Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Bạn Trỗi k7 thắp hương tại mộ và nhà thờ gia đình bạn Lại Xuân Lợi

Bạn Trỗi k7 thắp hương tại mộ và nhà thờ gia đình bạn Lại Xuân Lợi

Hoàng Mạnh Thắng


Sáng nay thay mặt cho các bạn Khoá 7 trường Trỗi chúng tôi về Nghĩa trang Liệt sĩ Nam Vân, Nam Định và nhà thờ gia đình thắp hương tưởng nhớ Lợi, một trong bảy LS của khoá tôi.
Thôi cầu mong các Bạn an lành nơi cõi Cực lạc và luôn phù hộ cho gia đình, cho chúng tôi.

Ảnh Hoàng Mạnh Thắng.


Nguồn: Mạnh Thắng Hoàng - 25/7/2017.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

Tuổi trẻ Báo Quân đội nhân dân tri ân các anh hùng liệt sĩ


QĐND 24/07/2017 18:19


QĐND Online – Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2017), ngày 24-7, đại diện tổ chức Đoàn của Báo Quân đội nhân dân đã dâng hương tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ của báo trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Thắp hương tri ân liệt sĩ Ngô Tất Thắng, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân hy sinh tại chiến trường Campuchia. Ảnh: Tuấn Huy

Đoàn công tác đã tới thắp hương, bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với các anh hùng liệt sĩ của Báo Quân đội nhân dân đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, như liệt sĩ Tô Ân, Ngô Tất Thắng và Hoàng Tiến Lộc. Đồng thời, đoàn đã thăm hỏi sức khỏe, động viên tinh thần các thân nhân liệt sĩ. Báo Quân đội nhân dân là cơ quan báo chí có bề dày truyền thống, hai lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động); có 9 liệt sĩ và 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Các đoàn viên thanh niên hứa sẽ cống hiến sức trẻ, noi gương các thế hệ đi trước, viết tiếp truyền thống lịch sử vẻ vang của Báo Quân đội nhân dân, của Quân đội và dân tộc .


Thế hệ trẻ Báo Quân đội nhân dân thăm hỏi gia đình liệt sĩ Hoàng Lộc, nguyên phóng viên báo Vệ Quốc Quân, hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ảnh: Tuấn Huy

Cùng ngày, đại diện tổ chức Đoàn của Báo Quân đội nhân dân cũng đã tới thăm hỏi, động viên, tặng quà các đồng chí thương binh, bệnh binh, là thân nhân của cán bộ, phóng viên, công nhân viên trong Tòa soạn.

MINH ANH





Nguồn: Báo điện tử Quân đội nhân dân

Tưởng nhớ đến các bạn liệt sỹ K7

Trang Tong Ngoc 24 Tháng 7 lúc 19:30 ·
Tưởng nhớ đến các bạn liệt sỹ K7 trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi, nhân ngày TBLS 27/7/2017, BLL K7 đã đến thắp hương các bạn Thảo, Kỳ, Hữu Dân và Tất Thắng, và gặp gỡ hai bạn là thương binh của khoá. Ngày mai đại diện K7 sẽ đi Nam Định thăm gia đình và thắp hương bạn Lợi.


BLL K7 cũng đã đến thắp hương Ls Nguyễn Khắc Bình
https://www.facebook.com/groups/483726128373387/permalink/1466768946735762/?comment_id=1466773676735289
BLL K7 thắp hương các bạn LS - 24/07/2017.



















Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

NHỚ ĐỒNG ĐỘI LIỆT SỸ ĐẶNG BÁ LINH

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ
27/7/1947-27/7/2017



Cuối tháng 7 năm 1972, Linh cùng gần 200 chiến sỹ (toàn là lính Hà Nội) trong tiểu đoàn 611 sư 338, đã chia tay chúng tôi (vẫn còn ở lại D611), để lên đường bổ sung cho E24 f304 đang chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị. Trước đó tôi và Linh cùng tiểu đội trong thời gian 6 tháng huấn luyện ... rồi tháng 7 năm đó không ngờ là buổi sáng hôm ấy tôi và Linh bên nhau lần cuối... khi chia tay cái ôm nhau trong vòng tay xiết chặt của người lính vẫn cười vui chúc nhau đi khỏe đá mềm, lập nhiều chiến công trong chiến đấu... hẹn gặp nhau tại Sài Gòn khi chiến thắng... và sẽ cùng nhau lại chạy... (TẨY) vòng hồ Hoàn Kiếm ngày về lại Hà Nội... không ngờ sau đó một tháng Đặng Bá Linh đã hy sinh trong trận đánh tập kích địch tại cao điểm 105 bắc huyện Hải Lăng Quảng Trị.
Nhớ ĐỒNG ĐỘI




