Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

Viếng chính uỷ Bùi Khắc Quỳnh




K2-5K3K5


Thanh Hung Bui 30 Tháng 3
Về quê, cùng các anh chị trong gia đình chuyển nhà ở mới cho bác mình, ông Bùi Khắc Quỳnh, một thời gian trong quá trình công tác ông là Chính ủy trường Nguyễn văn Trỗi. Nơi ở cũ của ông đang được thi công một con đường cao tốc nối nước bạn Lào với cảng Cửa Lò. Vậy là, để nước bạn phát triển trong tình cảm đặc biệt của nhân dân hai nước, Ông đã nhường nơi ở cũ để chuyển sang nơi ở mới trong sự chăm lo đầy trách nhiệm của cán bộ địa phương, nhân dân và con cháu.
Vì ông một thời đã là Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện Đầu tiên của Nghi Lộc sau đó ông được huy động sang quân đội. Thế là, cùng cha tôi, nhà có hai anh em đều tham gia quân đội, tham gia hai cuộc kháng chiến, với nhiều phần thưởng cao quý được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Cuối đời ông dặn con cháu, khi ông về với tổ tiên, với nhân dân trên bia mộ không nên ghi chức vụ, danh phận như thế xa dân lắm. Thực hiện lời ông dặn con cháu chỉ ghi tên ông và ngày mất. Nhớ lại hồi ông đảm nhiệm Chính Uỷ Trường Trỗi, Ông được các trò yêu, các thầy kính trọng. Con cháu mãi nhớ Ông.

Chàng trai Thủ đô hy sinh trong trận không chiến cuối cùng trên bầu trời Hà Nội

Kỉ niệm 22/12 - Tưởng nhớ các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc

AHLS Phi công Hoàng Tam Hùng - anh trai chị Hoàng Lương Hòa K2

Hoàng Lương Hòa - K2-C11

mb - nr - cq --44 Lý Thường Kiệt---HN-VN
- - -
3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

1966

28/04/2016

anh Hoàng Tam Ngọc K5

Hoàng Tam Ngọc - K5


mb 01662941079 - nr - cq -- ---HN-VN
- - -
- ACE: 3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

03/2014

và bạn Hoàng Tam Châu K6

Hoàng Tam Châu - K6

B3
1954

Mb: 0913.235037 - Nr: 080.48395, 258261/3395 - Cq: 043.8387073- FB: - Email: - Blog: http://anh-bantroik6.blogspot.com/2012/10/hoang-tam-chau.html - HN - VN
- - Cục KT Bộ TL Tăng Thiết Giáp Cổ Nhuế -
3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

9/6/2012

.

Báo Công an nhân dân điện tử 08:45 25/12/2012
Sau khi bắn rơi chiếc RA-5C, Hoàng Tam Hùng nhận lệnh về hạ cánh. Nhưng lúc đó, các máy bay F-4 bay hộ tống phát hiện ra chiếc RA-5C bị bắn rơi đã quay lại vây quanh chiếc MiG-21 của Tam Hùng. Hùng một mình quần nhau với 12 chiếc F-4 và sau nhiều vòng quần thảo, anh đã bình tĩnh đưa một chiếc F-4 vào vòng ngắm. Biết có các máy bay F-4 bám phía sau nhưng anh vẫn bình tĩnh bám sát và ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, chiếc F-4E đã bị trúng tên lửa và rơi tại chỗ. Sau đó, Hùng tiếp tục quần thảo với đám F4 và đã anh dũng hy sinh...

Trung úy - phi công Hoàng Tam Hùng, năm 1972.



Nhà Trắng - Washington D.C, trưa 14/12/1972, sau cuộc đàm phán với cố vấn Lê Đức Thọ bất thành, khi về đến Washington, Tiến sĩ H.Kissinger lập tức đến Nhà Trắng báo cáo với Tổng thống Nixon. Ngay đầu giờ chiều, Tổng thống Nixon triệu tập cuộc họp Hội đồng An ninh và yêu cầu Đô đốc Thomas Moore, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân bắt đầu chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam- Chiến dịch Linebacker II với thời hạn 3 ngày, và có thể kéo dài nếu cần thiết.

Đô đốc Moore lập tức điện cho Đô đốc Noel Arthur Meredyth Gayler, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương và Đại tướng 4 sao John Charles Mayer, Tư lệnh Bộ chỉ huy Không quân chiến lược, yêu cầu nhanh chóng gửi bản danh mục gồm 8 mục tiêu chiến lược cần ném bom trong chiến dịch và phát mệnh lệnh để các máy bay Mỹ tiến hành ném bom các mục tiêu ở Hà Nội lúc 7 giờ tối - giờ Hà Nội ngày chủ nhật 17/12/1972.

Tuy nhiên đến phút cuối cùng, thời điểm bắt đầu chiến dịch đã được đẩy lùi đến ngày 18/12, do lúc đó Bộ chỉ huy Không quân chiến lược ở Guam mới phát hiện ra không có đủ cơ số máy bay tiếp dầu trên không cho gần 200 chiếc B-52 tham gia chiến dịch.

Điện Kính Thiên, Hà Nội, sáng sớm 15/12/1972: Từ rất sớm, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu (BTTM) Quân đội Việt Nam đã nắm được ý đồ chiến lược của Mỹ. Các tin tình báo báo về các dấu hiệu không bình thường, cho thấy phía Mỹ đang chuẩn bị một chiến dịch ném bom rải thảm quy mô lớn vào Hà Nội. BTTM đã triển khai quyết liệt các biện pháp chống lại cuộc tấn công hủy diệt của Mỹ, tất cả vào trạng thái sẵn sàng cao nhất.


