Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

30 - Đáp số của bài toán - Trần Minh Sơn K5, Hoàng Long, SRTKL2: 132-134

Liệt sĩ Phạm Văn Hạo (Phạm Vũ Nhân)
 
Đáp số của bài toán


Ghi theo lời kể của Trần Minh Sơn (khóa 5)
HOÀNG LONG thực hiện

Trong lần họp mặt của học sinh khóa 5 ở phía Bắc, cuối năm 2002, Lê Hòa Bình đưa đến một lô sách “Sinh ra trong khói lửa”. Sách thật đẹp và nội dung khá hay. Mừng quá, ai cũng tranh thủ mua ít nhất một cuốn làm kỷ niệm. Mang thiếu tiền, lại bị “bệnh sĩ”nên tôi chưa có sách trong tay, thấy vậy, Tuấn “sệu” thông cảm cho mượn (vả lại cuốn sách của Tuấn được anh em trong Nam “kính biếu” lúc vào thành phố Hồ Chí Minh công tác). Về nhà, tôi dở ra đọc say sưa, tất cả tuổi thơ dường như được tái hiện giống một bộ phim tài liệu đang quay trước mắt. Và có một bài khi đọc, tôi xuýt la lên: “Thì ra là nó!”…

… Sau khi ở Trung Quốc về Hưng Hóa, tháng 10 năm 1968, tôi lên trường Trung cấp Quân giới, học bổ túc hết chương trình lớp 10. Tại đây, tôi có gặp Nguyễn Thế Bắc (Bắc “bu”). Đến tháng 5 năm 1969, xung phong nhập ngũ, tôi được điều về sư 320B, đóng quân ở Hòa Bình. Sau bốn tháng huấn luyện ở Ninh Bình, đơn vị lên đường đi B với mật danh là Đoàn 2232. Tháng 4 năm 1970, đơn vị vượt Trường Sơn qua Lào và xuôi đường Hồ Chí Minh, dọc Trường Sơn tây về Ngã ba Đông Dương. Từ đất Campuchia chúng tôi vượt biên giới về Tây Ninh rồi tới đóng quân ở Đức Hòa, Đức Huệ, thuộc tỉnh Long An. Đơn vị mới là Đoàn Hoa Lư, trung đoàn 3, tiểu đoàn 8.

Một đêm sau Tết Tân Hợi (đầu 1971), tôi được tiểu đoàn cử đi đón tân binh ở Binh trạm 31 (Đầm Be). Đã nửa đêm, trời se lạnh và tối như bưng, không rõ mặt người. Cả trăm lính mới của Đoàn 2296, sau hàng tháng trời ròng rã “xẻ dọc Trường Sơn”, nay đã có mặt tại đây. Ở điểm nhận quân, cán bộ quân lực cầm đèn pin có điểm sáng chỉ vừa bằng hạt đỗ, soi lên danh sách đọc tên từng người. Đến tên ai, người đó hô to: “Có!” và bước sang một bên, nơi đơn vị tiếp nhận. Ở Đoàn 2296 về, lần này, lính Hải Hưng có năm người, trong đó có Nhân. Vì đã khuya, trời tối nên chẳng thấy được mặt mũi cánh lính mới ra sao, chỉ nghe được mỗi tiếng “có” cũng không thể nhận ra bạn mình. Giao nhận quân xong, các tiểu đoàn nhanh chóng đưa anh em về đơn vị.

Vốn là “lính cũ”, sẵn có quan hệ với anh em trong trung đoàn, tôi được nghe họ kháo nhau ở tiểu đoàn 7 có Nhân mới về, từng là thiếu sinh quân ở Quế Lâm (Trung Quốc). Điểm lại anh em trong trường, tôi nhớ lớp trên (khóa 3 và 4) có tới hai người tên là Chí Nhân, nhưng khi tả khuôn mặt và dáng người thì anh em nói không phải, Nhân này trẻ hơn. Thời gian trôi qua, mỗi tiểu đoàn đóng quân xa nhau đến cả chục cây số, không có dịp nào gặp Nhân để hàn huyên, rồi tác chiến liên miên. Ngay cả khi Nhân hy sinh tôi cũng không hề biết. Ngày đó thanh niên miền Bắc vào Nam chiến đấu hy sinh nhiều lắm…

… Hết chiến tranh, tôi may mắn trở về. Hai mươi tám năm sau, khi ngồi nhà đọc đến bài “Đi tìm mộ liệt sĩ Phạm Văn Hạo”, tôi đã bật khóc. Thật không thể ngờ Phạm Vũ Nhân lại chính là bạn chiến đấu trong cùng trung đoàn 3 (Đoàn Hoa Lư) với tôi. Và Nhân không phải ai xa lạ mà chính là Phạm Văn Hạo cùng đại đội, cùng khóa 5, suốt mấy năm ở trường Trỗi. Ngày ở trường, hắn mộc mạc lắm; buổi sinh hoạt văn nghệ nào cũng có tiết mục sáo trúc của Hạo “cồ”. Hạo của chúng ta đã cả gan thay cả tên, đổi cả họ, dấu cả bố mẹ để được đi bộ đội (vì bố đang là sĩ quan, nếu cứ đăng ký tòng quân bằng tên thật thì bị truy ra ngay). Sự liều lĩnh có suy nghĩ này có lẽ chỉ có ở “lính Trỗi”?!…

Tôi còn nhớ lần đi chuẩn bị chiến dịch “Chen-la 2”, vào tháng 2 năm 1971, ở phía đông Lộ 7 (thuộc tỉnh Công-pông Chàm), sát đường biên. Lần đó tôi có ghé qua tiểu đoàn 7 tìm Nhân nhưng không gặp. Nhân cùng đơn vị đi lấy gạo. Ít ngày sau, vào một đêm tháng 4, tiểu đoàn tôi và tiểu đoàn 7 của Nhân đã tập kích cứ điểm Vót-thơ-mây, quần nhau với sư 25 biệt động quân. Trận này, quân ta toàn thắng. Có khả năng trong trận này Nhân bị thương nặng và được đưa về Binh trạm tiền phuơng T1 rồi mới hy sinh.

Khi các bạn trong Nam báo cho tôi địa chỉ của anh Phạm Văn Hiển, anh trai Hạo, tôi đã tìm gặp vợ chồng anh. Lần đó, khi nói chuyện chắp nối các quan hệ và sự kiện, tôi chợt nhớ trong trung đoàn còn có một đồng đội tên là Môn, đồng hương với Hạo, cùng Đoàn 2296, dân Thanh Hà. Sau chiến tranh, anh đã trở về và biết khá nhiều về Hạo. Tôi sẽ cố gắng liên lạc với Môn, hy vọng anh sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin về liệt sĩ.

Rất cám ơn “Sinh ra trong khói lửa” tập I! Bởi cuốn sách đã cho tôi một đáp số của bài toán đặt ra cách đây hơn 30 năm.

 H.L

Khi viết xong bài này thì chúng tôi nghe tin Tuấn “sệu” bị tai biến mạch máu não, phải nằm viện. Cầu mong cho bạn chóng khỏi để còn có mặt trong những buổi sinh hoạt truyền thống.

31 - Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 135-141

Liệt sĩ Đặng Bá Linh


Chuyện về một liệt sĩ, bạn tôi1


TRẦN KIẾN QUỐC *
Học sinh khóa 5

Tháng giêng 1972, vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng nghìn học sinh, sinh viên Hà Nội mà tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc đã lên đường nhập ngũ. Họ được các sư đoàn chủ lực huấn luyện để trở thành những người lính trước khi ra mặt trận.

Từ Hà Nội, lính mới lên xe hành quân vào Nga Sơn, Thanh Hóa. Ngày đi học, họ chỉ biết Nga Sơn qua mấy câu thơ lục bát, nay lại được sống đúng vùng đất làm chiếu cói nổi tiếng. Tiểu đoàn 611, sư 338 tiếp nhận số tân binh này và tổ chức luyện quân trong 6 tháng. Mấy anh em học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi (Tăng Tiến, Bá Linh, Chấn Biên, Hữu Dân, Lam Sơn…) vẫn giữ liên lạc với nhau. Riêng Tiến và Linh được phân về cùng một tiểu đội với Bạch Quốc Bình (một chàng trai Hà Nội). Cho dù giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, nhưng cánh lính trẻ vẫn không cảm thấy gian khổ; cứ sau giờ huấn luyện là vui đùa, nghịch ngợm. Có lần thèm thịt chó, cả tiểu đội đã kéo nhau đi “ăn chịu” ở phố Nga Sơn, không có tiền anh em đã định đặt mũ cối gán nợ (!).

Cuối tháng 6, Quốc Bình, Bá Linh và Hữu Dân được phân về sư đoàn 304. Riêng sư đoàn 338 vượt Trường Sơn sang Hạ Lào giúp bạn giải phóng Saravan và Atôpơ. Sau Tết 1973, kết thúc chiến dịch, sư đoàn 338 rút quân ra Bắc. Qua bạn bè ở sư đoàn 304, anh em biết tin Linh đã hy sinh. Về đến Hà Nội, được nghỉ phép, tháng 8 năm ấy, Tiến và Lam Sơn rủ nhau đến thăm gia đình bạn ở đường Trần Quốc Toản nhưng cả hai đã giấu cô Hồng tin buồn này…

* * *

Bạch Quốc Bình, người đồng đội bên Linh đến giây phút cuối cùng, từ Hà Nội đã gửi cho tôi lá thư với nhiều tâm sự: “Xin kể cho anh kỷ niệm về trận đánh đầu tiên nhưng cũng là trận cuối cùng của Linh. Đúng hôm đó, Linh hy sinh. Nghĩ về đồng đội, nhất là những người đã mất, thì chẳng bao giờ quên được…”

Huấn luyện xong, Bình và Linh về cùng một tiểu đội. Hết đợt nghỉ phép 10 ngày, sáng 18 tháng 6 năm 1972, đơn vị lên đường hành quân vào Nam. Sau một tháng trời hành quân, đơn vị tập kết về một cánh rừng thuộc huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) và được nghỉ một tuần chờ giao quân. C2 được bổ sung thêm 25 chiến sĩ mới, trong đó có Bình và Linh. Qua Ánh, liên lạc đại đội, anh em biết được quân số C2 hiện còn có 45 người. Tuần đầu chỉ đi vác gạo, vác đạn và sửa sang công sự. Hai đứa được phân nằm cùng hầm. Thời gian này, cánh lính mới tập nghe tiếng réo của pháo kích, thử đoán điểm nổ, tập chạy bom B52...

Chiều 26 tháng 8 năm 1972, nhà bếp cho “ăn tươi” với thịt lợn hộp, ca-la-thầu khô của Trung Quốc, canh nấu với rau tầu bay kèm thêm ba gói bột giảm khát. Trước bữa ăn, có thông báo: đêm nay, đơn vị sẽ tập kích cứ điểm 105 Bắc, thuộc dãy Trường Phước. Cơm nước xong, hai đứa về hầm tranh thủ nhắm mắt. 11 giờ đêm, lệnh tập trung. Linh và Bình xách AK và 300 viên đạn. Mỗi người còn mang theo bi-đông nước, lương khô, cơm nắm, xẻng dã chiến, tăng, võng cùng mặt nạ phòng độc, bông băng; ngoài ra còn mang giúp đồng đội hai quả đạn B40.