Đăng bá Linh


Linh cùng các bạn học lớp 10 trước khi đi bộ đội




FB Tangtien Nguyen - 21 Tháng 7 2017·

Viếng mộ Anh Trỗi - Thăm gia đình chị Quyên

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ
27/7/1947-27/7/2017

Bài tổng hợp


Bài và ảnh: Tran Kienquoc trong Bạn Trỗi K5. 20 Tháng 7 2017 11:37
Phương Tuấn Nguyễn. 20 Tháng 7 2017 5:50
Huynh Kim Thanh. 20 Tháng 7 2017 10:51
Huynh Kim Thanh. 20 Tháng 7 2017 13:57


Viếng mộ Anh Trỗi


Sáng nay (20/07/2017), đoàn trường ta gồm thầy Mai Duy Vọng và các bạn Nhất Trung, Kiến Quốc k5, Hoàng Anh, Quang Bình k6, Bùi Bình, Phương Tuấn k8, Huỳnh Kim Thành k9 đã cùng các cháu bên QPVN đến viếng mộ Anh Nguyễn Văn Trỗi - người AHLS mà nhà trường được mang tên.
Qua cầu Giồng Ông Tố, ... rẽ đường số 3 vào đến nơi thấy Hạnh Nguyên và xe TCCT đã có mặt. Các cháu xin vào thắp hương cho chú Trỗi trước. Sau đó là đoàn trường Trỗi. (Mấy ông k4 hứa có mặt mà chả thấy, khi gọi điện thì nói: nhầm ngày mai!).
Anh em đã đặt hoa, thắp hương và giành 1' tưởng nhớ Anh. Thầy Vọng thay mặt đoàn có đôi lời chia sẻ. Sau đó còn sang thắp hương cho các cụ thân sinh ra chị Quyên.
Mọi việc xong xuôi, trời đổ mưa. Đúng là làm việc thiện nhân ngày 27/7 nên được Trời và các cụ cùng Anh Trỗi phù hộ.
Cả đoàn còn về thăm chị Quyên, anh Tư Dũng. Sau đó lên thắp hương cho các cụ, Anh Trỗi và em trai anh Tư Dũng (cũng là Ls thời chống Pháp).
Anh chị em trò chuyện và được chiêm ngưỡng 1 kho tư liệu quý của gia đình gắn liền với lịch sử của đất nước. Nào là bức chân dung Anh Trỗi vẽ bằng phấn màu do họa sĩ Cuba tặng chị năm 1969 khi sang Cuba; nào là ảnh anh chị cùng chú Sáu Dân trong đám cưới ở nhà Lê Tất Thắng 1973; nào là ảnh anh Tư Dũng cùng Phidel Castro; hay ảnh chị chụp cùng anh Sáu Phong và Tổng thống Chavez...
Chị Quyên cũng báo: Q2 đã có chủ trương di dời nghĩa trang Văn Giáp nhưng có ý định giữ lại mộ Anh đặt ở công viên. Nhưng chị không đồng ý mà quyết định đưa Anh về NTLS TP nơi TP đã dành cho Anh 1 chỗ.
Khi QPVN phỏng vấn chị, anh Tư Dũng mang rượu ngâm nấm linh chi ra nhậu cùng hải sản xuất khẩu sang Nhật. Thật ngon, vui!


Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ 27/7/1947-27/7/2017

Sưu tầm và Tổng hợp




Chủ tịch Hồ Chí Minh và
sự ra đời ngày Thương binh - Liệt sĩ

Theo Vũ Bình Minh (Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội),

Cho đến nay, đã trải qua 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7-2017). Thế nhưng, không phải ai trong chúng ta cũng biết bối cảnh, quá trình ra đời, nơi công bố Ngày Thương binh - Liệt sĩ và lần đầu tiên được tổ chức kỷ niệm như thế nào, ở đâu. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, xin ôn lại một số chi tiết về ngày kỷ niệm có ý nghĩa này.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời nhưng thực dân Pháp đã quay lại Đông Dương. Khi vào thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch ở Bắc Bộ, quân đội Pháp đã tàn sát, bắn phá và chiếm đóng nhiều nơi khiến nhiều đồng bào của chúng ta, trong đó có dân lành phải chịu đau thương, mất mát. Phát huy đạo lý nhân nghĩa, truyền thống “máu chảy ruột mềm” của dân tộc chúng ta, góp phần làm dịu nỗi đau mất mát đối với những gia đình có người đã hy sinh, chính quyền non trẻ của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thực hiện nhiều hình thức để bù đắp những thiệt hại này và xúc tiến vận động thành lập một tổ chức có tên gọi là Hội giúp binh sĩ tử nạn.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn, sau đó đổi tên thành Hội giúp binh sĩ bị thương được thành lập ở Thuận Hóa, tỉnh Bình - Trị - Thiên, Thủ đô Hà Nội và một số nơi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh được mời làm Hội trưởng danh dự của hội này. Chiều ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới tham dự. Chiều ngày 11-7-1946, cũng tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội đã tổ chức buổi quyên góp quần áo, giày mũ cho binh lính ở ngoài chiến trường, mở đầu cuộc vận động mùa đông chiến sĩ.

Ngày 19-12-1946, sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội chính thức phát động chiến tranh với Pháp, chiến tranh lan rộng ra nhiều vùng. Số người bị thương và tử nạn tăng lên rất nhanh do sự chênh lệch về trang bị vũ khí cũng như những chiến thuật chiến đấu. Đời sống của binh lính lúc đó, nhất là những binh sĩ bị thương, gia đình liệt sĩ gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình đó, ngày 07-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi”. Thông báo có đoạn viết:
“Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”. Người đã yêu cầu các làng, chính quyền địa phương lập danh sách, xem xét, nếu đúng sự thật thì “đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Văn phòng Chủ tịch Chính phủ ở Hà Nội”(1).

Sau khi sáng lập “Hội giúp binh sĩ bị nạn” và Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là Chủ tịch danh dự của hội này, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn dân tham gia hưởng ứng phong trào “Mùa đông binh sĩ”. Giữa bộn bề công việc, lo lãnh đạo quân, dân ta phá tan cuộc “tấn công mùa đông” của thực dân Pháp lên Chiến khu Việt Bắc, tổ chức kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt từ Bắc chí Nam, Bác Hồ cùng Trung ương vẫn ban hành các chủ trương, chính sách chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ. Chính phủ ban hành chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ, có chính sách “ưu đãi các chiến sĩ bị thương và gia đình liệt sĩ’... Ngày 08-01-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ, cứu thương với tấm lòng cảm thông và thán phục:
“Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước. Nay đã bị thương mà còn mong mỏi ra sát địch ở trận tiền. Các chiến sĩ thật xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”(2).
Ngày 10-7-1947, cơ quan Thương binh và Cựu binh (sau đổi thành Bộ Thương binh) được thành lập. Từ tháng 6-1947, từ Phủ Chủ tịch đầu tiên ở “Thủ đô gió ngàn” trên đồi Khau Tý, ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ chọn một ngày trong năm làm “Ngày Thương binh”. Từ ý tưởng, chủ trương đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban vận động “Ngày Thương binh” được thành lập. Đồng chí Lê Thành An, nguyên Phó trưởng Phòng Thương binh, Cục Chính trị nhớ lại:
Sau khi Ban vận động tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc được thành lập, vào khoảng 07 giờ tối một ngày đầu tháng 7-1947, khoảng 20 người trong Ban vận động họp tại nhà một người dân tại xã Lục Ba, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, do đồng chí Lê Tất Đắc, Phó Chính trị Cục, Bộ Quốc phòng phụ trách công tác tuyên truyền và hậu phương binh sĩ, chủ trì. Cùng dự họp có đồng chí Trần Huy Liệu, Tổng bộ Việt Minh; đồng chí Hoàng Tuấn, Nha Thông tin; đồng chí Nguyệt Tú, đại diện Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc; đồng chí Đào Duy Kỳ, đại diện Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc và một số đồng chí khác nữa. Sau khi bàn bạc, mọi người thống nhất chọn ngày 27-7-1947 (có ba con số 7 cho dễ nhớ) làm Ngày Thương binh, để báo cáo lên Trung ương và Bác Hồ. Ngay sau đó, đồng chí Lê Tất Đắc cao hứng ứng tác:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Hai bảy, tháng bảy nhớ Ngày Thương binh”.