Căn cứ Không quân Andersen Guam, sáng 18/12/1972: 11h, sau khi nhận được mật điện của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân gửi cho Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến lược, Đại tá James R McCarthy, Tư lệnh Không đoàn ném bom chiến lược số 43, thuộc Tập đoàn Không quân chiến lược số 8 bắt đầu buổi giao nhiệm vụ chiến đấu cho các cơ trưởng B-52 tại hội trường lớn. Khi chiếc màn che tấm bản đồ tác chiến được kéo lên, cả hội trường lặng đi vì trước mắt họ là tấm bản đồ Hà-Nội! Các cơ trưởng B-52 hiểu rằng, đó không đơn thuần là một địa danh, đó sẽ là một chảo lửa, nơi không dễ trở về.

Lúc 14h 41', giờ Guam - tức 11h41' giờ Hà Nội chiều 18/12/1972, tốp 28 chiếc B-52D đầu tiên đã lăn lên đường cất hạ cánh tại sân bay Andersen. Trong tiếng gầm rú của hàng trăm động cơ B-52, 28 chiếc B-52 đã lần lượt cất cánh và hướng về phía bờ biển Việt Nam, với cự ly hơn 3.000 dặm và 8 tiếng bay, trước khi đến Hà Nội. Đến 17 giờ 18 phút, 21 chiếc B-52D do Đại tá Bill Brown, Phó tư lệnh Không đoàn ném bom chiến lược số 307, dẫn đầu đã cất cánh từ căn cứ U-Tapao, Thái lan, sau đó sẽ nhập vào với đội hình B-52 đến từ Guam để trút bom xuống Hà Nội.


Chỉ huy sở Bạch Mai, Hà Nội, 16h chiều 18/12: Sau khi nhận được tin tình báo về tốp 30 chiếc B-52 đã cất cánh từ sân bay Andersen, Sở chỉ huy Quân chủng lập tức yêu cầu các đơn vị sẵn sàng trước 17h. Tư lệnh Lê Văn Tri và toàn bộ kíp trực ban đã sẵn sàng. Tại các sân bay, các phi công MiG-21 đã vào cấp 1. Lúc 19h15', khi tin tình báo báo về: "Tốp B-52 đã bay qua điểm 300, đang bay về Hà Nội", lập tức lệnh báo động được ban bố. Còi ủ trên nóc nhà ngân hàng, Nhà hát Lớn và Ga Hàng Cỏ đồng loạt vang lên, kèm theo tiếng loa hướng dẫn người dân xuống hầm trú ẩn.

Tại Trung đoàn 921, các phi công bay đêm dày dạn kinh nghiệm Đinh Tôn, Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng, Trần Cung, Vũ Xuân Thiều… đã sẵn sàng cất cánh, chặn đánh đội hình B-52 theo phương án chuẩn bị. Chính trong đêm 18, chiếc B-52 đầu tiên tham gia chiến dịch Linebacker II đã bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội và trong những ngày tiếp theo, các phi công MiG-21 của hai Trung đoàn 921 và 927 đã cất cánh, chặn đánh các đợt tấn công của Không quân Mỹ và bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Cùng với chiến công của Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều và các đồng đội, Trung úy - phi công trẻ Hoàng Tam Hùng, chàng học sinh Hà Nội gốc Huế dũng cảm và tài hoa đã ngã xuống một ngày trước khi cuộc chiến kết thúc, sau khi đã hạ 2 chiếc máy bay địch.


Người phi công cuối cùng hy sinh trong cuộc chiến trên không

Trung úy phi công Hoàng Tam Hùng sinh ra trong một dòng họ nổi tiếng của tỉnh Thừa thiên - Huế, đó là họ Hoàng, dòng họ mà suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ đã cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú. Cụ Hoàng Anh, năm nay đã bước sang tuổi 102, là thân sinh ra liệt sĩ - phi công Hoàng Tam Hùng.

Năm 1965, khi người con trai cả của ông, anh thanh niên 17 tuổi, học sinh lớp 10 của một trong những trường nổi tiếng nhất Hà Nội, xin cụ đi khám tuyển phi công, thì cụ đang là Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Với cương vị ấy, cụ hoàn toàn có thể sắp xếp cho người con trai cả, vốn là học sinh xuất sắc, một con đường học hành dễ dàng ở nước ngoài. Nhưng cụ đã đồng ý cho Hoàng Tam Hùng đi học lái máy bay phản lực, chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc, mặc dù biết rằng lái máy bay chiến đấu luôn là nghề rất nguy hiểm.


Đồng bào và chiến sĩ bên xác máy bay Mỹ bị bắn hạ tháng 12/1972.



Hoàng Tam Hùng đã từng là học sinh trường mẫu giáo đầu tiên của Quân đội từ chiến khu Việt Bắc về thủ đô. Kỷ niệm của các bạn học về anh là một chàng học sinh Hà Nội gốc Huế, đúng nghĩa. Anh cao lớn, nhanh nhẹn, giỏi cả bóng rổ, bơi lội và thể dục dụng cụ, từng là thành viên đội tuyển bơi lội thiếu niên Hà Nội. Đặc biệt nữa là giọng nói Hà Nội vẫn còn một chút âm sắc Huế ấm cúng của Hùng luôn làm say mê các bạn nữ sinh Hà Nội. Nhưng cho đến lúc hy sinh, chàng học sinh Hà Nội hào hoa ấy chỉ có duy nhất một cô bạn học và một người bạn gái tâm giao, sau này là diễn viên điện ảnh nổi tiếng.

Không khí ở các trường đại học và trung học phổ thông Hà Nội năm 1965 rất sôi động. Các trận ném bom đánh phá của Không quân Mỹ với tiếng gầm rú của động cơ phản lực và những tội ác mà bom đạn Mỹ gây ra đã thôi thúc cả thế hệ học sinh, sinh viên hăng hái xếp bút nghiên lên đường. Thời khắc mà Hoàng Tam Hùng và các bạn bè cùng lứa quyết định lựa chọn cho mình nghề lái máy bay chiến đấu, chứ không phải là chiến sĩ lái xe tăng hay chiến sĩ đặc công, chính là khi cả lớp đi xem bộ phim nổi tiếng của điện ảnh Xôviết về đề tài không quân: “Khoảng trời Ban Tích”, tại Rạp Đại Đồng, phố Hàng Cót.