Thầy, trò trường Trỗi trong ngày trao kỷ niệm chương cho gia đình liệt sĩ Đặng Bá Linh

Thầy, trò trường Trỗi trong ngày trao kỷ niệm chương
cho gia đình liệt sĩ Đặng Bá Linh


Tiểu đoàn cử trinh sát xuống dẫn đường. Gọi là đại đội nhưng chỉ có 18 người tham trận đêm ấy. Ngoài C trưởng và ba lính cũ được cử làm B trưởng, còn lại là lính mới. Số ở lại hậu cứ làm nhiệm vụ tiếp ứng. Theo chân trinh sát, anh em men đồi và lội suối gần bốn tiếng đồng hồ mới đến chân cao điểm. Tại vị trí tập kết, C trưởng hạ lệnh: “Cao điểm này do một tiểu đoàn ngụy chốt giữ. Đại đội được giao nhiệm vụ luồn sâu, lót sẵn, đợi hỏa lực của trung đoàn bắn chế áp, các mũi sẽ tấn công. Ba mũi bố trí cách nhau 100m. Khi có lệnh, chỉ huy các mũi sẽ dùng đạn vạch đường phát hỏa, sau đó, các chiến sĩ mới được nổ súng”.

Nhận lệnh xong, cánh lính trẻ ngồi bệt luôn xuống lòng suối cạn, ngủ gà ngủ gật. Khi được đánh thức, mũi do B trưởng Long phụ trách gồm năm chiến sĩ được trang bị B40 và phóng lựu M79 lên đường. Anh em đi khom theo hàng một ngược lên đồi. Sau 30 phút thì được lệnh tản ra, chọn nơi ẩn nấp. Nửa đêm về sáng, trời tối om không một ánh trăng. Những ngọn cỏ tranh sắc nhọn đâm tua tủa trên mặt đất đầy đá sỏi. Cả không gian yên ắng, khét lẹt mùi thuốc súng…

Đến giờ G, một ánh chớp lòe sáng! Sau đó, đạn cối, 12 ly 7, rồi hàng tràng đại liên bắn lên đỉnh đồi, tiếng AK điểm xạ… Cánh lính mới ù hết cả tai, hoa cả mắt mà chưa được nổ súng. Dưới ánh chớp chỉ cách chỗ hai đứa nằm quãng 300m, Bình nghe thấy cả tiếng lính ngụy la hét và nom rõ bóng chúng nháo nhào tìm nơi ẩn nấp. Ngớt tiếng pháo và cối, chỉ còn tiếng súng bộ binh, anh em bí mật tiếp cận trận địa địch. Bò hơn 100m, bỗng có một quả mìn chiếu sáng kích nổ. Theo quán tính, Bình lăn ngay sang trái, trúng một hố đạn pháo. Lập tức các cỡ đạn trên cao điểm bắn tới xối xả. Chọn ánh lửa đầu nòng ở hướng gần nhất, Bình đi hai điểm xạ, rồi lăn khỏi chỗ nấp. Anh vẫn nghe thấy tiếng súng của Linh điểm xạ hai, ba viên một. Thấy Linh bò nhanh về phía trước, Bình đã cố bò lên và thét to: “Bắn xong phải lăn đi ngay kẻo dính đạn”. Tiếng súng vẫn nổ rát… Trời bắt đầu hửng sáng… Có tiếng phụt và chạm nổ của đạn B40… Bắn xong, vừa lăn đi mấy vòng thì tay Bình chạm vào một người… lay chân thấy không nhúc nhích... lật mũ ra thì nhận ra Long. Anh đã bị mất nửa mặt, chắc do trúng đạn cối cá nhân.

Tiếp tục bò lên, vừa mới nghe tiếng điểm xạ của AK thật gần thì lại nghe tiếng rên khe khẽ. Bình gọi Linh mà không thấy đáp lại. Khi bò ngang qua mới thấy Linh đang nằm sấp, tay để ngay dưới bụng. Lật người anh lên mà không thấy chân quay theo, vội cởi quần dài của Linh kéo xuống thì thấy có hai vết thương - một vết làm gẫy đùi phải, một vết ở bụng dưới. Máu ra nhiều. Mắt Linh không nhắm được, môi mấp máy. Anh lục túi áo lấy một miếng sâm nhỏ cho vào miệng Linh. Đúng lúc ấy, Ánh bò tới: “Lệnh rút lâu rồi mà chúng mày không nghe à?”. Nói rồi Ánh lấy tay sờ khắp người Linh: “Hình như Linh chết rồi, người lạnh lắm”. Không tin vào mắt mình, Bình cởi áo sờ khắp nơi rồi ghé tai vào ngực Linh mà có cảm giác tim vẫn còn đập. Một nỗi đau trào lên trong anh, chẳng lẽ mất một thằng bạn thân nhanh đến thế? Mới chiều qua, hai đứa còn ôm nhau ngủ trong hầm… Phải một lúc mới tĩnh tâm, Bình từ từ đưa tay lên vuốt mắt Linh, cặp mắt Linh khẽ nhắm lại. Không còn thời gian, Ánh tháo võng đeo sau lưng trải xuống đất rồi 2 đứa đặt Linh nằm vào bên trong. Đây đó đạn vẫn nổ. Ánh và Bình vừa bò vừa kéo Linh xuống chân đồi. Đặt tạm Linh ở bờ suối cạn, Bình và Ánh còn phải lên đồi mấy lần nữa để đưa thi hài anh Long, dìu Quang bị gẫy chân, đưa Ngọc xuống. Dưới chân cao điểm, lực lượng chi viện của đại đội đã tới cáng thương binh, tử sĩ về hậu cứ. Trên đường về, đơn vị còn bị địch pháo kích và trực thăng của chúng đuổi rát rạt. May mà không bị thương vong, tổn thất thêm…

Về đến hậu cứ, việc đầu tiên là cấp cứu thương binh và làm các thủ tục chính sách cho liệt sĩ. Linh được đặt ngay ngắn trong một tấm tăng. Một anh bạn nhét mảnh giấy có ghi tên tuổi và đơn vị vào chiếc lọ penecicline, đậy nút lại và nhét vào túi áo Linh. Các liệt sĩ được chôn ngay tại hậu cứ và vị trí các nấm mộ được đánh dấu cẩn thận trên bản đồ tác chiến. Xong xuôi, anh em vội vàng lấp đất. Một loạt đạn bắn lên trời vĩnh biệt!

…Rồi chiến tranh qua đi, Bình tìm về thăm gia đình… Cuối thư anh viết: “… Chắc rằng tôi đã không quá cường điệu, nhưng thực tế còn ác liệt hơn nhiều. Cho đến giờ kể lại chuyện này, tôi vẫn thấy gai hết cả người… Trong trận mạc, bạn bè đã nhường hết may mắn cho mình. Được trở về sau chiến tranh là một hạnh phúc lớn!”

* * *

Thời gian trôi qua, liên lạc bị gián đoạn. Phải cho đến khi Đặng Quý Lai (anh ruột Linh) dọn dẹp nhà mới tìm lại được mẩu giấy ghi địa chỉ của Bình. Điện thoại ra Hà Nội thì Bình đã chuyển nhà. Kiên trì tìm kiếm, anh đã nối lại liên lạc với Bình. Bình gửi vào cả sơ đồ cao điểm 105 Bắc cùng hậu cứ, nơi chôn cất Linh và đồng đội. Từ 1976 đến 1983, một số lượng lớn hài cốt các liệt sĩ ở Quảng Trị được quy tập. Do trong túi áo Linh vẫn còn lọ penecicline nên bộ phận quy tập xác nhận hài cốt Linh đã được cải táng. Linh và đồng đội được chuyển về nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Lệ (Hải Lăng). Nhưng không hiểu vì lý do gì mà những thông tin quý báu đó bị thất lạc, mộ của Linh cùng nhiều liệt sĩ khác đã trở thành vô danh. Đến năm 1993, tỉnh cho xây dựng nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng và mộ các liệt sĩ ở Hải Lệ lại được quy tập về đây. Cho dù đã được về một nghĩa trang lớn và đẹp, nhưng thật đau lòng vì không biết vị trí mộ liệt sĩ Đặng Bá Linh và bao đồng đội hiện nằm ở đâu!

Từ năm 1998, gia đình Linh, mà trực tiếp là vợ chồng anh Lai, đã nhiều lần từ thành phố Hồ Chí Minh ra Quảng Trị nhờ sự giúp đỡ của các nhà ngoại cảm để tìm em. Theo chỉ dẫn của Bình, anh đã tìm về cao điểm 105 Bắc và đã đào lấy một hộp đất mang về thành phố. Mộ tuy chưa tìm được nhưng đất tại nơi Linh nằm xuống được gia đình coi là một phần máu xương của anh! Rồi lần thứ hai, lần ba…

Một sớm đầu hè, chúng tôi đến thăm gia đình. Ba mẹ Linh mời chúng tôi lên thắp nhang cho anh. Thế là Linh hy sinh đã tròn 30 năm. Di ảnh bạn đặt bên cạnh bằng Tổ quốc ghi công. Trông Linh thật trẻ và đẹp trai; bạn khoác ngoài chiếc vỏ áo bông Trỗi để ló ra cổ áo quân phục xuân hè. Ngày còn ở nhà, Linh thích nghe ca nhạc bằng chiếc radiocassette Aiwa. Nay má Linh đặt nó ngay trên bàn thờ. Cạnh đó là hộp sơn mài có dán tờ giấy ghi mấy dòng chữ vi tính: “Đất lấy tại cao điểm 105 Bắc, tỉnh Quảng Trị, nơi Đặng Bá Linh và hàng ngàn đồng đội đã chiến đấu và hy sinh”.

Tăng Tiến có mặt đã tâm sự: “Sau ngày thống nhất, tướng Tô Ký - nguyên Trưởng ban Ban Liên lạc truyền thống sư đoàn 330-338 - đã chọn tên “Thành đồng Tổ quốc” cho tấm kỷ niệm chương tặng cho những cựu chiến binh các thế hệ. Tết Nhâm Ngọ, đồng đội cũ đã làm các thủ tục để Linh được truy tặng. Cháu đã xin phép Bạch Quốc Bình để được mang nó vào cho gia đình…” Anh nhắc đi nhắc lại câu nói ngày đó của tướng Mai Hiền - nguyên sư trưởng sư đoàn 338: “Tôi thực sự yêu quý và kính trọng cánh lính trẻ nhập ngũ năm 1972 về tiểu đoàn 611. Vì Tổ quốc, họ đã dám nhận lấy cái chết cho chính mình”.

Má Linh nghẹn ngào: “Biết thầy giáo và bạn học cũ lại thăm, ở dưới đó Linh vui lắm”. Bà khẽ lau nước mắt và đặt tấm kỷ niệm chương ngay ngắn bên di ảnh…

Xin thay mặt những người còn sống chắp nối cuộc đời của liệt sĩ Đặng Bá Linh qua kỷ niệm của những người thân và đồng đội. Xin coi đây như một nén hương thành kính tưởng niệm nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ!

Sài Gòn, tháng 7 - 2002
T.K.Q





1.  Bài đăng trên báo QĐND cuối tuần ra ngày 28-7-2002.
*   Phó giám đốc Cty Việt Vương, Thành phố Hồ Chí Minh.




Những gì... thầy, bạn để lại:

Nắm đất lấy từ Quảng Trị và chiếc radio Đặng Bá Linh nghe ca nhạc ngày còn sốngNắm đất lấy từ Quảng Trị và
chiếc radio Đặng Bá Linh nghe ca nhạc ngày còn sống



Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ Đặng Bá LinhGiấy chứng nhận gia đình liệt sĩ Đặng Bá Linh



Kỷ niệm chương Sư đoàn 330-338 cho cựu chiến binh Đặng Bá Linh.Kỷ niệm chương Sư đoàn 330-338
cho cựu chiến binh Đặng Bá Linh.