Đồng chí Lê Tất Đắc còn khéo vận dụng ca dao để phổ biến, tuyên truyền chủ trương hưởng ứng Ngày Thương binh:
“Bữa ăn chín cũng như mười
Mỗi nhà nuôi lấy một người thương binh”.

Chữ “lấy” bổ nghĩa cho chữ “nuôi” còn ý nghĩa sâu xa nữa là kết duyên với thương binh. Bởi vậy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã có rất nhiều chị em phụ nữ tình nguyện lấy các chiến sĩ thương binh làm chồng.

Trước khi Ngày Thương binh chính thức được công nhận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Thường trực Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”. Bức thư có đoạn viết:
“Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí bị ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.

Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn một bữa ăn, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp chiến sĩ bị thương.

Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ lòng yêu mến thương binh.

(...) Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào ta, tôi tin chắc rằng: “Ngày Thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn. Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đ)”(3).

Bác Trần Văn Phúc, cán bộ hưu trí, ở phố Đình, thị trấn Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nguyên là Bí thư Đảng ủy xã Hùng Sơn thời kỳ ấy, kể lại:

Vào hồi 07 giờ sáng ngày 27-7-1947, tôi được đồng chí Hồ Công Luận, Chủ tịch xã, giao nhiệm vụ:

- Hôm nay cấp trên tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc, anh và các đồng chí bộ đội lo khánh tiết, kỳ đài để tổ chức buổi lễ.

Tôi đưa các anh bộ đội vào khu vực xã Bàn Cờ để dọn dẹp xung quanh gốc đa và bãi mít tinh. Tôi đi mượn cái án thư của cụ Từ Liêm làm bàn cho Ban Tổ chức. Khu vực kỳ đài, ở ngay dưới gốc đa có treo cờ Tổ quốc, ảnh Bác Hồ và khẩu hiệu “Lễ công bố Ngày Thương binh toàn quốc”. Lúc bấy giờ cây cối xung quanh địa điểm tổ chức Lễ mít tinh còn rậm rạp, tiện cho việc giữ bí mật. Tự vệ, bộ đội đào sẵn nhiều hầm hào tránh bom. Đại biểu đoàn thể, bộ đội tập hợp thành từng khối, nhân dân các xã Lục Ba, Minh Tiến, Yên Lãng, Hùng Sơn đứng xung quanh...”.

Đồng chí Lê Tất Đắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, người chủ trì buổi mít tinh hôm đó kể lại:

- Vào 06 giờ tối ngày 27-7-1947 bắt đầu buổi mít tinh. Có khoảng 300 đại biểu tham dự. Tôi thay mặt Ban Tổ chức đọc Thư của Bác Hồ gửi nhân Ngày Thương binh toàn quốc. Đồng chí Lê Tỵ, đại biểu thương binh phát biểu. Bà Ba Huy (tức Nguyễn Thị Đích), Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc xã Lục Ba (nơi có trại an dưỡng số 1, thành lập tháng 6-1947, dành cho thương binh, người hăng say vận động phụ nữ giúp đỡ bộ đội, thương binh), phát biểu nói lên tình cảm, trách nhiệm của phụ nữ và nhân dân đối với thương binh (sau này bà Ba Huy được Bác Hồ gửi thư khen). Buổi mít tinh kết thúc trong tiếng hô vang dậy: “Hồ Chủ tịch muôn năm”; “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Bắt đầu từ đó, Ngày Thương binh 27-7-1947 trở thành ngày mà tất cả mọi người dân, mọi cơ quan, đoàn thể trong nước bày tỏ tình cảm “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa với thương binh, gia đình liệt sĩ”.

Tháng 7-1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ với thắng lợi to lớn, đồng thời cũng không ít bộ đội ta thương vong, nhiều gia đình đã mất đi người con, người chồng, người cha, người thân yêu của mình. Để nhớ ơn các thương binh, gia đình liệt sĩ, theo đề nghị của Bác Hồ, Chính phủ ta và chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề binh sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955, ngày 27-7 (Ngày Thương binh toàn quốc) đã được đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, (27-7-1947 - 27-7-1997) tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nơi chứng kiến sự ra đời và lần đầu tiên tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã khánh thành Khu kỷ niệm 27-7 và dựng bia kỷ niệm với nội dung được khắc trên bia: “Nơi đây, ngày 27-7-1947, 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư của Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời của Ngày Thương binh - Liệt sĩ”. Cũng tại nơi này, vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, đã được Nhà nước ta công nhận là “Di tích lịch sử quốc gia”.