Cũng những năm tháng đó, các bạn nam sinh Hà Nội còn chuyền tay nhau cuốn truyện về phi công Maresev nổi tiếng, người bị thương gãy chân vẫn luyện tập để quay lại lái máy bay và tiếp tục cất cánh chiến đấu, để lại phía sau cả một câu chuyện tình lãng mạn và cô bạn gái mắt xanh với hai bím tóc nâu huyền. Rồi các chiến công đầu của các phi công Trần Hanh, Phạm Ngọc Lan bắn rơi máy bay Mỹ trong những trận không chiến đầu tiên đã thắp lên ngọn lửa say mê với bầu trời của cả một thế hệ thanh niên lúc đó.

Một đêm đầu thu năm 1966, Hoàng Tam Hùng cùng các đồng đội từ trên chuyến tàu liên vận ở ga Hàng Cỏ đã lưu luyến vẫy tay chào Hà Nội và cô bạn học để lên đường đến sân bay sang đất nước Xôviết học lái máy bay. Cô bạn gái chưa một lần đựợc nắm tay anh chạy theo đoàn tàu, hai bím tóc đong đưa trên vai. Cô cứ chạy như vậy, cho đến khi toa tàu cuối cùng khuất hẳn phía cầu Long Biên. Năm 1969, sau 3 năm học tập tại Trường Không quân Liên Xô, Hoàng Tam Hùng về nước và tham gia chiến đấu trên máy bay MiG-17.

Tháng 9/1972, anh được lựa chọn lên học lái MiG-21 và điều về Trung đoàn Không quân 927. Tại đây, các anh hùng phi công nổi tiếng như Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Văn Nghĩa đã hướng dẫn các bài bay không chiến cho Hoàng Tam Hùng. Trung tướng - Anh hùng phi công Nguyễn Đức Soát nhớ về người đồng đội, người học viên chuyển loại của mình với sự đánh giá rất cao. Chỉ sau 5 vòng bay, Nguyễn Đức Soát đã có thể thả Hoàng Tam Hùng bay đơn. Chàng phi công trẻ tuổi thể hiện năng khiếu đặc biệt, tiếp thu rất nhanh các bài bay tập và chỉ sau hơn 1 tháng Hùng đã đủ điều kiện để tham gia trực ban chiến đấu cùng các phi công nổi tiếng của Trung đoàn. Khi Mỹ bắt đầu chiến dịch Linebacker II (18/12/1972) thì phi công trẻ tuổi Hoàng Tam Hùng đã có thể xuất kích trong đội hình chiến đấu của các máy bay MiG-21.


Sân bay Đa Phúc, Hà Nội, trưa 28/12/1972: Ngày thứ 11 của chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không". Sau 10 ngày ném bom khốc liệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, nhưng không lay chuyển được quyết tâm của Việt Nam, phía Mỹ đã nêu vấn đề nối lại các cuộc đàm phán ở Paris. Mặc dù hai phía sẽ gặp nhau vào đầu tháng 1/1973, nhưng Nixon vẫn ra lệnh tiếp tục ném bom Hà Nội, Hải Phòng vào ngày 28.

Gần trưa ngày 28/12, Không lực Mỹ đã sử dụng 60 lần/chiếc B-52 từ căn cứ Andersen và U-tapao chia thành 4 đợt, có sự hộ tống của 99 lần chiếc máy bay chiến thuật tổ chức đánh lớn vào Hà Nội và Hải Phòng. Tại Chỉ huy sở Binh chủng, Tướng Trần Hanh chủ trì kíp trực nhận định: Địch sẽ đánh lớn và quyết định giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 927 do Trung đoàn trưởng - Phi công anh hùng Nguyễn Hồng Nhị chỉ huy tổ chức chặn đánh đội hình máy bay của Hải quân Mỹ bay vào từ hướng đông. Biên đội Lê Văn Kiền, Hoàng Tam Hùng được phân công trực chiến, sẵn sàng cất cánh.

Lúc 11h20', đội bay Kiền - Hùng cất cánh. Khi Chỉ huy sở thông báo mục tiêu phía trước, bên phải, phi công Hoàng Tam Hùng đã nhanh chóng phát hiện biên đội hỗn hợp gồm chiếc máy bay trinh sát vũ trang RA-5C(Vigilanter) và 2 chiếc F-4J của Hải quân Mỹ bay hộ tống. Mặc dù xung quanh các máy bay F-4 vây quanh rất đông, nhưng bằng một động tác cơ động chính xác, Hoàng Tam Hùng đã kịp bám theo chiếc RA-5C . Viên Thiếu tá - phi công Hải quân kỳ cựu -Alfred Howard Agnew trên chiếc RA-5C đã phát hiện có MiG-21 bám theo, cơ động đan chéo để thoát ra, nhưng bằng động tác kỹ thuật điêu luyện, Hoàng Tam Hùng đã nhanh chóng bám sát chiếc máy bay RA-5C, đưa nó vào vòng ngắm. Lúc này chiếc RA-5C tiếp tục cơ động đan chéo để lẩn tránh, nhưng Tam Hùng đã bám sát và tìm ra quy luật cơ động của chiếc RA-5C, chờ khi nó vừa cải bằng để chuẩn bị vòng sang hướng ngược lại, anh lập tức ổn định vòng ngắm và ấn nút phóng tên lửa. Chiếc MiG-21 rung nhẹ, quả tên lửa chìm xuống rồi lao thẳng vào chiếc máy bay RA-5C, khiến nó bốc cháy như quả cầu lửa và rơi thẳng xuống chân núi Tản Viên.