32 - CHU TẤN QUANG - Rực sáng tên anh! - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 142-146



CHU TẤN QUANG
Rực sáng tên anh!


Ghi chép theo lời kể của đồng đội
và mẹ liệt sĩ Chu Tấn Quang
KIẾN QUỐC

Quang sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Ba là ông Chu Tấn Đạt, người đã góp công xây dựng nên ngành quân giới Nam Bộ hồi kháng chiến 9 năm; mẹ là bà Trần Thị Ngọc Lưu – một cán bộ miền Nam tập kết. Đến tháng 10 năm 1965, khi chiến tranh chống Mỹ vào giai đoạn ác liệt trên phạm vi cả nước, Quang được tuyển chọn vào trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Những năm tháng học tập, rèn luyện trong môi trường quân đội đã tạo dựng trong anh bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng.

Cuối năm 1971, khi đang là sinh viên Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, Quang xung phong tòng quân chống Mỹ. Vì ba anh đang tại ngũ nên Quang chưa phải đi đợt này, nhưng anh đã nằn nì với mẹ: Chờ học xong sợ sẽ hết giặc! Ngày 22 tháng 12 năm ấy, Quang đạp xe chở mẹ xuống tận Cầu Giấy, vào trường gặp thầy Thanh (Chủ nhiệm khoa Công nghiệp) để ký vào đơn, đồng ý cho con nhập ngũ. Ít ngày sau, Quang về khoe: “Hôm nay, con cùng anh em đã chích máu ký vào lá cờ truyền thống của Đoàn trường. Đợt này, 300 sinh viên các trường Sư phạm cùng 30 thầy giáo được biên chế về cùng một tiểu đoàn huấn luyện. Vui lắm! Anh trai của Hiền, bạn gái con ở phố Nhà Thờ, cũng đi đợt này. Mai tập trung…” Sáng mùng 3 tháng giêng năm 1972, các “tân binh Sư phạm” được thầy cô giáo, bạn bè và gia đình lưu luyến tiễn lên đường, hẹn ngày chiến thắng trở về. Trong số người đi tiễn, Quang thấy bóng Hiền đứng vẫy mãi.

Ngày 17 tháng giêng năm 1973, đơn vị lên đường vào Nam. Tết năm ấy, anh viết thư về báo tin đơn vị đang hành quân dọc Trường Sơn. Vượt qua gian khó, tiểu đoàn sinh viên đã vào tới Nam bộ, bổ sung cho sư đoàn 5. Tại đây, anh được biên chế vào đại đội 2, tiểu đoàn 4, trung đoàn 2.

Tuy thất bại nặng nề ở khắp chiến trường, giặc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam và rút quân về nước, nhưng chúng vẫn dùng ngụy quyền tiếp tục chiến tranh bằng kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng. Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan, nhất là khi phải đối mặt trực tiếp với lính ngụy. Vì thành tích chiến đấu, Quang được đề bạt trung đội phó. Cuối năm 1973, tại Bù Bông (thuộc tỉnh Quảng Đức cũ), trung đội anh được giao chốt giữ trên một quả đồi.

Anh em trong đơn vị luân phiên trực chiến, đánh trận trước, nghỉ trận sau. Đêm hôm trước vừa dẫn anh em đi dẹp mũi đánh nống ra của địch, lẽ ra hôm nay được nghỉ nhưng có đồng đội bị thương, anh xung phong trực thay. Có báo động, ba tiểu đoàn ngụy đang dàn quân lấn chiếm. Quang chỉ huy trung đội dàn trận và chặn đứng mũi tiến công chính diện của địch. Thừa thắng xốc tới, Quang xách AK xông vào đội hình giặc. Đồng đội thương vong gần hết, tương quan lực lượng chênh lệch. Không may, anh đã lọt vào vòng vây. Điểm xạ ba phát một, Quang nã gần hết ba băng mà địch vẫn đông như kiến. Vòng vây xiết chặt. Khẽ bóp cò, nghe tiếng “cạch” khô khốc. Hết đạn! Lạnh lùng bật chốt dương lê, anh sẵn sàng đánh giáp lá cà. Không quên “thất tuyệt kỹ” trong bài “đâm lê quyết thắng”, được thầy Trần Sinh dạy ngày còn ở trường Thiếu sinh quân cùng những bản lĩnh tôi luyện trong chiến tranh, mắt hằn lên những tia máu, Quang đã dùng lưỡi lê và báng súng hạ thủ ba tên địch. Vừa nhứ mũi lê sang bên trái thằng thứ tư thì nó nhanh tay đánh mũi súng gạt chéo xuống. Nhanh như chớp lật báng súng, anh chọc ngược mũi lê trúng tim. Máu ộc ra xối xả, hắn đổ vật xuống đất làm lưỡi lê gẫy đôi. Khi tên thứ năm xô từ sau tới, anh chỉ kịp ngồi thụp xuống. Thân nó nhào qua đầu. Và cuộc vật lộn bắt đầu… Đã mất quá nhiều sức trong trận giáp chiến. Mặc! Dùng hết sức quật ngã và đè lên người tên địch, thừa cơ anh cắn đứt cổ hắn. Tên địch cong người lên thở hắt. Hành động dũng cảm của chiến binh Việt cộng khiến những tên còn lại khiếp vía tháo chạy. Xa xa, tiếng súng AK của quân ta đang đến chi viện… Cũng đúng thời khắc ấy, một tên địch nấp sau bụi cây nhắm Quang siết cò. Tay phải Quang chỉ kịp đưa lên nơi trái tim, rồi tắt thở. Trời chạng vạng, lúc đó quãng 6-7 giờ tối ngày 29 tháng 12 năm 1973.

* * *

… Sau ngày toàn thắng, trung tá Chu Tấn Đạt được giao nhiệm vụ tiếp quản trường Quân cụ Gò Vấp (thuộc Tổng cục kỹ thuật tiền phương ngụy). Tháng 8 năm 1975, ngày trung đoàn 2, sư 5 tổ chức tổng kết chiến dịch, ông đã được mời dự cùng với Chính uỷ Trần Đăng Thạch. Trước lễ mừng công, đơn vị cử hai cán bộ mang theo sơ đồ mộ chí, đưa ông đi tìm mộ Chu Tấn Quang. Mới có hai năm mà trên mộ đã đùn lên một tổ mối lớn. Khi đào lên, thấy thi thể Quang còn nguyên vẹn, bàn tay phải vẫn đặt nơi trái tim, đồng đội và ông đã thắp hương chôn Quang lại vị trí cũ. Khi chia tay, đơn vị hẹn ngày bốc mộ tập thể sẽ báo cho gia đình.

Rồi chiến tranh biên giới, sư 5 lại lên đường… Cho đến giờ, 27 năm đã trôi qua vẫn không hề có một thông tin gì về Quang. Sau ngày ông Đạt mất, gia đình cùng đồng đội nhiều lần cất công lên Bù Bông tìm mộ phần của anh. Nhưng thời gian trôi qua, cảnh xưa đổi thay cộng với sự tàn phá của con người, việc tìm kiếm trở nên vô cùng khó khăn.

Các bạn khóa 6 đến thăm gia đình liệt sĩ Chu Tấn Quang

Các bạn khóa 6 đến thăm gia đình liệt sĩ Chu Tấn Quang

Nhân 27 tháng 7 năm nay, mấy đứa bạn thuở Thiếu sinh quân rủ nhau đến thăm gia đình. Mẹ Lưu đưa chúng tôi lên thắp nhang cho Quang. Di ảnh bạn đặt bên cạnh bảng vàng “Tổ quốc ghi công” cùng huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba. Mẹ tâm sự: “Sau ngày hy sinh, với hành động anh hùng của Quang, đơn vị có ý định lập hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng. Song nghe nói chưa đủ tiêu chuẩn vì khoác áo lính mới có 2 năm…”

- Thế còn 5 năm Thiếu sinh quân? – Ai đó thắc mắc.

- Mà thôi các con ạ, cái quý nhất là bạn bè, đồng đội và cánh lính sinh viên không quên Quang. Cảm phục trước hành động anh hùng của Quang, Phạm Ương - một lính sinh viên - đã sáng tác bài hát “Nhớ thương Chu Tấn Quang”. Ngày ông Đạt lên thăm đơn vị, trong đêm văn nghệ, hai anh Đức Cường và Hoàng Hải vừa khóc vừa đệm đàn cho Quốc Tuấn hát bài đó. Ba nó đã ghi băng cassette và gửi ngay ra Hà Nội cho gia đình, khi đó, cô và các em đang sống ở khu tập thể Cao-Xà-Lá…

Mẹ Lưu rưng rưng nước mắt bật máy cassette cho chúng tôi nghe lại bài ca. Đã 27 năm trôi qua, chất lượng băng từ đã giảm, nhiễu tạp nhiều nhưng vẫn nghe rõ lời ca:

Miền Nam quê hương anh,
lửa đấu tranh đêm ngày rực cháy
Cần Thơ quê hương anh, lửa hờn căm trút lên nòng súng
Đạn pháo quân xâm lăng tàn phá quê hương anh
Hờn căm đang chất lòng giục gĩa anh lên đường
Chu Tấn Quang ơi! Lưỡi lê anh chói ngời,
rực sáng tim muôn người cùng xông lên giết thù
Trận địa khắp nơi nơi dào dạt nhớ thương anh
– người chiến sĩ trung kiên bất khuất
Lưỡi lê căm hờn tỏa lên ánh thép,
bè lũ tay sai khiếp vía kinh hồn
Vì miền Nam yêu thưong, vì miền Nam quê hương,
trên tuyến đầu anh đứng hiên ngang
Từng phút giây hướng về Thủ đô thân yêu,
Bước trên đường quê hương chiến thắng
còn in dấu chân anh.
Chu Tấn Quang ơi, Chu Tấn Quang ơi!


Sài Gòn, đầu Thu 2002
K.Q


33 - Lá thư trước giờ ra trận - Ban biên tập, SRTKL2: 147-148



Lá thư trước giờ ra trận


BAN BIÊN TẬP

Chu Tấn Quang trước ngày vào chiến trường
Chu Tấn Quang trước ngày vào chiến trường
 

Cô Lưu, mẹ liệt sĩ Chu Tấn Quang, vừa gửi cho chúng tôi tấm ảnh của anh khoác trên mình bộ quân phục xuân hè, đầu đội mũ cối, trên vai đeo khẩu tiểu liên AK, chân xỏ dép cao su. Ảnh được chụp tại Nho Quan, Ninh Bình, trước ngày Quang lên đường đi “B”. Trông anh rắn rỏi, trưởng thành sau những ngày huấn luyện.

Và trước khi vào trận, anh đã viết về…

Đêm 16 tháng giêng 1973 - 2 giờ 30 phút

Ba má kính mến!

Sớm mai con lên đường đi chiến đấu. Thời gian tương đối gấp, đó là yêu cầu của chiến trường. Con không kịp báo tin về nhà cho ba má biết trước. Trước khi đi, con hứa với ba má sẽ luôn luôn làm tròn nhiệm vụ, làm đúng những điều dạy dỗ của ba má. Con sẽ xứng đáng là con của ba má.

Con mong ba má ở nhà mạnh khỏe. Ba thì công tác tốt, còn má thì mau khỏi bệnh.

Thôi con tạm dừng bút.

Con trai Chu Tấn Quang.