Ngày nay, 70 năm sau, Khu Di tích lịch sử quốc gia, nơi lần đầu tiên công bố, mít tinh chào mừng Ngày Thương binh - Liệt sĩ toàn quốc tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên vẫn còn đó những nhân chứng, vật chứng sống cho một truyền thống mới của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Tại đây vẫn còn cây đa cổ thụ xum xuê, tươi tốt. Mọi người ở đây thường vẫn gọi đó là “Cây đa 27-7”.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, t.4, tr.435.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.5, tr.13.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.5, tr.175, 176.

Thứ Bảy, 25/07/2015,
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG HỢP BAN NỘI CHÍNH TRUNG ƯƠNG.

Mời xem thêm:
Sự ra đời của ngày thương binh liệt sĩ 27 tháng 7 - Tường Khanh (tổng hợp), 23/07/2014, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Ngày Thương binh, Liệt sĩ 27 tháng 7
- 20-07-2016, Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM
Ngày thương binh liệt sĩ (ngày 27 tháng 7) - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia




DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA 27/7


Di tích lịch sử quốc gia 27/7 thuộc xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ là nơi ghi dấu sự kiện ngày 27/7/1947 tại gốc Đa xóm Bàn Cờ đã diễn ra một cuộc mít tinh trọng thể gồm 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố bức thư­ của Bác Hồ ghi nhận sự ra đời ngày Thương binh liệt sĩ ở nước ta. Đây cũng chính là bức thư­ đầu tiên Ngư­ời gửi cho anh em thương bệnh binh.

Để ghi nhớ công lao to lớn của Bác Hồ vĩ đại và các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Ngày 3/2/1997, Bộ Lao động và Thương binh xã hội đã tiến hành khởi công xây dựng Nhà tưởng niệm, trư­ng bày truyền thống, khuôn viên di tích với tổng diện tích khoảng 3.000m2. Công trình được hoàn thành đưa vào sử dụng trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày Thương binh liệt sĩ 27-7-1997 và được nâng cấp vào năm 2007.

Khu di tích có khuôn viên rộng, hồ sen đẹp; có cổng Tam quan, sân hành lễ, khối đá lớn khắc chữ ghi tóm tắt lịch sử ra đời ngày thương binh liệt sĩ 27/7. Hàng năm vào ngày 27/7 nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung nô nức về nơi đây thắp nén hương thơm, tỏ lòng thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của Bác Hồ vĩ đại và các anh hùng liệt sĩ.

Nằm trong khuôn viên Khu di tích còn có Nghè ông, là nơi thờ tiến sĩ Đồng Doãn Khuê (1701- ?) sinh tại làng Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ và đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 (1736). Nghè bà thờ hai công chúa Mai Hoa và Quế Hoa. Mùng 7 tết nguyên đán hàng năm bà con nhân dân nơi đây sắm lễ vật mở hội vui xuân tại Nghè thành tâm cầu cho Quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt.

Di tích lịch sử quốc gia 27/7 là công trình văn hoá lịch sử có ý nghĩa to lớn, đáp ứng nhu cầu du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan và tưởng nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng liệt sĩ, thưởng ngoạn cảnh quan một vùng đất địa linh, sơn thuỷ hữu tình. Đây cũng là điểm nối với tuyến tham quan khu du lịch Hồ Núi Cốc và đi thăm các khu di tích trong Huyện nối với các điểm di tích lịch sử cách mạng An toàn khu ATK Định Hoá và Tân Trào - Tuyên quang.

26/09/2011 11:09, Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên.

Thăm đền kỷ niệm sự kiện 300 cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân họp mặt nghe công bố bức thư của Bác Hồ gửi đồng bào cả nước về trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công.
Mời xem: 224 - Về thăm An Mỹ, Đại Từ - - Hoàng Đôn Hà K5, SRTKL2: 882-888



Mời xem thêm:
Về thăm lại Khu Di tích Hùng Sơn - Nguyễn Thị Ngọc Anh (Phòng GD, CC), 31/07/2016, Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Phim tài liệu về Khu di tích lịch sử Quốc gia 27/7 - Nơi công bố ngày thương binh liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947.