Hai phi công điều khiển chiếc RA-5C bị trúng tên lửa của phi công Hoàng Tam Hùng là Thiếu tá phi công Hải quân Alfred Howard Agnew và Đại úy Michael Firestone Haifley - thuộc Phi đoàn trinh sát vũ trang RVAH-13, tàu sân bay chạy năng lượng nguyên tử USS Enterprise. Agnew nhảy dù bị bắt sống, còn Haifley không kịp nhảy dù, chết tại chỗ. Alfred Agnew, phi công cuối cùng của Hải quân Mỹ bị bắn rơi trong chiến tranh Việt Nam, sau Hiệp định Paris cũng là viên phi công cuối cùng được trao trả cho phía Mỹ tại Sân bay Gia Lâm.

Sau khi bắn rơi chiếc RA-5C, Hoàng Tam Hùng nhận lệnh về hạ cánh. Nhưng lúc đó, các máy bay F-4 bay hộ tống phát hiện ra chiếc RA-5C bị bắn rơi đã quay lại vây quanh chiếc MiG-21 của Tam Hùng. Hùng một mình quần nhau với 12 chiếc F-4 và sau nhiều vòng quần thảo, anh đã bình tĩnh đưa một chiếc F-4 vào vòng ngắm. Biết có các máy bay F-4 bám phía sau nhưng anh vẫn bình tĩnh bám sát và ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, chiếc F-4E đã bị trúng tên lửa và rơi tại chỗ. Sau đó, Hùng tiếp tục quần thảo với đám F4 và đã anh dũng hy sinh.

Vậy là ngay trong trận xuất kích đầu tiên trên máy bay tiêm kích MiG-21, chàng trai Hà Nội cùng với phi công Vũ Xuân Thiều, cũng là học sinh Hà Nội, là những người chiến sĩ cuối cùng hy sinh trong trận chiến bảo vệ bầu trời thủ đô.

Sau khi biết tin chỉ có chiếc MIG của Lê Văn Kiền về hạ cánh, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị đã ngồi lặng người trong Chỉ huy sở... Bằng kinh nghiệm trận mạc dày dạn, ông hiểu rằng, Không quân Mỹ dù rất mạnh cũng không thể chịu đựng lâu hơn được. Ông cũng linh cảm rằng, chỉ còn 1, 2 ngày nữa là cuộc chiến kết thúc, trong khi những phi công dũng cảm và tài hoa của ông vẫn sẵn sàng cất cánh vào trận. Và hôm nay, ông đã đau đớn thế nào khi mất một chiến binh dũng cảm, một người con của Hà Nội và Huế mà ông rất yêu thương. Nhưng ông cũng rất đỗi tự hào, vì người phi công do chính ông đào tạo và chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, ngay trong trận đầu xuất kích đã lập công, bắn rơi 2 chiếc máy bay Mỹ.

Nhiều năm về sau, người bạn gái mà phi công Hoàng Tam Hùng đem lòng yêu mến vẫn không tin là Tam Hùng - chàng trai mạnh mẽ và tài hoa ấy đã ra đi mãi mãi. Và mối tình đẹp như câu chuyện cổ tích của họ vẫn lưu truyền trong hồi ức của các thế hệ phi công. 40 năm đã trôi qua, bây giờ tên của Anh cùng hơn 200 phi công - liệt sĩ khác được khắc lên bia đá trên đồi Sóc Sơn lộng gió ngay bên cạnh sân bay Đa Phúc, nơi Anh cất cánh xung trận, và mãi mãi ra đi ở tuổi 24

Nguyễn Sỹ Hưng

Ảnh: Kho tư liệu Quốc Gia - ‎Nguyễn Công Thành‎ đến BẠN BÈ YÊU HÀ NỘI, 20 Tháng 12 lúc 14:18

Video: Anh Hùng LS Hoàng Tam Hùng



Xuan Hung Dao Xuất bản 17 thg 8, 2016
Phi công Hoàng Tam Hùng khi ấy là Trung úy thuộc Đại đội 3, Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371 - Quân chủng Phòng không - Không quân), anh là con trai của nhà lão thành cách mạng Hoàng Anh, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Năm 1972, sau 8 phút từ lúc cất cánh, với 2 quả tên lửa, phi công Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi 2 máy bay địch trong trận đánh cuối cùng của anh, góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội 40 năm trước.



Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

Thăm NTLS xã Thanh Chi huyện Thanh Chương




Thăm NTLS xã Thanh Chi
huyện Thanh Chương




Huynh Kim Thanh - 2 Tháng 12 lúc 15:46 ·
Chiều 2/12/2017 trên đường trở lại tp Vinh đoàn K5 TSQ NVTrỗi đã ghé thăm và thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Thanh Chi huyện Thanh Chương quê hương của vợ chồng anh Phan Trí Đỉnh thành viên của đoàn, nơi quy tập mộ liệt sĩ qua nhiều thời kỳ từ CM Xô viết Nghệ Tỉnh: tiền khởi nghĩa, chống Pháp và chống Mỹ... thắm tình đồng đội, đồng môn...


Kính Lễ, dâng hương Nghĩa Trang Liệt Sỹ Thanh Chi, Thanh Chương, Nghệ An. - Ngô Thế Vinh, 20 Tháng 12/2017.
Thanh Chương, Nghệ An là một trong những nơi sôi động nhất trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tại Nghĩa Trang xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương ngoài Mộ của các Liệt sỹ các thời kỳ, còn quy tập được nhiều ngôi Mộ các Liệt Sỹ đã hy sinh những năm 1930 - 1931 của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đoàn Cựu học sinh K5 trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi kính cẩn dâng Lễ, dâng hương tưởng nhớ, biết ơn đến các Anh Hùng, Liệt Sỹ đã hy sinh cho Quê hương, Đất nước...


Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

ĐƠN TÌNH NGUYỆN VÀO CHIẾN TRƯỜNG KHU IV CỦA ANH HÙNG LIỆT SĨ HUỲNH KIM TRUNG


ĐƠN TÌNH NGUYỆN VÀO CHIẾN TRƯỜNG KHU IV CỦA ANH HÙNG LIỆT SĨ HUỲNH KIM TRUNG
(Nguồn: Bảo tàng Công an nhân dân )

Huynh Kim Thanh 13 Tháng 12/2017 ·



Huynh Kim Thanh 20 Tháng 12 lúc 19:24 ·
Theo lời mời của giám đốc Bảo tàng Công an nhân dân trước khi rời thủ đô sáng 19/12/2017 gia đình AHLS Huỳnh Kim Trung đã tới thăm bảo tàng tại 1 Trần Bình Trọng HN và dự Lễ giao nhận nhật ký cuối cùng từ gia đình và bức huyết thư Đơn tình nguyện đi chiến trường từ Bảo tàng của Huỳnh Kim Trung. Buổi tiếp diễn ra trân trọng và cảm động...những phía gia đình vẫn cố gắng chuyển qua không khí gia đình bằng những mẩu chuyện về ông Cò Trương một trong những giám đốc CA của Nam bộ, về những ngày niên thiếu của anh em Trung Thành, về cái lỡ hẹn nhập trường C500 năm 1973 của Thành vì sự hy sinh của Trung, về các thành viên khác còn lại của gia đình, vv...vv...

Huynh Kim Thanh: Đây là sách quà tặng của lãnh đạo Bảo tàng CAND - Di vật của các AH, LS, CBLT... CAND qua nhiều thời kỳ, trong đó có Bức huyết tâm đơn cùa giảng viên Học viện cs tình nguyện tham gia Chiến dịch Bình Trị Thiên đỏ lửa 1972.



Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Viếng Bạn Nguyễn Văn Ngọc và Bác Điềm




Phạm Kháng Trường >> ‎Bạn Trỗi K5 09/12/2017

Viếng Bạn Nguyễn Văn Ngọc và Bác Điềm tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh - Ngày 03/12/2017.

Liệt sĩ, hy sinh ở tuổi 18

Bạn sinh 1950 và... ngày 10/10/1968 là cái ngày định mệnh. (Tấn Mỹ rất nhớ: Ngày đó là ngày giải phóng thủ đô, sao quên được). Từ sớm nhiều đợt máy bay Mỹ tấn công vào trận địa. Chúng dùng bom phạt - nổ khi chưa tới mặt đất. Cả khẩu đội 57 của Ngọc trúng đạn. Nghe tin, Mỹ chạy về tìm thì ngay chỗ thằng Ngọc ngồi chỉ tìm thấy nửa thân dưới. Máu me bê bết, gan ruột lòng thòng. Vừa khóc vừa ôm xác bạn, lấy tay tạt nước mưa dưới hố bom để rửa bùn đất. Anh em hy sinh được xếp nằm dài ở đầu làng...


Vùng quê trên ngọn đồi cao


Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

QUÂY QUẦN BÊN ĐỒNG ĐỘI



QUÂY QUẦN BÊN ĐỒNG ĐỘI

*
Hương trầm bay nghi ngút
Hương linh chắc thỏa lòng
bạn bè quây quần lại
Trên cao, bạn biết không ?


FB Tran Quang Trung 8/12/2017 lúc 8:15 ·


Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Thăm NTLS Đức Thọ viếng mộ Bác Điềm & A Ngọc



Ngày CN 03/12/2017:
8h Xuất phát đi Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh viếng mộ Bác Điềm & A Ngọc.




Can Nguyenphuc
Bạn NVT và K5 NVT đã đến nơi này bạn Ngọc ơi. Bạn và người thân của bạn, đoàn đã thắp hương, chuyển lễ để bạn an nghĩ thanh thản nơi này, sau cuộc chiến ác liệt. Những ngôi mộ nơi đây mọi người tỏa đi thắp hương trên mộ, làn khói bay lên, cũng làm ấm cúng nơi này trong tiết trời se lạnh

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

VC Bachai Viếng bạn LS Nguyễn Văn Ngọc

Trần Quốc Sủng 24 Tháng 11 lúc 21:13
Bạn về xứ Nghệ-Tĩnh thắm tình BANTROI (Vui cùng bạn sống. Viếng bạn & bố bạn đã hy sinh). Chúc vợ chồng bạn thượng lộ bình an và vui vẻ tiếp mọi nơi ban đến.


















Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

HỔ PHỤ SINH HỔ TỬ

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ
27/7/1947-27/7/2017

(Bài gửi Báo Tuổi Trẻ nhân dịp 27/7/2017)




Ngôi trường vinh dự mang tên Anh
Chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi anh dũng hy sinh ngày 15-10-1964. Tròn một năm sau, ngày 15-10-1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập nhà trường mang tên Anh. Ngày khai giảng đầu tiên được tổ chức ở cửa rừng An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái – An toàn khu thời chống Pháp. Ngay từ khi khoác bộ quần áo quân phục nhập trường, các bạn đã tâm niệm lời Bác Hồ dạy: Lấy tên Anh Trỗi đặt cho trường để các em noi theo gương Anh!
Chỉ tồn tại 5 năm (1965 – 1970), Trường Văn hóa quân đội – Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (thuộc Tổng cục Chính trị) đã giáo dục 8 khóa với 1200 học sinh (từ lớp 5 đến lớp 10) - là con em gia đình có công, gia đình cán bộ trong và ngoài quân đội đang chiến đấu ngoài mặt trận. Sau đó, gần 900 em nhập ngũ và được đào tạo trở thành sĩ quan, hơn 1000 học sinh có trình độ kĩ sư, bác sĩ, cử nhân; hơn 100 tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư... Sau hơn nửa thế kỉ phấn đấu, rèn luyện, có 3 trung tướng, 15 thiếu tướng cùng hàng trăm sĩ quan, cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân - học sinh khóa 5, là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM.
Mái trường ấy còn tự hào với 2 thầy giáo (Nguyễn Văn Phố, Nguyễn Đăng Đạo) và 28 học sinh đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004.
Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004, dịp thầy Phú, thầy Bính từ HN, thầy Tiến từ Nha Trang vào thăm TPHCM.
Hàng đứng bên trái mộ Anh: Tấn Mỹ, Nam Điện, Chỉnh Huấn, Lê Võ Tiến Hưng, thầy Phú, cô Thục, chị Quyên. Phải: thầy Tiến, thầy Bính, thầy Trọng, Phương (cháu Anh Trỗi), Hoài Nam.
Ngồi: Phan Nam, Dương Đức Hải, Kiến Quốc, Nguyễn Hữu Hà, Dương Minh, Thiệp, Tất Tuấn, Anh Minh, Công Trường, Đậu Châu, Hồ Bá Đạt.