Đây là bức thư cuối cùng của liệt sĩ Chu Tấn Quang, gửi về cho gia đình ở Hà Nội.

Cuối năm đó, ngày 29 tháng 12 năm 1973, trong trận chiến đấu chống lấn chiếm của lính ngụy ở Bù Bông (tỉnh Quảng Đức cũ), người trung đội phó của chúng ta đã anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.

Sau đó, anh đã giương lưỡi lê gắn trên khẩu tiểu liên AK đánh giáp lá cà và tiêu diệt bốn tên địch như tấm gương dũng sĩ Hoàng Văn Nô ở mặt trận Điện Biên Phủ, trong kháng chiến chống Pháp. Lưỡi lê bị gẫy, anh tiếp tục quần nhau với tên giặc thứ năm. Với sức lực còn lại, lựa thế, bất ngờ anh đã cắn đứt cổ hắn. Khiếp vía trước tinh thần quả cảm của chiến binh cộng sản, quân địch tan tác. Nhưng một tên nấp từ xa đã nổ súng vào sau lưng anh. Chu Tấn Quang đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 21 tuổi.

 

B.B.T

 

34 - Từ một bức thư ngỏ - Ban biên tập, SRTKL2: 149-150



Từ một bức thư ngỏ


BAN BIÊN TẬP

Với trách nhiệm của những người còn sống, các bạn khóa 6, bằng cố gắng tối đa của mình, bằng mọi cách để tìm được mộ phần, hài cốt của những liệt sĩ.

1. Thư ngỏ gửi các bạn khóa 6

Đầu tháng 12 năm 2002, bạn Nguyễn Nam Điện tặng tôi một tờ Báo Quân đội Nhân dân có đăng tin tìm hai mộ liệt là đồng đội của khóa ta: Võ Nguyên Trọng và Chu Tấn Quang.

Tôi có thân quen nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đã tìm được hàng nghìn mộ liệt sĩ và cả những nhà cách mạng nổi tiếng như Lương Ngọc Quyến, nhà văn Nam Cao...…Tôi và Điện đến thăm gia đình Chu Tấn Quang, xin tấm ảnh bạn và gửi ngay ra Hà Nội cho cô Hằng. Có ảnh Quang, nhà ngoại cảm đã thắp hương, khấn bái và “nói chuyện” được với Quang. Đúng 22 tháng 12 năm ấy, cô Hằng gửi cho tôi lá thư ghi lại những gì Quang đã tâm sự, kèm theo sơ đồ nơi chôn cất Quang ở Bù Bông. (Chuyện quả là tâm linh và thần bí!). Những thông tin đó được chuyển ngay cho gia đình. Khi xem, em trai Quang đã thốt lên: “Đúng là nơi em đã nhiều lần tìm đến theo chỉ dẫn của đồng đội năm xưa. Vậy mà...”

Hôm nay, nhân dịp họp khóa, xin thông báo với các bạn tin này và đề nghị chúng ta hãy cùng gia đình tìm kiếm mộ phần của bạn.

Dương Thái Biên 1

2. Thư của nhà ngoại cảm

Ngày 20 tháng 12 năm 2002

Gửi anh Biên

Anh Quang vẫn nằm ở Bù Bông và rất mong gia đình, đồng đội lên thăm, bốc mộ anh đưa về Sài Gòn. Anh rất buồn vì suốt từ năm 1975 đến giờ, gia đình và đơn vị không quay trở lại. Mộ anh vẫn còn đó. Khi chôn lại vẫn có bia và đánh dấu bằng một hòn đá. Sau nhiều năm, khu vực này đã thay đổi, nhưng trên mộ anh có một bụi hoa rừng rất đẹp. Tiểu đoàn 4 đã có lần quy tập mộ liệt sĩ ở khu vực này. Nói với đồng đội của anh hãy liên hệ với tiểu đoàn 4, trung đoàn 2 để lấy sơ đồ mộ chí của anh.

Thưa các thầy, cô, các anh chị và các bạn trường Trỗi!

Hy vọng rằng, với những chỉ dẫn này, khóa 6 sẽ cùng gia đình tìm ra mộ phần liệt sĩ Chu Tấn Quang. Và nếu các khóa khác trong nhà trường vẫn còn những liệt sĩ chưa tìm được, nếu điều kiện cho phép, xin mời liên lạc với bạn Dương Thái Biên (điện thoại: 0903349009), để chắp nối với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Cô sẵn sàng giúp đỡ chúng ta làm những việc ân nghĩa này.

 
Sơ đồ tìm mộ của liệt sĩ Chu Tấn Quang
Sơ đồ tìm mộ của liệt sĩ Chu Tấn Quang



1  - Học sinh khóa 6.


35 - Thông tin về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng - Huỳnh Hồng K6, SRTKL2: 151-154



Thông tin về
liệt sĩ Võ Nguyên Trọng


HUỲNH HỒNG
Học sinh khóa 6

Đã nhiều lần, Ban Liên lạc phía Nam gửi tin nhắn tìm đồng đội trên Báo Quân đội Nhân dân, trên tạp chí “Sự kiện và Nhân chứng”, đã viết thư cho Phòng Chính sách quân khu 9 và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa nhưng không thấy hồi âm. Còn sư đoàn 1 (đơn vị của Trọng) thì đã giải thể. Vậy biết tìm đâu mộ bạn mình, trong khi gia đình Trọng thì hoàn toàn vô vọng và chỉ trông chờ vào chúng ta…?

Một chiều hè năm nay, chúng tôi nhận được lá thư từ một đồng đội của Trọng. Đó là cựu chiến binh Phạm Quang Thư 1, thượng tá, nguyên trưởng ban Chính sách Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa. Chúng tôi đã liên lạc với nhau. Qua những thông tin có được, xin ghi lại những gì về liệt sĩ Võ Nguyên Trọng.

… Sau khi rời trường Trỗi, Trọng về sống với gia đình ở thị xã Thanh Hóa. Ngày ấy ba Trọng, bác Võ Nguyên Lượng, đang là bí thư Tỉnh ủy. Vào đầu năm học 1970-1971, đất nước phải huy động thêm lực lượng chi viện cho chiến trường và Trọng cũng là một trong những thanh niên xung phong nhập ngũ. Bác Lượng rất ủng hộ, mặc dù có đủ lí do để Trọng được ở lại miền Bắc, tiếp tục học tập. Bác đã hành động đúng với lương tâm và trách nhiệm của người đứng đầu về Đảng ở tỉnh. Hành động ấy đã động viên các gia đình và thôi thúc hàng ngàn thanh niên, học sinh Thanh Hóa lên đường nhập ngũ. Trong những ngày luyện quân, bác đã đến thăm và động viên các chiến sĩ trẻ của tỉnh nhà.

Sau thời gian huấn luyện, Trọng được bổ sung vào trung đoàn 52 thuộc sư đoàn 320 (E52, F320). Khi đơn vị hành quân vào miền Tây Nam bộ, E52 được đổi sang phiên hiệu E46 (do đồng chí Bính là E trưởng, đồng chí Vỵ là E phó, đồng chí Minh là chủ nhiệm Chính trị) thuộc sư đoàn 1 (đồng chí Thương là chính ủy và đồng chí Tạ Lệnh là phó chính ủy). Đồng đội cũ cùng trung đoàn ở Thanh Hóa vẫn nhớ như in hình ảnh Trọng ngày đó rất thư sinh, đẹp trai, sống hồn nhiên, vô tư. Suốt thời gian cùng sống và chiến đấu, Trọng luôn được anh em trong cơ quan Tham mưu quý mến. Trọng cùng đơn vị lăn lộn trên đất An Giang, Kiên Giang, rồi rong ruổi khắp mặt trận Campuchia: Công-pông Chơ-năng, Công-pông Sư-pư, Cô Công... vào mùa khô năm 1971. Mỗi khi có dịp gặp nhau, anh em Thanh Hóa thường động viên nhau tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, truyền thống gia đình. Trọng còn kể nhiều về mái trường Thiếu sinh quân thân yêu.

Bao phen lênh đênh trong rừng tràm mùa nước nổi. Lúc bấy giờ tiểu đoàn 6 thuộc E46 có tình hình phức tạp. Hiếu - tiểu đoàn trưởng - vì không chịu được gian khổ đã chiêu hồi. Vì vậy ngày 5 tháng 6 năm 1972, Trọng được theo tháp tùng đồng chí Vỵ, E phó, xuống làm việc với Ban chỉ huy tiểu đoàn, đóng quân ở xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương. Chiều hôm đó, sau khi trở về Sở chỉ huy trung đoàn, Trọng tranh thủ xuống bếp lấy cơm cho cơ quan. Trên đường về thì bất ngờ bị pháo kích, Trọng không may dính mảnh đạn. Bị thương rất nặng nhưng Trọng không mất ngay mà còn được các bác sĩ trung đoàn cấp cứu. Bác sĩ Khiêm, người Hà Nội, đã dùng sơranh rút cả máu trên cánh tay mình để cứu Trọng nhưng… bất lực. Đêm hôm đó, Trọng mất và hôm sau được đơn vị mai táng tại nghĩa trang xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương, gần Ngã ba Hòn Chông. Sau đó chỉ ít ngày, trong trận chiến đấu bảo vệ thương binh khi địch càn vào bệnh xá, bác sĩ Khiêm cũng anh dũng hy sinh. …

Anh Thư còn cho biết đại tá Trương Ngọc Thống, nay là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Thanh Hóa và thiếu tá Nguyễn Viết Hoa, hiện nghỉ hưu ở xã Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ E46 đang sinh sống ở Thanh Hóa biết rất rõ về Trọng. Trong lá thư gửi về ngày 19 tháng 8 năm 2004, anh Phạm Quang Thư có viết:

Tôi thực sự xúc động khi nhận được lá thư tâm huyết của Ban Liên lạc trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Chưa gặp các anh nhưng tôi cảm thấy ấm lòng vì đã cung cấp cho các anh những thông tin rất đầy đủ về Trọng, bạn tôi.

Là con trai duy nhất trong gia đình, tôi vào chiến trường từ năm 1967 và đã bị thương tới ba, bốn lần. Cuối năm 1972 tại An Hưng tôi bị thương nặng, mãi sau ngày giải phóng mới ra Viện 108 mổ lại vết thương nhưng vẫn còn một đầu đạn AR-15 trong đùi. Dù sao thì mình vẫn còn sống, còn được về đoàn tụ với gia đình. Ấy là hạnh phúc hơn đồng đội đã ngã xuống rất nhiều!

Qua thư các anh, tôi cũng rất trân trọng và biết ơn trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã cống hiến cho Tổ quốc hai thầy giáo và 26 học sinh, trong đó có Võ Nguyên Trọng, người bạn, người em, người đồng chí thân thiết của tôi!

 

H.H

Cuối tháng 8-2004, Võ Hồng Vân, chị gái của Trọng, theo hướng dẫn của đồng đội, đã về chiến trường xưa tìm mộ phần của em. Lý Tấn Huệ (khóa 7) - giám đốc nhà máy xi măng Hà Tiên 2 - đã chu đáo sắp xếp chỗ nghỉ cho chị và tạo điều kiện đi lại. Vậy mà chưa thấy. Chúng tôi và gia đình cùng xác định: việc tìm kiếm còn rất nhiều khó khăn vì chiến tranh đã qua đi mấy chục năm….




1.  Nay anh nghỉ hưu tại 581 phố Cữa Hữu, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa (điện thoại: 037-757022).