Video Hà mèo



Vẫn còn lại những nỗi đau

- Thơ TQtrung, "Quán thơ Bạn Trỗi"
Nhân ngày Thương binh liệt sỹ 27-7, Cả nước đang hướng tới những người lính đã hy sinh và cả những người lính còn mang trong mình vết thương từ những trận chiến. Sự hy sinh của họ không bao giờ bị lãng quên trong sự ghi ơn của dân tộc và đất nước này. Chúng ta tri ân các liệt sỹ đã bỏ mình vì nước, các thương bệnh binh đã hy sinh một phần máu xương cho độc lập dân tộc. Trong thực tế, do điều kiện khó khăn gian khổ của cuộc chiến mà nhiều liệt sỹ hy sinh vẫn còn nằm lại đâu đó trên những chiến trường xa, những người lính trở về luôn đau đáu một hy vọng tìm lại và đưa hài cốt đồng đội về quê hương, trả lại niềm vui cho những người mẹ, người cha vẫn mong đợi đưa con thân yêu của mình trở lại dù chỉ là một nắm xương tàn.
Từ lâu, tôi đã viết một bài thơ ca ngợi họ, những người có một tấm lòng cao cả vì đồng đội ấy, nhân dịp ngày toàn dân ghi ơn Thương binh liệt sỹ, xin mời các bạn đọc lại bài thơ này.

Chiến tranh đã qua từ lâu
chỉ còn lại
nỗi đau,
xót xa âm ỉ,
trong cõi lòng của những người lính đã bạc phơ mái đầu
Ôi, những người lính già trở về từ những chiến trường xa!

Đất nước đã bình yên
những vết thương chiến tranh
trên mình đất mẹ cũng đã dần se thịt
liền da.
Nhưng từ sâu thẳm trái tim người lính già vẫn nặng lòng, khi nhớ về đồng đội thân yêu
vẫn còn nằm lại
giữa những miền đất vời vợi xa.

Có những bà mẹ già
bao gia đình, lặng thầm trước ban thờ người hy sinh
vẫn ước mong có ngày đưa được hài cốt người thân quay trở về quê hương

Rồi một sớm mai kia người lính lên đường
quay trở lại chiến trường
với những ngày gối đất nằm sương
góp sức mình tìm lại
những nấm mồ đồng đội
đưa các anh trở về giữa lòng đất mẹ thân thương

Bức chân anh qua từng nghĩa trang
lòng xót xa
đớn đau vô vàn
khi đứng trước những hàng bia mộ không tên
nén tâm nhang
xin được thắp lên
đồng đội mến thương ơi! xin các anh yên lòng
Đất nước mình ngàn đời còn ghi công.
Có những người lính già
vẫn từng ngày nhớ về những người đồng đội
đã khuất
xa !




Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Bạn Nguyễn Lâm giờ an nghỉ tại đâu

Hoàng Văn Chương K5

Tôi vừa nói chuyện với anh Lương Sơn (anh trai Lâm).
Sau hôm 27/2/2012, kỉ niệm 40 năm Thành cổ Quảng Trị, qua Lê Bình anh Sơn đã gặp Hiển (bạn chiến đấu cùng đơn vị với Lâm) nhiều lần. Hiển kể, hôm Lâm hy sinh thì Lâm đi đầu đội hình còn Hiển đi cuối. Bị địch phục kích, Lâm hy sinh. Số đi sau phải rút lui nên cũng không được tận mắt nhìn thấy Lâm hy sinh thế nào.
Theo tìm hiểu của anh Sơn thì có thể Lâm hy sinh ở khu vực Sân bóng bây giờ. Sau nhiều năm tìm kiếm không thấy nên gia đình đã lập mộ gió năm 2013 ở trên khu nghĩa trang Vĩnh hằng (Hà Nội). Mộ đặt ở ngay phía sau Đài Hoá thân mới xây.
(Nếu cần thông tin thêm thì hỏi cụ thể anh Lương Sơn theo số điện thoại: 0948398454).