Những người bạn hy sinh đầu tiên
Hè năm 1966, trong những ngày lao động xây dựng doanh trại, bạn Nguyễn Lâm Duy (học sinh khóa 4) đã dũng cảm hy sinh khi chặt cây, lấy gỗ trong rừng An Mỹ. Lâm Duy được TCCT công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân. Ba của Lâm Duy là thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, tư lệnh đầu tiên của Liên khu 5 thời chống Pháp và cũng là tư lệnh đầu tiên của binh chủng Tăng – Thiết giáp (1970). Những ngày này, đọc lại cuốn hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam” của ông, có nhắc lại sự hy sinh của Lâm Duy.
Còn học sinh hy sinh đầu tiên trên chiến trường là liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (khóa 4). Ở Ngọc, hoàn cảnh khá đặc biệt, bố hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Hoà bình lập lại, năm 1954, mẹ Ngọc xây dựng với chú Nguyễn Chí Điềm (nguyên tư lệnh Bộ đội Dù, sau là tư lệnh Đặc công). Với chí căm thù giặc, Ngọc cùng Đỗ Tấn Mỹ, Tô Văn Hoành xin nhà trường cho đi chiến đấu. “Ba anh em Lưu – Quang – Trương” thề sống chết có nhau và được điều về sư đoàn phòng không 361 bảo vệ vùng trời Hà Nội, sau đó cùng sư đoàn 367 vào bảo vệ vùng trời Thành Vinh. Ngày 10-10-1968, Ngọc chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên mâm pháo, trước ngày giặc Mỹ “ném bom hạn chế” ra miền Bắc có vài tuần.

Và danh sách anh hùng, liệt sỹ thêm kéo dài…
Trong số 30 liệt sỹ của nhà trường, Huỳnh Kim Trung (khóa 5) được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cuối năm 1973. Đang là học viên trường Trung cấp Cảnh sát Suối Hai, Ba Vì, Trung xung phong vào mặt trận Quảng Bình, tham gia giải tỏa ách tắc giao thông ở “điểm chốt” - bến phà sông Gianh. Hết đợt thực tập, đã có danh sách rút về trường nhưng Trung xin ở lại. Ngày 20-8-1972, khi đang cùng đồng đội di dời những thùng đạn tới nơi an toàn thì Trung bị thương. Biết mình không qua khỏi, Trung giục đồng đội hãy cứu người bị nhẹ hơn. Sau đó, Huỳnh Kim Trung đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 20. Ba của Kim Trung là đại tá, kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương. Năm 1947, bác đã là tham mưu phó Bộ tư lệnh Quân khu 7 và sau 1975, có nhiều đóng góp cho việc quy hoạch TPHCM. Năm nào, tổ chức đám giỗ cho con trai, cụ cũng không quên mời chúng tôi.

Học sinh khóa 1, kĩ sư vũ khí Bùi Hữu Thích, sau khi tốt nghiệp Đại học Quân sự đã nhận nhiệm vụ về Lữ đoàn Tăng 203, làm trợ lí quân khí. Trên đường hành quân vào Nam, khi cả đoàn xe bị đánh bom, anh đã dũng cảm nhảy lên thay thế đồng chí lái xe đã trúng đạn hy sinh, đưa xe chở đầy đạn tới nơi an toàn. Chiều ngày 22-8-1972, khi nhận nhiệm vụ đi tiếp nhận đạn pháo xe tăng từ Hậu cần chiến dịch, gần đường số 9 Nam Lào, anh đã hy sinh khi bị 3 máy bay phản lực bổ nhào, thả bom xuống đội hình. Trung tá Bùi Hữu Xích, ba anh, có nhiều năm công tác ở Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) luôn tự hào vì con trai mình đã không làm hổ danh gia đình.

Khóa 3 của nhà trường có 3 liệt sĩ, đó là Lê Minh Tân (hy sinh: 1-4-1974), Cao Quốc Bảo (7-5-1975), Ngô Ngời (1-7-1979).
Cũng như Ngô Ngời, Lê Minh Tân đang là sinh viên Bách khoa Hà Nội thì có lệnh Tổng động viên. Sau huấn luyện, anh về đơn vị C23, Đoàn A16, Bộ đội Tăng – thiết giáp Tây Nguyên. Vào đến chiến trường, anh không viết một dòng thư về cho ba má vì đã hứa “bao giờ được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà!”. Gia đình nhận được lá thư đề ngày 26-3-1974. Không ngờ rằng, đó là lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng! Đúng 6 ngày sau, ngày 1-4-1974, Lê Minh Tân đã anh dũng hy sinh tại cây số 34, đường 46B, cách sân bay Khâm Đức 8km, thuộc mặt trận Quảng Nam. Thân phụ liệt sĩ, đại tá Lê Bưởi có nhiều năm công tác tại Bộ Tổng tham mưu, đã gửi cho chúng tôi lá thư và di ảnh quý giá của liệt sĩ. Cho tới ngày 14-5-2007, sau 33 năm thất lạc, Ban liên lạc cựu chiến binh Tăng – Thiết giáp, gia đình và đồng đội Trường Trỗi đã đón anh từ Quảng Nam về Nghĩa trang liệt sĩ TPHCM.