36 - Nhớ Mạnh Minh - Nguyễn Hoàng Anh K6, SRTKL2: 155-162

Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh


Nhớ Mạnh Minh


NGUYỄN HOÀNG ANH *
Học sinh khóa 6

Tôi và Mạnh Minh cùng học lớp 4A, trường Bế Văn Đàn (Đống Đa, Hà Nội). Gia đình hai đứa lại ở cùng Nhà 2, khu tập thể quân đội Nam Đồng. Mạnh Minh có anh trai là Mạnh Quang học trên hai lớp. Mỗi sáng nghe tiếng huýt sáo, vừa thò mặt ra là thấy ngay cái miệng cậu ta đang toe toét cười dưới chân cầu thang. Hai đứa vừa đi vừa véo từng mẩu bánh mì bỏ vào miệng và nhẩn nha truy bài cho tới tận cổng trường.

Trong những ngày giặc Mỹ đánh phá điên cuồng ra miền Bắc, tôi và Mạnh Minh cùng được gọi lên trường Văn hóa quân đội mà sau này là trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, tuy không còn học chung một lớp. Một buổi tối mùa đông năm 1966, có chiếu phim ở Gốc đa Hiệu bộ. Hôm đó chiếu bộ phim lịch sử Trung Quốc có nhân vật Mạnh Tử 1. Chẳng hiểu Mạnh Tử có gì giống Mạnh Minh hay không mà sau khi xem về, cả lớp nhất loạt gọi bạn là Mạnh Tử (!).

Năm 1970, khi trường kết thúc nhiệm vụ đào tạo thì khóa 6 chúng tôi vừa học xong chương trình lớp 9 phổ thông. Cả bọn trở về gia đình. Cánh khóa 6 ở “quân khu” Nam Đồng còn có Nguyễn Quang Dũng và Phạm Quang Vinh (dân Nhà 8) cùng về học tại trường phổ thông cấp III Đống Đa. Sau này Dũng kể lại, Mạnh Minh còn là học sinh giỏi của khối lớp 10. Năm học 1970-1971 bạn được nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi Toán cấp thành phố. Nhưng chả hiểu sao, hay vì quý bạn hơn chuyện thi cử; sáng hôm đó, Minh đã không dự thi mà bỏ đi chơi cùng Dũng. Nghĩ lại, có lẽ đây là một đặc điểm “hơi bị dở” của “lính Trỗi” nhưng có nét đáng nể kiểu “Lương Sơn Bạc”. Rất ngang tàng và chí khí.

Thật đau lòng, một tai nạn giao thông khủng khiếp đã cướp đi cuộc sống của mẹ Mạnh Minh vào đầu năm 1971. Chín tháng sau ngày mẹ mất cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vào giai đoạn ác liệt. Như bao thanh niên cùng lứa, Mạnh Minh xung phong lên đường nhập ngũ. Trước ngày nhập ngũ một tuần, anh nhận được giấy báo trúng tuyển đề ngày 15 tháng 9 năm 1971 vào trường Đại học Cơ điện Bắc Thái. Mất mẹ chỉ còn lại bố, anh dồn hết tình cảm cho ông. Bố anh, một người lính từng tham gia hai cuộc kháng chiến, đã tâm sự: Là thanh niên khi đất nước có ngoại xâm thì phải đánh giặc, đánh giặc xong về học cũng chưa muộn. Nghe lời bố, anh đã mang cả tuổi xuân ra trận.

Mạnh Minh cùng đồng đội được sư đoàn 311 (Quân khu Thủ đô) huấn luyện tân binh tại vùng đồi núi Tân Lạc (Hòa Bình). Sau huấn luyện, các anh lên đường bổ sung cho Đoàn vận tải 559. Đơn vị đóng ở phía tây Trường Sơn (Nam Lào) để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược đầu năm 1972, nhằm tạo ra bước chuyển căn bản, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

… Cho đến một ngày giữa tháng 5 năm 2003, tôi được anh Mạnh Quang chuyển cho những lá thư của Mạnh Minh viết gửi bố dọc đường hành quân 2.

Ngày 27 tháng 2 năm 1972

Bố kính mến,

Như vậy là con đã đến đây được hai ngày. Hiện con ở Nam Hà, huyện Kim Bảng, xã Đại Cương, cách ga Đồng Văn khoảng 3km.

Tối mồng 8, thằng Vinh đèo con đến Đại Mỗ. Con ngủ đêm ở đó. Sáng hôm sau lại được gọi đi tiền trạm, tìm chỗ đóng quân cho đơn vị. Thế là con không còn dịp để về nhà thăm bố.

Ngày mai, chúng con được đổi quân trang, nhận các trang bị đi “B”. Sáng nay, bác Trần Duy Hưng 3 và một số cán bộ ở Bộ tư lệnh Thủ đô đến đơn vị con động viên và trao nhiệm vụ. Chỉ vài ngày nữa thôi là chúng con lên tầu đi chiến đấu, phải xa Hà Nội, xa miền Bắc, xa các em cùng tất cả bà con cô bác trong gia đình và hàng xóm. Từ giờ trở đi, con không còn thời gian để về thăm các em nữa đâu, bố ạ!

Trước khi đi xa, con cũng chẳng còn vướng mắc gì cả, rất an tâm và sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu mà Tổ quốc và nhân dân cần đến. Con sẽ hoàn thành nhanh chóng và tốt đẹp mọi nhiệm vụ được giao, không làm điều gì ảnh hưởng đến truyền thống của gia đình ta.

Chúc bố và cả gia đình mạnh khỏe. Bố cho con gửi lời hỏi thăm sức khỏe của tất cả bà con hàng xóm và các em.

Con của gia đình. Mạnh Minh.

TB: Tiếc quá bố ạ, chúng con không có hòm thư vì ở đây rất ít ngày.

* * *

Khăm Muộn – Chủ nhật, ngày 5 tháng 3 năm 1972.

Bố kính mến!

Chúng con vừa qua một đêm hành quân vất vả bằng ôtô từ Bố Trạch (Quảng Bình) đến Khăm Muộn (Nam Lào). Ngày kia sẽ có một đơn vị đến đây nhận quân. Các đồng chí đại đội trưởng và chính trị viên làm nhiệm vụ huấn luyện, sau khi giao quân xong sẽ tiếp tục quay ra Bắc làm nhiệm vụ huấn luyện quân mới. Con tranh thủ viết thư gửi về ngay cho gia đình.

Bây giờ chúng con ăn ngủ đều ở rừng, mà rừng ở đây cây rất to và cao, cành lá um tùm. Ở dưới đất thì ngược lại, rất ít cây, chỉ có cây con chứ không có cây rậm rạp. Để ở rất tốt nhưng rất nhiều muỗi, mới có 4 giờ chiều mà muỗi đã bay ra đầy.

Chỉ còn một ngày nữa thôi, chúng con tiếp tục hành quân, nhưng chưa biết đi đâu. Chắc là lại vào sâu vùng Đường 9 – Nam Lào. Từ nay trở đi, việc gửi thư của con cũng khó khăn hơn, bố ạ. Nhưng nếu có điều kiện là con sẽ viết thư về báo tin cho bố, bố cứ yên tâm. Con rất khỏe và sẽ viết thư cho bố.

Mong bố và các em khỏe.

Đứa con đi xa của gia đình. Mạnh Minh.

(Con phải gửi ảnh về cho bố vì ở đây chúng con không được phép mang theo ảnh).

* * *

Ngày 8 tháng 3 năm 1972.

(Lá thư thứ hai kể từ khi sang đất Lào).

Bố kính mến!

Sau hai ngày không viết thư về cho gia đình, con thấy nhớ quá bố ạ. Con tin chắc lá thư thứ nhất thể nào bố cũng nhận được vì nó gửi qua mấy cán bộ đại đội được ra Bắc.

Bố ạ! Lẽ ra đại đội con sẽ cùng tiểu đoàn hành quân bộ vào “B”, sẽ vào tận Tây Ninh, nhưng cấp trên lại rút một đại đội ra để đi làm một nhiệm vụ khác. Không biết là nhiệm vụ gì (thư sau con sẽ nói rõ), chỉ biết chúng con hành quân toàn bằng ôtô. Chỉ ba ngày nữa là chúng con đến vị trí tập kết.

Dọc đường hành quân thật là nguy hiểm. Có chỗ xe chúng con phải vượt qua những vùng đất trống, nơi đó máy bay B52 đã quần nát, cây cối trơ trụi. Trong khi máy bay trinh sát OV-10 và máy bay phản lực quần đảo thì xe chúng con vẫn cứ đi. (Con cũng chả hiểu vì sao mà nó không bắn?!).

Hành quân bằng xe như vậy cũng chẳng sướng gì, bố ạ. Hôm đầu phải đi bộ 2 tiếng đồng hồ mới tới nơi đỗ xe, phải chờ đến 9 giờ đêm, xe mới bắt đầu chạy và đến 10 giờ sáng hôm sau xe mới tới vị trí nghỉ chân. Sau đó, bọn con nghỉ đến 4 giờ sáng mới lên xe đi tiếp và 10 giờ sáng nay thì đến đây, chờ sáng sớm mai lại lên đường...…

Ăn uống ở đây cũng rất khổ, chỗ lấy nước cách chỗ ở hơn 1km, cơm ăn từ hôm sang Lào đến nay không có lấy một ngọn rau. Thèm rau vô kể ... Đời bộ đội khổ thì rất khổ, nhưng vẫn lạc quan và yêu đời...

Con vẫn khỏe nhưng gầy đi nhiều, đen hơn và nhớ bạn bè, nhớ gia đình, nhớ bà con hàng xóm lắm lắm! Con giờ chỉ có thời gian để viết thư cho bố thôi, nếu rỗi, con sẽ viết thư cho anh Quang. Con đang thiếu ngủ và rất cần ngủ, bố ạ. Con đã quầng thâm cả hai mắt rồi.

Bố cho con gửi lời hỏi thăm sức khỏe của anh Quang và hai em cùng bà con cô bác trong gia đình và hàng xóm.

Đứa con đi xa của gia đình.

Mạnh Minh.

* * *

Ngày 21 tháng 3 năm 1972.

Bố kính mến!

Bức thư này là bức thư thứ tư kể từ khi con sang đất Lào.

Trong suốt quãng đường hành quân bằng ôtô rất vất vả, rất bẩn nhưng rất an toàn. Đoạn nguy hiểm nhất là đoạn vượt qua Đường 9, vì đó là một bãi trống, cây rất thấp mà bụi nhiều, hôm đó OV-10 bay liên tục không nghỉ. Vào khỏang 9 giờ sáng, đoàn xe của chúng con có trên 10 chiếc chở cả gạo lẫn người đi qua Đường 9. Xe của con là chiếc thứ hai, vượt qua Đường 9. Sau 15 phút, máy bay trinh sát phát hiện đã gọi phản lực đến ném bom. Lúc con đang nhẩy xuống xe để tránh thì một quả bom nổ cách con 500m, làm cháy một chiếc xe của đoàn bạn đang trên đường. Máy bay phản lực quần đảo đến 30 phút nữa nhưng không làm cháy thêm chiếc nào và không ai bị thương, mặc dù chúng thả rất nhiều bom. Ngày hôm đó, chúng con phải đợi đến 5 giờ chiều mới đi được.

Bố ạ! Hiện nay con đang ở Đoàn 559, sư 471, Đoàn vận tải Quang Trung và ở trong Binh trạm 46, thuộc tỉnh Saravan. Nhiệm vụ của chúng con chưa rõ lắm, nghe đâu tạm thời đứng gác máy bay ban ngày để báo cho các đoàn xe vận tải biết mà tránh. Ở đây, đa số máy bay trinh sát hoạt động ban đêm, còn ban ngày thỉnh thoảng có L-19 và OV-10.