FB Tran Kienquoc >> Bạn Trỗi K5 - 29 Tháng 6/2017 lúc 9:53

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Nghĩa trang Văn Giáp - nơi Anh Trỗi yên nghỉ

Trần Kiến Quốc K5


Vì sao Anh Trỗi lại yên nghỉ ở Nghĩa trang Văn Giáp?
Văn Giáp là 1 làng thuộc huyện Thường Tín, Hà Đông cũ, cách trung tâm HN chừng 20km. Đã từ lâu, bà con Văn Giáp bỏ nhà đi về phía nam kiếm sống. Năm 1937, bố mẹ chị Quyên cũng theo bà con vào Nam và sinh sống ở đồn điền Chúp, trên đất Campuchia, sát biên giới 2 nước. Sau đó cả nhà theo bố về SG.
Dân Văn Giáp từ lâu đã mua mảnh đất rộng hàng chục công ở Giồng Ông Tố, làm nghĩa trang cho bà con quê hương mình chết có nơi yên nghỉ. Ở ngã tư Phú Nhuận cũng có ngôi chùa do bà con Văn Giáp góp tiền xây dựng.
Sau ngày Anh Trỗi hy sinh (15/10/1964), lúc đầu chính quyền cho chôn ở Nghĩa trang lính Cộng Hòa phía đường Quang Trung nhưng vì là Việt Cộng nên lại chuyển về chôn ở Nghĩa trang Đô Thành (nay là đất công viên Lê Thị Riêng, Q10) trên khu "đất thí' (sau 3 năm phải di dời).
Sau 3 năm, khi chị Quyên đã được đón ra vùng giải phóng, bố chị đã đưa Anh về nghĩa trang này. Cảnh sát ngụy thắc mắc khi đọc bia mộ thì ông nói "do trùng tên".
Sau ngày giải phóng, TP cũng muốn chuyển anh về NTLS nhưng chị Quyên bảo, trên thân thể Anh có nhiều vết đạn, lại phải đào lên chôn xuống đến 3 lần nên gia đình không muốn Anh thêm đau đớn. Chỉ khi nào khu vực này phải giải tỏa, thì mới đưa Anh về NTLS. Vì vậy, trên NTLS TP vẫn còn có 1 suất dành cho Anh.
Đường đến Nghĩa trang Văn Giáp
Ngay tại đầu đường cao tốc đi Giầu Dây thì rẽ phải vào đường Nguyễn Thị Định, đi chừng 300m tới cầu Giồng Ông Tố. Qua cầu rẽ trái vào đường Nguyễn Duy Trinh, đi chừng 2km thấy bên trái có Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, còn bên phải là đường số 3. Rẽ phải, qua 1 ngôi đình và đi chừng 300m là đến Nghĩa trang Văn Giáp.


Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

K6 về quê Anh tháng 5 2017


Trong dịp Hội khóa 6 toàn quốc tại TP Đà Nẵng 5-7/5/2017, toàn thể ACE đã về thắp hương AHLS Nguyễn Văn Trỗi và thăm gia đình Anh (làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam).


Ảnh Ngô Sơn, Anh Minh, Chí Hùng, Lê Quý, Lưu Minh Sơn, Hùng Quân ...
Video Nguyễn Thanh Hải K3

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Ngày của Mẹ

Mẹ anh hùng

Kính tặng bà nội và các bà mẹ Việt Nam anh hùng
Đỗ Quang Việt K2
Mẹ đâu có muốn làm anh hùng,
Chỉ muốn cho đất nước này hết giặc.
Sinh con ra phải thời loạn lạc,
Nuôi con lớn khôn rồi tiễn con đi,
Để bao năm mong ngóng con về,
Cho đến nay đã chiều tà xế bóng,
Hết ngày lại đêm vẫn chỉ là mong ngóng,
Đất nước thanh bình, con còn ở nơi đâu?

Mẹ đâu có muốn làm anh hùng,
Chỉ mong con yêu trở về với Mẹ.
Đất nước mình đã qua cơn dâu bể,
Mấy chục năm rồi, Mẹ đau đáu hàng đêm,
Vẫn quặn lòng, vẫn nhói con tim,
Mỗi khi nhớ về câu hát ru thuở trước...
Mẹ chỉ mong ước gì đổi được
Huân chương anh hùng lấy giây phút gặp con,
Để được ôm và để được hôn,
Được mắng mỏ, được thương, được giận...
Mẹ anh hùng bởi không thể khác:
Cứ mỗi lần đất nước bị xâm lăng,
Trời Phật lại cậy nhờ nơi Mẹ
Sinh cho đất nước những anh hùng.
Rồi lại tiễn con, lớp lớp lên đường,
Nối chí cha ông, ra đi diệt giặc,
Cầu mong con "đá mềm, chân cứng",
Biết giữ tròn chữ "Hiếu", chữ "Trung".
Tiễn con rồi, ngày nhớ, đêm mong,
Hết tháng, lại năm, tảo tần, lam lũ...
Bãi mía, nương ngô, bờ tre, vạt đỗ,
Hạt lúa, củ khoai nuôi những chiến công.

