giật mình thấy Bằng TỔ QUỐC GHI CÔNG đề tên Chu Tấn Quang và có cả ảnh của Quang lồng bên trong. Tôi như chết lặng. Tiếng chú Kiệt hỏi vọng từ bên trong mà tôi không nghe thấy. Chú Kiệt mang nước ra, tôi còn đang đứng quay lưng nhìn tấm ảnh bạn mình. Tôi nói:
- Chú là ba của Chu Quang bạn rất thân của cháu hồi Trường Trỗi mà cháu không biết.
- Hôm nay ở đây mất điện nên chú không mở được băng cho cháu nghe Lễ truy điệu của đơn vị Quang hồi nó hy sinh...

Rồi chú kể: Quang hy sinh khi giữ chốt chống lính dù ngụy lấn chiếm ở khu vực Lộc Ninh. Sau khi hết đạn đã giương lê, (dùng những tuyệt chiêu mà thầy Trần Sinh dạy) tiêu diệt thêm 5 thằng nữa. Khi lê gãy, bị thằng khác bắn lén, Quang đã ngã xuống như thế.

- Ở Viện 115 còn có Nguyễn Hoàng Anh là bạn cùng khóa Trường Trỗi với cháu và Quang - tôi nói với chú.

Vài hôm sau, Chủ nhật tôi và Hoàng Anh ra nhà thăm gia đình chú. Cô Chú có việc phải đi, còn lại tiếp chúng tôi là cậu em út Chu Tấn Quốc. Anh em chúng tôi nói chuyện về Quang rất lâu. Dự định của gia đình là sẽ cải táng cho Quang về Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố. Thời gian sau đó thỉnh thoảng tôi vẫn ra thăm gia đình Quang.

Năm 1984 tôi chuyển ngành và làm việc trên Quận 12, ít có dịp thăm nhà Quang, nên khi chú Kiệt mất, gia đình chuyển đi mà không hay biết.

Năm 2001, cuốn "Sinh ra trong khói lửa" (Tập 1) được in. Với mong muốn gia đình Quang cũng sẽ có địa chỉ để giữ mối quan hệ với bạn Trỗi K6, tôi đã mua thêm một cuốn và sau đó ít lâu cùng Nguyễn Nam Điện đến trao cho gia đình Quang. Tôi và Nam Điện đã hỏi thăm rất nhiều người quanh khu vực chợ An Đông. Mãi sau cũng có người biết cho địa chỉ Số 9 ở một con đường mới mở bên Gò Vấp. Tôi và Nam Điện đã tìm ba bốn tiếng đồng hồ trên con đường này, vào ba ngôi nhà khác nhau mang số 9 nhưng không ai biết. Đến trưa, hai anh em vô cùng thất vọng vì hết cách. Chúng tôi vào quán cà phê bên lề đường cùng bàn bạc và thống nhất: sẽ tìm lại một lần nữa thật kỹ, nếu không được thì phải làm lại từ đầu bằng cách khác. Cuối cùng chúng tôi cũng đã tìm được ngôi nhà thứ tư mang số 9 là nhà của gia đình Quang. Gặp mẹ và em gái, em trai của Quang, trao cho gia đình cuốn sách kỷ niệm... Ray rứt lớn nhất của gia đình là chưa cải táng được bạn về, do thời gian đã lâu, cảnh quan thay đổi nên lạc mất phần mộ của bạn rồi...

Quang ơi, trái tim cậu đã dừng lại ở tuổi 20, nhưng chúng tớ những đứa bạn Trỗi K6 sẽ không bao giờ quên cậu: Mái tóc "bò liếm", đôi mắt một mí gườm gườm... nhưng có một tấm lòng luôn chân thành cởi mở với bạn bè, cực kỳ dũng cảm và kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và cấp trên giao. Cậu và những người bạn K6 khác đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc - những Tiến Quân, Mạnh Minh, Bá Linh v.v... sẽ mãi mãi là những anh hùng của đại gia đình K6. Chúng tớ sẽ gìn giữ hình ảnh trẻ thơ của các cậu trong tim. Không bao giờ quên! Hãy tin là như thế!

FB Sử Bình - 01 Tháng 6/2018 lúc 00:16

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

MẸ VẪN HÁT RU

Ngày của Mẹ 13/5/2018

MẸ VẪN HÁT RU

Đỗ Quang Việt K2

Kính cẩn nghiêng mình
trước vong linh các Anh hùng Liệt sỹ


Từ ngàn năm nay, Mẹ vẫn hát ru,
Tiếng hát lặn trong gió rừng, sóng biển.
Đất Nước này qua bao nhiêu trận chiến,
Mấy ngàn năm, bao thế hệ hy sinh.

Tổ quốc – Mẹ hiền, hoàng hôn tới bình minh,
Sóng biển, gió rừng vẫn mang lời của Mẹ
Ru những đứa con, bao đời vẫn thế,
Giấc ngủ ngàn thu trong lòng Mẹ thân thương.

Dải đất này đâu cũng ngát thơm hương,
Trong làn khói - bóng Anh hùng, Liệt sỹ,
Từ Biển Đông tới Trường Sơn hùng vỹ,
Từ Lũng Cú địa đầu đến rừng đước Cà Mau.

Những Liệt sỹ - Anh hùng, dù đang ở nơi đâu,
Trong lòng biển, hay núi cao, khe suối,
Người hy sinh, bao năm, không thêm tuổi,
Mãi trường tồn cùng Đất Nước, lời ru.

Xin cứ êm đềm giấc ngủ ngàn thu,
Xin hãy ngủ ngon trong lời ru của Mẹ.
Mẹ - Tổ Quốc – ngàn đời nay vẫn thế,
Sóng biển, gió rừng man mác lời ru…



Đỗ Quang Việt

FB Viet Do Quang >> BẠN NVT 12/5/2018