Cùng với liệt sỹ Nguyễn Lâm Duy và Nguyễn Văn Ngọc, khóa 4 còn 2 liệt sỹ Vũ Chí Dũng và Nguyễn Văn Ơn. Trường hợp liệt sĩ Vũ Chí Dũng cũng thật đặc biệt. Tốt nghiệp lớp 10, được tham gia khám tuyển và Dũng đủ tiêu chuẩn đi học lái máy bay chiến đấu ở Liên-xô. Nhưng anh kiên quyết xin đi chiến đấu. Bác Vũ Công Thuyết, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế, vui vẻ động viên con lên đường. Từ một người lính, bạn phấn đấu trở thành trung sĩ, tiểu đội phó và hy sinh ngày 6-12-1971, tại Kon Tum. Sau này, gia đình đã đón Dũng về quê hương.

Cùng liệt sỹ Huỳnh Kim Trung, khóa 5 còn có các liệt sĩ Võ Dũng, Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường, Trịnh Thúc Doanh và Phạm Văn Hạo.
Võ Dũng trong số học sinh từ Nam bộ vượt qua sự bao vây của kẻ thù, ra tới miền Bắc XHCN. Dũng lên nhập trường vào hè năm 1965 thì năm 1966, má Trần Kim Anh cùng hai em (Phan Thị Ánh Hồng và Phan Chí Tâm) đã hy sinh trên đường lên R nhưng chú Sáu Dân (ba Dũng, sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã giấu không cho Dũng và Hiếu Dân hay. Tới năm 1968, linh cảm thấy chuyện không lành xảy ra, Võ Dũng xin nhà trường nghỉ học để về Nam chiến đấu. Sau thời gian huấn luyện ở Quân chính Quân khu Tả Ngạn, tháng 8-1969 Dũng nhập Trường Huấn luyện cán bộ đi B (105B) ở Hòa Bình. Ngày cô Bảy Huệ, dì Tư Duy Liên cùng em Hiếu Dân lên thăm, Dũng đã hứa “Lần này con đi, một – xanh cỏ, hai – đỏ ngực!”. Các chú muốn sắp xếp cho Dũng đi đường hàng không qua Campuchia, Dũng không chịu: “Ai cũng hành quân dọc Trường Sơn về Nam thì sao con có thể làm khác?”. Tới căn cứ B2, ba, con gặp nhau mừng tủi nhưng Dũng nằng nặc xin về đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Chú Sáu phải gật đầu.
Các chú xếp Dũng về đơn vị Thông tin, nơi ít phải giáp mặt với quân thù; nhưng Dũng lại xin về Rạch Giá: “Má cháu đã bị giặc giết hại, các chú phải cho cháu về quê má chiến đấu”. Tháng 6-1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9. Tháng 10 năm đó, Dũng xin bằng được cho về Trung đội 2 trinh sát (Tiểu đoàn 3). Dũng hăng hái lặn lội trinh sát cùng anh em, no đói, gian khổ cùng sẻ chia. Sáng sớm ngày 21-4-1972, Dũng cùng 2 đồng đội đi trinh sát và bị sa vào ổ phục kích. Cả 3 anh em hy sinh. Võ Dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 21, ngay trên kênh Tây Ký (xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá), quê hương má Trần Kim Anh.
Khóa 5 có nhiều bạn chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm nhưng có 3 bạn nằm lại nơi ấy: Vũ Kiên Cường (27-7-1972), Nguyễn Lâm (05-9-1972) và Trịnh Thúc Doanh (16-9-1972). Khóa 5 còn có Phạm Văn Hạo (28-6-1971) dám đổi tên thành Phạm Vũ Nhân trong đơn tình nguyện nhập ngũ.

Khóa 6 có 6 liệt sỹ: Nguyễn Mạnh Minh (25-3-1972), Đỗ Khắc Tiến (02-6-1972), Võ Nguyên Trọng (05-6-1972), Đặng Bá Linh (26-8-1972), Chu Tấn Quang (29-12-1973), Nguyễn Tiến Quân (29-2-1979). Ở bạn nào cũng có những câu chuyện hết sức cảm động!
Võ Nguyên Trọng là con bác Võ Nguyên Lượng, nguyên bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa. Sau mấy tháng trời hành quân đến Tây Nam bộ, Trọng được bổ sung về sư đoàn 1, Quân khu 9. Thượng tá Phạm Quang Thư, đồng đội của Trọng, kể lại, bác Lượng gương mẫu động viên con ra mặt trận nên cả tỉnh Thanh ngày ấy rất đông thanh niên nhập ngũ... Lần đi cùng thủ trưởng trung đoàn xuống đơn vị về, Trọng bị thương do đạn pháo bắn trúng ổ bụng. Được cấp cứu nhưng mất máu quá nhiều, Trọng hy sinh ở xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (gần Ngã ba Hòn Chông). Nhưng mộ phần thất lạc suốt 39 năm, cho đến khi tìm được danh sách có vị trí chôn cất 9 chiến sĩ, đội quy tập Quân khu 9 đã tìm được 8 bộ hài cốt. Sau khi gửi về Viện Khoa học Việt Nam, tra cứu bằng phương pháp thử AND, đã xác định chính xác. Năm 2011, Trọng được đón về yên nghỉ bên mẹ.
Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trung úy Nguyễn Tiến Quân (con trai trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên tư lệnh Đoàn 559) đã anh dũng hy sinh ở mặt trận Lạng Sơn, vào sớm ngày 19-2-1979.