Nói chung, ở vị trí này mùa khô rất an toàn mặc dù đây là vùng được giải phóng mới hơn một tháng. Thị trấn Saravan cách chỗ con đóng quân hơn 4 tiếng đi bộ và xung quanh đều có dân Lào sinh sống. Nghe nói bọn phỉ ở Lào hoạt động mạnh vào mùa mưa, nên vào mùa mưa chúng con phải cẩn thận hơn.

Ở đây ăn uống, sinh hoạt đều khó khăn: không có rau xanh và thịt tươi; chỗ tắm và chỗ ăn là hai vũng nước đọng của con suối cạn, rất nhiều nòng nọc và rác bẩn. Được cái, gạo và củi ở đây rất dồi dào,ăn no nhưng phải đề phòng lửa và khói.

Chúc bố và các em mạnh khỏe, công tác tốt.

Đứa con đi xa của gia đình. Con Mạnh Minh.

TB: Con vẫn khỏe và an tâm công tác. Bố cứ yên tâm.

(Bức thư này có lẽ về nhà trước bức thư thứ ba vì con gửi qua người về Hà Nội).

* * *

Chỉ vài ngày sau, trong trận chiến đấu ác liệt, đảm bảo cho mặt trận, anh bị trúng đạn, được đồng đội sơ cứu. Điều kiện chiến trường ác liệt và thiếu thốn, không cứu được đôi chân; tại trạm quân y tiền phương, các bác sĩ buộc phải ra quyết định cắt bỏ và chuyển anh về tuyến sau. Gọi là “tuyến sau” nhưng Quân y viện 4 nằm không xa mặt trận, thương binh phải nằm hầm và hàng ngày phải hứng chịu những trận mưa bom ác liệt. Vào ngày 25 tháng 3, báo động B52! Quân y viện chỉ toàn y, bác sĩ với những thương binh nặng thì làm sao có thể cơ động đội hình tránh rải thảm. Bất lực! Cả viện nằm gọn trong vệt bom. Khói lửa mù mịt, hàng trăm quả bom nổ trúng đội hình. Mạnh Minh cùng hầu hết các thương, bệnh binh và y, bác sĩ đã hy sinh anh dũng.

Ít lâu sau nghe tin đau thương này, tôi không còn tin ở chính tai mình. Chả lẽ đó lại là sự thật? Tôi không làm sao quên được thằng bạn đẹp trai, hiền lành và rất vui tính. Người như Mạnh Minh sao mà chết được!? Tôi ngẩn ngơ mấy tháng trời thương nhớ bạn. Minh hy sinh khi còn quá trẻ, chưa tròn tuổi 19!

Trong số năm lá thư đã gửi về, gia đình không nhận được lá thư thứ ba (có thể người mang thư đã hy sinh dọc đường ra Bắc). Còn lá thư đề ngày 21 tháng 3 năm 1972, chính là lá thư cuối cùng của anh. Tôi đã khóc khi cầm trên tay chiếc phong bì thư Mạnh Minh gửi về từ mặt trận. Ở mặt trước có dán con tem bưu chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một góc phong bì đã xé nhưng chữ còn đọc được:

phong bì thư Mạnh Minh gửi về từ mặt trận
“… i xa

Kính gửi: Bố
     Nhà 2, buồng 49
               Khu tập thể Nam Đồng
                    – Hà Nội”

Mặt sau bì thư thấy in dấu bưu chính nhưng không rõ ngày và còn lưu lại nét chữ của Mạnh Minh:

“Tôi! Đứa con đi xa của gia đình.
                          *      *
                             *

Cảm ơn tất cả cô bác và các đồng chí nào đã mang lá thư này của tôi ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa thân yêu của tôi và đến tay gia đình tôi.

CÁM ƠN & RẤT CÁM ƠN!

Người đi xa. Mạnh Minh.”

Xin nghìn lần cảm ơn bạn đã chiến đấu và hy sinh để chúng tôi được sống đến ngày hôm nay! Mạnh Minh thân yêu, bạn sẽ sống mãi trong lòng chúng tôi!

Nhắn với anh em trường Trỗi: ai có dịp qua Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, xin nhớ ghé thăm Mạnh Minh. Tại khu dành cho những liệt sĩ thuộc quận Đống Đa (Hà Nội) có một nấm mộ với tấm bia ghi rõ: “Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh – Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1953. Quê quán: Đống Đa, Hà Nội - Hy sinh ngày 25 tháng 3 năm 1972, tại mặt trận phía Nam”.

N.H.A




*   Bác sĩ chuyên khoa 2 Phẫu thuật thần kinh Viện 115, thành phố Hồ Chí Minh.
1.  Khổng Tử sống thời Xuân Thu-Chiến Quốc (Trung Quốc), có tới 3000 học trò. Mạnh Tử là học trò xuất sắc của Tử Tư – một môn đồ của Khổng Tử. Mạnh Tử có công nâng cao và phát triển lí luận của Khổng Tử nên Đạo Nho sau này có tên là “Học thuyết Khổng-Mạnh”.
2.  Đã trích đăng trong “Tuổi trẻ Chủ nhật”, ngày 25-5-2003.
3.  Bác sĩ Trần Duy Hưng, cố Chủ tịch Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội cùng cán bộ đến động viên các đơn vị, có chiến sĩ là con em Thủ đô.


37 - Tâm linh - Lan Phương, SRTKL2: 163-164

Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh


Tâm linh


LAN PHƯƠNG ghi

Nguyễn Mạnh Quang, một người bạn cũ đang là sĩ quan quân đội, có kể lại chuyện tình cờ tìm thấy mộ liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh, em trai mình, như sau:

“… Những năm 70 thế kỷ trước, gia đình tôi nhận được giấy báo tử chỉ vẻn vẹn mấy dòng chữ: “Đồng chí Nguyễn Mạnh Minh, hy sinh ngày 25-3-1972 tại Mặt trận phía Nam”. Bao nhiêu năm đã trôi qua, cứ đến ngày em hy sinh ghi trong giấy báo tử là gia đình lại tổ chức giỗ. Giá mà biết em đang nằm ở đâu trên Tổ quốc này để được một lần đến thắp hương.

Cách đây hơn hai năm, khi đọc báo Hà Nội Mới thấy có bài ghi lại chuyến viếng thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn của Viện Vệ sinh dịch tễ. Tác giả viết về cảm xúc khi thăm mộ của các liệt sĩ thuộc khu Đống Đa, trong đó có kể tên Nguyễn Mạnh Minh và đồng đội. Vợ chồng tôi lập tức tìm đến với Báo và cuối cùng tìm được địa chỉ anh Phong, một bác sĩ của Viện - tác giả bài báo. Khi gặp, anh Phong kể lại chuyện đã xảy ra:

- Tôi vốn là dân Đống Đa, trong chuyến viếng thăm Nghĩa trang Trường Sơn, tôi có chủ ý tìm đến thăm mộ của anh em cùng khu. Thật khéo sắp xếp, không hiểu sao mấy ngôi mộ của anh em ở Khu tập thể quân đội Nam Đồng thuộc Đống Đa lại nằm sát bên nhau. Khi bật diêm thắp hương cho các anh thì bỗng thấy người rạo rực và trên áo mình có vệt nám đen như bị bén lửa. Mà ngọn lửa cách ngực cả một cánh tay. Ngạc nhiên quá, tôi đã tự hỏi: “Lẽ nào đó lại là sự thật?”. Linh tính mách bảo có điều gì khác thường! Chờ cho nhang bén lửa, tôi cúi xuống cắm ba nén vào bát nhang của ngôi mộ gần nhất thì thấy trên tấm bia mộ có dòng chữ “Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh. Sinh ngày 20-8-1953. Quê quán: Đống Đa, Hà Nội. Hy sinh ngày 25-3-1972, tại mặt trận phía Nam”.

Sau khi cắm xong nhang cho các đồng đội, tôi lấy máy ảnh chụp ngay mộ các anh. Về Hà Nội, tôi viết bài kể tên các anh gửi cho Báo. Hy vọng nếu gia đình Minh và các gia đình khác chưa biết các anh đang nằm ở đâu thì đây cũng là dịp... Chuyện là vậy! Thật là may, thông tin đó đã đến được với gia đình.

- Cảm động quá! – Mạnh Quang rân rấn nước mắt – Chúng tôi ngàn lần xin cảm ơn anh! Qua anh mà vợ chồng tôi biết được em nó đang nằm ở đâu trên mảnh đất này, điều mà mấy chục năm nay chúng tôi hằng mơ ước. Không biết nói gì hơn... xin cám ơn anh!

- Có gì đâu anh Quang. Chúng tôi phải cám ơn gia đình anh, gia đình những liệt sĩ mới phải, vì có liệt sĩ và có các gia đình liệt sĩ thì chúng tôi mới được sống như ngày hôm nay. Việc làm của tôi cũng là sự trả ơn, anh ạ! Còn cái áo tôi mặc hôm ấy tôi treo trong tủ làm kỷ niệm. Thiêng liêng lắm!”

20-8-2003, ngày Mạnh Minh tròn 50 tuổi
L.P



 

38 - Sẻ chia - Phạm Nhất Trung K5, SRTKL2: 165-169



Sẻ chia


PHẠM NHẤT TRUNG *
Học sinh khóa 5

Tháng 6. Chiều đang về trên Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Nắng đã sắp tắt. Gió lồng lộng từ phía biển thổi vào. Khói từ những nén nhang mới thắp trên những nấm mộ liệt sĩ xuôi theo chiều gió tạo nên làn sương mờ ảo. Một cô gái đang quỳ gối trước mộ liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh, mắt rưng lệ, hai tay chắp lại, miệng thầm khấn cho anh mãi yên nghỉ và phù hộ cho những người còn sống.

 Cô giáo Nguyễn Thị Bích Liên trước mộ liệt sĩ Nguyễn Mạnh MinhCô giáo Nguyễn Thị Bích Liên trước mộ liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh

Đó là Nguyễn Thị Bích Liên, cô giáo dạy Văn ở trường phổ thông cơ sở Lê Lợi thành phố Quy Nhơn. Là con nhà lính, năm 1954, gia đình tập kết ra Bắc. Đầu năm 1961, ba Liên quay về miền Nam chiến đấu, đến năm 1964 đã anh dũng hy sinh. Là giáo viên Văn, Liên rất yêu quý hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ trên sách báo và trong những bài giảng. Đặc biệt năm rồi, cô thực sự xúc động khi được anh trai cho đọc cuốn “Sinh ra trong khói lửa”. Cô đồng cảm với những gì các anh trường Trỗi đã viết. Ngày nhà trường tổ chức du khảo thì Kim Loan, một đồng nghiệp, vì bận việc không tham gia được, đã từ Thành phố Hồ Chí Minh gửi ra lá thư kèm theo tờ Tuổi trẻ Chủ nhật có bài “Nhớ liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh”. Qua Loan, các anh trường Trỗi nhờ Liên khi ra Quảng Trị cố tìm cho được mộ anh Minh. Trước khi xe chạy, anh Cảnh dặn thêm: “Minh là bạn học cùng khóa, hy sinh đã hơn 30 năm. Tìm được mộ, nhớ thay anh thắp hương… Hình như vì còn khó khăn nên gia đình chưa có dịp vào thăm Minh.”