Chuyển mình bay lên, Đất nước hóa Rồng,
Vận nước đến, có phần công đức Mẹ.
Từ ngàn xưa và mai sau vẫn thế,
Tổ quốc mãi ơn những người MẸ ANH HÙNG.

Đỗ Quang Việt K2 - Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010, Báo liếp Blog K5





 ❀ ❀ ❀ ❀



THÌ THẦM VỚI MẸ

Ngày của mẹ - những bức tranh không lời, Việt Nam - quê hương tôi
(Một nén hương trầm, cho ngày giỗ đầu của mẹ)
Trần Quang Trung K4
Nếu ngày đó
con không trở về
Trên ban thờ nhà mình
chỉ có một bát nhang.

Có những gia đình Bà mẹ Việt nam
Cũng một bát hương.
Nhưng thờ chín bát cơm
Thì nỗi đau chẳng thước nào đo nổi.

Ngày ra đi
Cùng bước chân đồng đội.
vượt đường xa, về hướng lửa réo gào.
Chẳng thằng nào
đắn đo.

Chỉ chung nhau một chút âu lo
Mẹ già yếu, ai cậy nhờ sớm tối

Chẳng mấy ai biết, lòng mẹ già vời vợi
nỗi thương con, thương nước vô vàn
Mong con mình vượt mọi gian nan
Qua khói lửa, rồi trở về với mẹ.

Lũ chúng con, có đứa trở về
Nhiều
nhiều lắm, những bạn bè
nằm lại.
Đồng đội chúng con ra đi mãi mãi
Chỉ trở về với nấm mộ không tên.

Mẹ - với những nỗi đau nhân lên
Vời vợi
nỗi buồn
xé lòng của mẹ.

Xin cho con lau đi dòng lệ
trong một ngày, dành cho mẹ, mẹ ơi
Xin ngàn lần
Hỡi thế giới loài người, hãy dập tắt chiến tranh
cho nước mắt của MẸ đừng bao giờ rơi nữa.

THÌ THẦM VỚI MẸ - Thơ TQtrung, Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015 NGÀY CỦA MẸ, "Quán thơ Bạn Trỗi" .



Mẹ vẫn hát ru

Kính cẩn nghiêng mình
trước vong linh các Anh hùng Liệt sỹ
Đỗ Quang Việt K2
Từ ngàn năm nay, Mẹ vẫn hát ru,
Tiếng hát lặn trong gió rừng, sóng biển.
Đất Nước này qua bao nhiêu trận chiến,
Mấy ngàn năm, bao thế hệ hy sinh.

Tổ quốc – Mẹ hiền, hoàng hôn tới bình minh,
Sóng biển, gió rừng vẫn mang lời của Mẹ
Ru những đứa con, bao đời vẫn thế,
Giấc ngủ ngàn thu trong lòng Mẹ thân thương.

Dải đất này đâu cũng ngát thơm hương,
Trong làn khói - bóng Anh hùng, Liệt sỹ,
Từ Biển Đông tới Trường Sơn hùng vỹ,
Từ Lũng Cú địa đầu đến rừng đước Cà Mau.
Những Liệt sỹ - Anh hùng, dù đang ở nơi đâu,
Trong lòng biển, hay núi cao, khe suối,
Người hy sinh, bao năm, không thêm tuổi,
Mãi trường tồn cùng Đất Nước, lời ru.

Xin cứ êm đềm giấc ngủ ngàn thu,
Xin hãy ngủ ngon trong lời ru của Mẹ.
Mẹ - Tổ Quốc – ngàn đời nay vẫn thế,
Sóng biển, gió rừng man mác lời ru…


23/7/2014

Đỗ Quang Việt K2 - FB Viet Do Quang >> BẠN NVT






 ❀ ❀ ❀ ❀



Ảnh sưu tầm trên mạng của Nguyễn Tuấn Linh K3