Khóa 7 có 7 liệt sỹ: Lại Xuân Lợi (2-5-1972), Trần Hữu Dân (28-8-1972), Y Hòa (16-10-1972), Đặng Đình Kỳ (14-9-1974), Nguyễn Đức Thảo (28-4-1978), Ngô Tất Thắng (1-1-1979), Nguyễn Khắc Bình (?).
Y Hoà, Nguyễn Chấn Hưng, Lê Văn Nho là 3 bạn cùng nhập ngũ ngày 6-1-1972 tại Hà Nội và cùng đầu quân về sư đoàn 312. Trong “Mùa hè đỏ lửa” Y Hòa cùng Hưng và Nho đã anh dũng hy sinh tại chốt đồi Cháy, gần Thành cổ Quảng Trị. Bác Y Wang, ba Y Hoà là người dân tộc Tây Nguyên, từng là Phó ban Dân tộc Quốc hội. Sau ngày thống nhất, nhiều lần gia đình đã ra tận Quảng Trị để tìm kiếm mộ phần, nhưng vô vọng. Cuối cùng, gia đình mang nắm đất ở mặt trận đưa về nghĩa trang liệt sĩ Buôn Mê Thuột xây mộ phần cho bạn.

Người cầm cờ Lớp Quyết thắng và người đứng sau là 2 Ls k7:
Trần Hữu Dân và Nguyễn Khắc Bình.


Vũ Trung k8 (bìa trái) cùng đồng đội f312 bên bia tưởng niệm Y Hòa k7 và đồng đội hy sinh ở đồi Cháy, Quảng Trị, 1972.



Và liệt sĩ trẻ nhất của nhà trường là Bùi Thọ Tuyến. Là học sinh khóa 8, ngày trường giải thể, Tuyến về Thái Bình vì bố Bùi Thọ Tư nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Quê hương Năm tấn là nơi cung cấp nhiều con em cho chiến trường, Tuyến tuy chưa đủ tuổi nhưng bắt mẹ xin các chú cho đi bằng được: “Bố lặn lội, động viên nhân dân cho con em đi bộ đội thì lẽ nào mẹ lại ngăn con thực hiện ước mơ làm nghĩa vụ vẻ vang này”. Tại chiến trường, chỉ còn một năm nữa là chiến tranh kết thúc, vậy mà Tuyến đã hy sinh ngày 23-3-1974!

Vỹ thanh!
Trân trọng ghi lại những tấm gương của bạn chúng tôi đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc và làm rạng danh cho mái trường mang tên Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi. Các anh, các bạn hy sinh khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi. Chúng tôi luôn tự hào vì các anh, các bạn!
Và niềm tự hào đó không chỉ dành riêng cho 30 thầy trò nhà trường mà xin được dành cho cả cha mẹ họ. Bởi vì “hổ phụ” ắt sẽ sinh “hổ tử”!
TRẦN KIẾN QUỐC


Bài và ảnh: FB Tran Kienquoc - 26 Tháng 7 2017 05:57

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

VIẾT VỀ NGUYỄN VĂN NGỌC, BÁC NGUYỄN CHÍ ĐIỀM TƯ LỆNH ĐẶC CÔNG - HAI CHA CON NẰM CẠNH NHAU CÙNG NGHĨA TRANG!

NGỌC - TÔI - TÔ HOÀNH cùng đơn vị pháo phòng không 57mm. Ngày Mỹ ngừng ném bom khu 3, qua tết mậu Thân 1968, chúng tôi hành quân vào khu 4 bảo vệ thành Vinh, Bến Thủy.
Ngày Ngọc hi sinh 10 giờ sáng 10/10/1968 có 13 lính và một cô dân quân vào tiếp trã nước, số anh em bị thương vào viện chết hỏi trung đoàn không nói. Ngày đi B có lại nghĩa trang Vinh, tôi & Hoành lấy nắm đất về cho mẹ Ngọc, hồi đó liệt sỹ 7-10 năm mới báo tử, chỉ một tháng chúng tôi báo cho mẹ Ngọc biết, còn viết thơ báo về trường cho bạn bè, thầy cô biết, Họp thơ [20--12 Quế Lâm Trung Quốc]
Sau hòa bình vài năm tôi và Hoành có ra tìm, họ nói chuyển về nghĩa trang Đức Thọ rồi, tôi nhớ mẹ Ngọc quê Nam Đàn Nghệ An mà...? tôi vẫn ra vài lần tìm ko hiệu quả và có lập bàn thờ cúng đúng giờ anh em hi sinh cùng Trần Sũng và Thúc Minh giúp đở rất nhiệt tình, vì sau nầy nhà, đường chằng chịt, củng may có thằng chăn bò hồi ấy mới 12-13 tuổi chỉ đúng nơi trận địa củ, nay hắn già đầu bạc trắng.
Lần nầy ra, nhờ Sủng + Thúc Minh đưa qua nghĩa trang Đức Thọ tìm Ngọc, gặp ông quản trang chỉ Ngọc và bác Điềm hai bố con nằm cạnh nhau. Tôi hỏi gần mấy trăm mộ bác nhớ hét tên LS không? bác nói nhớ chứ, nhớ để chỉ thân nhân tìm cho dể. Bác nói LS đây đa số là lính pháo và lái xe Trường Sơn, các anh chết trẻ linh thiêng lắm, nhiều người các nơi về xin cúng vái xin làm ăn v.v...

Nhửng kỹ niêm buồn vui sau 49 năm giờ vẫn chưa phai chỉ tiếc Ngọc hi sinh khi chỉ còn 20 ngày là Mỹ ký ngừng đánh ném BOM hoàn toàn miền Bắc, cả trăm trận không chết trận cuối cùng lại hi sinh. Âu cũng là số trời cả.
CHẾT
Dù sợ chết đố ai thoát được
Định nghĩa chung cho kiếp làm người
Đếm cái chết muông ngàn cái chết
Chết thế nào cho khỏi ô danh
Chết ốm đau là cái chết thường tình
Già mà chết ấy là đời phãi chết
Chết vì tình là cái đời mạc kiếp
Chết vì dân vì nước..!
Ôi cái chết thiêng liên cao cả
chết một gây thôi tiếng muôn ngàn thủa
Chết thế nầy thiên hạ phải nghiêng mình...
Tấn Mỷ 10h - 9/11/2017


FB My Tan - BẠN NVT 9 Tháng 11 lúc 13:15