Trong chuyến du khảo, Liên cùng thầy cô sẽ qua thăm cố đô Huế, động Phong Nha và Nghĩa trang Trường Sơn. Nhận trách nhiệm lớn lao này, suốt dọc đường, lúc nào Liên cũng chăm chăm nghĩ về anh Minh. Thật là thương! Anh hy sinh khi vừa 19 tuổi. Ngày ấy còn trẻ quá, anh chưa vợ con, thậm chí chưa hề biết đến cảm giác rung động khi cầm tay người bạn gái!… Khi dừng chân ở Huế, cô đã xúc động đọc cho cả đoàn nghe những lá thư cuối cùng của anh đăng trên mục “Những bức thư thời cứu nước”.

Trên đường về, đã 3 rưỡi chiều, đoàn chỉ còn cách Nghĩa trang Trường Sơn 18km, thấy mây đen kéo đến đầy trời. Sợ mưa, một số có ý muốn đi thẳng nhưng ai đó đã nói: “Phải đến chứ, vì một đồng nghiệp đã nhờ chúng ta viếng giùm mộ người bạn”. Thế rồi xe thẳng tiến. Tới nơi, lần theo thông tin đã ghi trong sổ tay, cô tìm về khu các liệt sĩ thuộc quận Đống Đa (Hà Nội). Thật may, Liên gặp chị Hồng, một quản trang rất giàu tình cảm, nhờ tìm mộ. Mộ anh ở ngay trung tâm nên dễ tìm. Vừa đọc thấy tên anh trên tấm bia mộ, trong cô trào lên cảm xúc của người em gái tìm thấy anh trai sau bao nhiêu năm lưu lạc. Không cầm được nước mắt, cô gục đầu xuống mộ. Phải một lát mới tĩnh tâm lại được. Tay Liên run run quẹt diêm mãi mới thắp cho bó nhang bén lửa. Cô cắm ba nén lên bát nhang trên mộ anh, rồi cả đoàn lần lượt vào thắp nhang. Liên vừa lau nước mắt vừa len lỏi giữa các hàng mộ cắm cho các đồng đội quanh anh. Chị Hồng ngày nào cũng được chứng kiến những hình ảnh xúc động như vậy mà vẫn không cầm được nước mắt:

- Anh trai em đấy ư?

- Không, bạn học của anh em… Em thay mặt anh...

- Yên tâm đi, chúng tôi cũng là những cựu chiến binh sẽ thay gia đình hương khói cho các liệt sĩ.

- Gia đình anh Minh ở tận ngoài Hà Nội, bạn bè cũng ở xa… em xin gửi chị ít tiền để lo hương hoa cho anh vào ngày rằm, mùng một.

- Ấy chết, đấy là trách nhiệm và Nhà nước cũng đã có chính sách...

Nói mãi chị nhất quyết không nhận… Lúc xe chạy rồi, Liên vẫn giàn giụa nước mắt.

Sau chuyến du khảo trở về, cô giáo Liên lúc nào cũng tư lự. Một nỗi buồn man mác. Cô hình dung lại cảnh Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn bát ngát, có hàng vạn nấm mộ nằm bạt ngàn trên những quả đồi. Hàng vạn chiến sĩ đã nằm lại nơi chiến trường ác liệt, hàng nghìn liệt sĩ có danh nay lại thành khuyết danh và có lẽ cũng không ít mộ liệt sĩ chưa một lần được gia đình đến thăm. Mà cả đất nước này đâu chỉ có một Nghĩa trang Trường Sơn! 1

Ngày Kim Loan vừa từ Thành phố trở về, Liên đem ngay chuyện chuyến đi kể lại: “Trước khi đi nhận được thư bà, tôi thấy nặng nề quá. Mà lo nhất, lỡ mà… Ai mà biết trước. Có điều ai cũng ngạc nhiên, anh Minh đâu phải là anh ruột mà sao Liên khóc ghê quá…”. Vừa nghe, nước mắt đã lồng quanh, Loan nghẹn ngào: “Mình mà được đi chuyến ấy, chắc cũng vậy, vì Liên là em trường Trỗi thì mình cũng là dâu trường Trỗi đấy chứ!”

 

Quy Nhơn, hè 2003
P.N.T

 

Khi bài vừa lên trang, Ban biên tập đã nhận được thư của cô giáo Loan gửi về. Cuối thư có đoạn: “Đây là điện thoại của chị Hồng ở Nghĩa trang Trường Sơn, em ghi để thỉnh thoảng anh gọi ra cảm ơn chị ấy. Em định 27 tháng 7 này sẽ gọi ra thăm hỏi, chúc sức khỏe để động viên chị ấy ở nơi khó khăn của Tổ quốc. Chị Đoàn Thị Hồng, 053.883378...”. Chiều 19 tháng 7, chỉ còn hơn tuần lẽ nữa là đến Ngày thương binh, liệt sĩ, tôi đã bấm điện thoại theo số Loan dặn. Hai, ba lần chuông reo. Không ai nhấc máy... Chắc giờ này, tay cầm bó nhang đã bén lửa, chị đang len lỏi giữa những hàng mộ chí. Xin cảm ơn chị Hồng và những đồng nghiệp đã và đang thay mặt gia đình và chúng tôi chăm sóc, thăm nom mộ Mạnh Minh và đồng đội! 

Cuối năm 2003, Trần Chí Thọ trong chuyến đi dọc Trường Sơn đã tạt qua đây. Khi đứng trước mộ Mạnh Minh đã bấm máy gọi cho tôi. Lại có một bạn Trỗi đến thăm Minh.

Rồi một cô bạn, công tác ở Tổng cục Kỹ thuật, khi vào làm việc ở Quảng Trị, đã nhắn tin về: “Hôm qua, vào Nghĩa trang Trường Sơn, tìm được mộ anh Mạnh Minh (sinh năm 1953, nhà ở Khu tập thể Nam Đồng), em đã thắp hương cho bạn Trỗi các anh, có cả hoa huệ nữa...…”

Ngày 19 tháng 7 năm 2004, Hữu Thành email về cho Ban Biên tập: “Thứ Bảy, tôi đi thăm đường Hồ Chí Minh, đoạn A Lưới đến Đồng Hới. Có ghé qua Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn viếng các liệt sĩ và thắp hương cho Nguyễn Mạnh Minh. Lần sau ai qua nhớ mang theo hộp sơn đỏ để tô lại chữ trên bia mộ Minh và đồng đội!”.

Vậy là Mạnh Minh vẫn được sống trong tình anh em...

 


*   Trung tá, đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông, thành phố Quy Nhơn.
1.  Theo thống kê đến ngày 27-7-2003: Cả nước có gần 3.000 nghĩa trang liệt sĩ và mới quy tập được 886.700 mộ liệt sĩ, trong đó 132.700 mộ do gia đình trực tiếp chăm sóc. Hiện còn trên 300.000 liệt sĩ chưa tìm được phần mộ hoặc có mộ nhưng còn khuyết danh.


39 - Những lá thư của liệt sĩ Y Hòa - Minh Phượng, SRTKL2: 170-179



Những lá thư của
liệt sĩ Y HÒA


MINH PHƯƠNG thực hiện

Sau Tết Quý Mùi, nhận được cú điện thoại của Nguyễn Hữu Hà (khóa 7) từ trên Buôn Mê Thuột báo về đã gặp Y Nguyên – Võ Động Sơn. Giờ bạn là Hiệu phó trường Đại học Tây Nguyên. Tôi mừng quá, quay ngay số máy di động 0905159908 thì nghe tiếng trả lời: “Y Nguyên đây… “

- Có nhớ chúng tao không? K., P. đây.

- Nhớ chứ, nhớ khóa 5 trường Trỗi lắm.

Thế là xa nhau đã 35 năm. Ra trường, Y Nguyên về học Đại học Nông nghiệp ở Trâu Quỳ, Gia Lâm. Nghe nói, sau đó có đi nghiên cứu sinh ở Hungary rồi về dạy ở Đại học Tây Nguyên. Tôi hỏi thăm về liệt sĩ Y Hoà, em trai Y Nguyên, thì được kể lại: “Y Hoà xung phong đi bộ đội và năm 1972 thì vào mặt trận Quảng Trị. Chiến trường ác liệt quá, Hòa hy sinh. Gia đình cũng chỉ được báo tử chứ không biết mộ phần ở đâu. Tìm kiếm mãi không có kết quả, sau này gia đình ra Quảng Trị, lấy về ít đất ở mặt trận, đưa vào Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắc Lắc. Coi đó là hài cốt của em…” Vậy là cho đến giờ, thầy trò chúng ta mới biết được sự thật về tin “hoàn thành việc bốc mộ của Y Hòa” mà bác Y Wang, mẹ liệt sĩ, đã viết trong thư gửi Hội trường năm 1995 1. Thật cảm động!

Để lấy tư liệu cho cuốn sách, Ban Biên tập đã đề nghị gia đình cung cấp cho các thư từ, bút tích của liệt sĩ. Và gia đình đã giúp chúng ta gặp lại bạn trong những ngày cách đây đã hơn 30 năm 2.

 

Ngày 11 tháng giêng năm 1972 

Ba má thương mến!

Thế là sau hai ngày hành quân với hơn 60 cây số, hôm nay đơn vị con đã đến nơi đóng quân. Vào bộ đội, quả thực sau mấy ngày đầu con đã thấu rõ cái nặng nhọc, vất vả của nó. Trước mắt còn bao nhiêu khó khăn, gian khổ, con đã xác định cho mình rất rõ ba má ạ. Con hành quân rất khỏe và không bị tụt lại đằng sau. Con đã được tiểu đội đề nghị khen ở trung đội. Hùng, con chú Nông, được gửi giấy khen về gia đình vì có tinh thần đồng đội. Ba má ạ, con xin hứa trong cuộc thử sức tới (lấy củi, làm nhà, luyện tập quân sự) sẽ làm thật tốt để xứng đáng là con của ba má.

Trong mấy ngày hành quân vừa rồi, mỗi khi mệt là con lại sực nhớ tới lời ba má dặn dò và cảm thấy sức lực mình tăng lên gấp bội. Khó khăn sẽ còn nhiều, trước mắt là vô vàn gian khổ nhưng con xin thề quyết tâm phấn đấu vượt qua, ba má ạ. Con quyết chí xin ra nơi tuyến lửa ác liệt nhất để đọ sức với quân thù sau 3 tháng huấn luyện, chứ không muốn ở nơi nào không được đánh giặc.

Cuộc sống ở bộ đội rất vui ba má ạ. Tuy có khó khăn gian khổ, có lúc no lúc đói, song con rất vui vì đã thực hiện được ước mơ của đời mình. Ba má ạ, dù có phải ăn cơm ngô, cơm mì, uống nước mương nhưng con vẫn cảm thấy mình rắn rỏi hẳn lên. Nào leo đèo, lội suối, vác nặng mà con không cảm thấy mệt. Ba má hãy vui với sự trưởng thành của con, ba má nhé! Cho con gửi lời thăm anh Nguyên, chị Thanh và các em. Tiểu đội trưởng của con gửi lời thăm gia đình.

Cuối cùng con chúc ba má mạnh khỏe, yên tâm công tác. Còn con sẽ quyết tâm rèn luyện thật tốt để xứng đáng là đứa con ngoan của gia đình.

Con của ba má. Y Hòa.

Hòm thư của con: 643134 JC13

 * * *


 Hòa Bình, ngày 28 tháng 2 năm 1972

Ba má kính mến!

Hôm nay con viết thư cho ba má. Điều trước tiên con muốn báo tin là chúng con luyện tập rất khẩn trương và hình như sẽ hành quân vào trước mùa mưa năm nay. Vừa rồi Thái Hòa và Lương Hoà đã qua học A trưởng bên trường quân chính. Giờ chỉ còn lại con, Chấn Hưng và Sơn thôi. Thằng Hưng cũng được đi học nhưng nó viết đơn xin ở lại, vì đi học để làm cán bộ khung huấn luyện tân binh chứ không được đi B. Số con may nên không có tên trong danh sách đi học. Nghe A trưởng nói là cuối tháng 3 sẽ được về phép. Nhưng cũng có thể có lệnh là đi ngay chẳng kịp về nhà nữa. Nếu được về phép mười ngày thì hành quân từ đây về Hà Nội đã mất hai ngày, chỉ được nghỉ sáu ngày vì mất bốn ngày đi đường.

Sang tuần sau, khoảng ngày mùng 3 tháng 4, chúng con sẽ bắn đạn thật. Ngày mùng 5 sẽ đi dã ngoại lên Tân Lạc, đến cuối tháng 3 thì trở về và có thể được nghỉ phép, ba má ạ.

Ở đây, dạo này ngày nắng chói chang. Tập ngày tập đêm khá mệt nhưng người khỏe ra. Con quyết tâm chiến đấu thật dũng cảm để làm vẻ vang cho gia đình ta. Tuy còn một số khuyết điểm nhưng con sẽ sửa chữa ba má ạ.

Cuối thư con nhắn má mua cho con mấy cái ruột bi và gửi cho con cái ảnh gia đình ta vì sợ không được về phép, ba má ạ. Má mua cho con mấy cái tem nữa. Chỉ thế thôi.

Cuối cùng con chúc ba má, anh Nguyên, chị Thanh và các em mạnh khỏe.

Con của ba má. Y Hòa.

 * * *

 Thanh Hóa…...

Ba má kính mến!

Qua bảy ngày hành quân, hôm nay con đã đến Thanh Hóa. Đường đi rất gian khổ. Vừa đi tầu, đi bộ, đi xe. Đêm nay bọn con tiếp tục hành quân bằng xe. Thế là đã cách Hà Nội 200km rồi má ạ. Máy bay Mỹ ném bom nát bét và quần suốt ngày suốt đêm. Hôm đến Ninh Bình bọn con phải đi chuyển đạn trong khi máy bay Mỹ gầm rít điên cuồng. Lúc ấy cũng sợ. Toa chở đạn pháo hạng nặng bị trúng bom nổ suốt đêm. Thanh niên xung phong đến nhưng không dám vào cứu. Hai trung đội của con được tiểu đoàn điều đến.

Không còn bao lâu nữa là bọn con sẽ vào đến vùng giải phóng của miền Nam và được tham gia chiến đấu. Sẽ biết thế nào là gay go ác liệt.

Ba má yên tâm, khi về đến đơn vị mới con sẽ viết thư về báo hòm thư. Ba đứa ở cơ quan mình vẫn mạnh khỏe. Ở nhà chắc đi sơ tán hết rồi ba má nhỉ? Con đi xa nhưng cũng rất lo cho nhà ta vì bây giờ nó đánh phá mạnh lắm.

Tình hình như vậy. Tiền con còn 10 đồng, lạp xường vẫn còn và cá hộp của má cho thì hôm nay đục ra ăn. Chiều tối nay là bọn con tiếp tục đi và có thể đến Hà Tĩnh. Toàn đi đêm, ngày thì lăn ra ngủ, mặc cho máy bay gầm rú. Dọc đường gặp những đoàn xe chở thương binh từ trong Nam ra nhiều. Xe cộ tấp nập.

Thôi con tạm dừng bút nhé. Chúc ba má và cả nhà mạnh khỏe. Cho con gửi lời thăm cô Thống, chú Ái Phương, cô Quế. Má báo là con vẫn khỏe và quyết tâm chiến đấu đến ngày toàn thắng.

Con của ba má.

 * * *

 Ngày 12 tháng 7 năm 1972

Ba má kính mến!

Con đã đến địa điểm giao quân. Như vậy là sau 12 ngày hành quân, hôm nay con đã trở thành lính của sư 312. Đơn vị mới của con sẽ vào sâu trong Nam, ba má ạ. Sẽ có thể đi qua Tây Nguyên và dừng ở đó một, hai tháng.

Ba má ơi, thế là từ nay con đã vào trong tuyến lửa và được chiến đấu thực sự rồi. Nhưng cũng có điều buồn vì bị xé lẻ không được ở cùng thằng Sơn và Chấn Hưng nữa. Sơn nó buồn lắm. Bọn con hình như bị điều đi đơn vị khác và về hậu cứ thì phải. Con và Vũ Trung cùng một số con em cán bộ trở về sư bộ. Con đang lo nếu không được chiến đấu thì chán lắm. Chỉ sợ lại làm lính thông tin thôi. Mong sao được đi chiến đấu thì sướng. Hiện bọn con đang ở đầu cầu của miền Bắc, mấy hôm nữa sẽ vào Quảng Trị. Hôm nay, cán bộ khung huấn luyện quay trở ra nên con viết thư này nhờ Chính trị viên phó đem ra.

Ba má kính mến! Hiện giờ sức khỏe của con rất tốt. Được cấp phát nhiều thứ nên ba-lô rất nặng. Máy bay vẫn quần đảo nhưng chưa bị bom trận nào. Chúng con đóng quân bên một con sông lớn, nước rất mát và trong. Khi nào vào đến miền Nam thì con sẽ víêt thư báo tin cho ba má biết.

Cuối thư con chúc ba má khỏe.

Con của ba má đây. Y Hòa.

TB: Ba má cho con gửi lới hỏi thăm anh Giỏi.

 * * *

 Miền Nam Việt Nam

Ba má thương mến của con!

Hôm nay từ mảnh đất xa xôi và nóng bỏng này con lại viết thư về thăm ba má và gia đình.

Ba má ạ! Hiện con vẫn mạnh khỏe và đang chờ nhận nhiệm vụ. Chỉ còn vài ngày nữa thôi là cuộc chiến đấu sẽ bắt đầu, đứa con của ba má sẽ thực sự bước vào tôi luyện trong lò lửa chiến tranh. Sự chết chóc không còn là niềm sợ hãi đối với con. Sự mong muốn lập công luôn trỗi dậy hơn bao giờ hết. Lúc nào con cũng nghĩ làm sao trong cuộc chiến sắp tới mình sẽ giết được nhiều giặc để rồi lỡ có sao cũng khỏi ân hận. Máy bay và pháo kích đã thành cơm bữa. Ban đêm pháo sáng đủ loại đua nhau bắn lên trời, ban ngày thì máy bay rà sát ngọn cây tìm kiếm. Ngày nào mà không thấy bóng máy bay quần đảo bắn phá thì tự nhiên trở nên lạ lẫm, trái quy luật. Mặc máy bay, pháo kích, những sư đoàn chủ lực của ta vẫn rầm rập tiến vào giải phóng Huế và các tỉnh.

Riêng tụi con thì buồn cũng có mà vui thì cũng nhiều. Vui nhất là đã ở trong chiến trường mà vẫn còn tập đánh trận giả. Đêm qua, tụi con vừa tập đánh biệt kích. Còn ngày vẫn hai bữa cơm rồi lại chơi với ngủ. Nằm võng nhiều đến nỗi đau cả lưng. Tắm sông thì ngày đến hai, ba bận. Chẳng hiểu sông gì mà sớm nước ngọt, chiều nước mặn. Ăn uống kham khổ, mỗi tiểu đội ngày chỉ được một hộp thịt, còn rau thì phải tự đi kiếm lấy ăn. Riêng mì chính và ruốc lại quá nhiều nên ăn cũng đỡ.

Thằng Sơn và Hưng vẫn cùng đại đội với con. Khỏe cả. Ở nhà ba má đừng lo gì nhiều nhé! Con vẫn chưa nhận được thư nào của ba má. Đây là lá thư thứ tư con viết về nhà. Các em vẫn khỏe chứ ạ? Nhà ta có đi sơ tán hết chưa?

Con chúc ba má và cả nhà mạnh khỏe. Nhắn anh Nguyên và chị Thanh viết thư cho con nhé!

Con của ba má.

Chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Y Hòa Mlodunzu.

Hòm thư của con: 651091 JA014

 * * *

 Ngày 18 tháng 8 năm 1972

Ba má thương nhớ của con!

Hôm nay, từ Quảng Trị con viết thư cho ba má. Sau chặng đường hành quân vượt Trừơng Sơn nóng bỏng, con vừa nghỉ chân.

Ba má ạ! Đến nay, tụi con mỗi đứa một nơi không còn được sống chung với nhau nữa. Vẫn thuộc sư đoàn nhưng thằng Sơn (con chú Chiến) về đơn vị công binh, còn con với thằng Chấn Hưng ở lại tiểu đoàn cũ vưà biên chế thành tiểu đoàn 12 ly 7 pháo phòng không của sư. Buồn quá ba má ạ! Hôm chia tay, thằng Sơn khóc quá. Hiện chưa biết nó ở đâu, Nam hay Bắc?

Còn đơn vị con chỉ là đơn vị phục vụ chiến dịch. Buồn quá vì không đuợc ở bộ binh chiến đấu mặt giáp mặt với quân thù. Con bây giờ gầy hơn trước vì vừa qua hai tháng gian nan, ác liệt. Vào đây mới thấy ở ngoài Bắc tụi con rèn luyện chẳng ăn thua gì cả. Lúc ở nhà thì sướng như tiên, vào đây thì chẳng có gì ăn, chỉ có cơm với muối thôi. Nhưng vì mệt nên ăn vẫn rất khỏe. Nấu cơm thì chật vật mất mấy tiếng đồng hồ mới chín vì máy bay quần suốt. Ngủ hầm thì ẩm thấp, lầy lội và muỗi nhiều vô kể. Sáng dậy vừa chui ra khỏi màn là muỗi đốt như điên, toàn nhằm vào đầu. Hành quân liên tục suốt ngày suôùt đêm. Vác súng đạn nặng nên hai vai sưng đỏ rần cả lên. Có một điều may mắn là con vẫn chưa bị sốt rét lần nào cả. Không biết sẽ thế nào nhưng giờ thì vẫn khỏe. Vì đã xác định trước sẽ khó khăn gian khổ nên con quyết vượt qua. Nhiệm vụ chiến đấu là trên hết mà.

Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị giờ là một nên dân chúng ra vào như đi chợ. Tuy vậy, ở vùng mới giải phóng còn khá phức tạp, chính quyền cách mạng ở đây phải rất vững. Có cửa hàng bách hóa của ta cung cấp nhiều mặt hàng và bán cả bằng hai thứ tiền. Hàng hóa Mỹ thì bãi bỏ triệt để. Dân chúng đã quen với B52, khắp nơi chi chít những vệt bom B52, nhiều khu rừng đã bị chúng thiêu huỷ bằng địa.

Ba má ơi! Hiện giờ chúng con vẫn nằm chờ chiến dịch. Ở Quảng Trị việc giành giữ đất rất gay go, nhất là vùng giáp ranh ngày nào cũng có chiến sự. Bọn con chỉ bắn máy bay thôi, nếu căng lắm mới hạ tầm để đánh bộ binh địch. Vì tiểu đoàn mới nhận súng và mới thành lập, chưa chiến đấu trận nào. Con và thằng Vũ Trung vẫn ở cùng một đại đội với thằng Hưng. Khi hành quân ở Trường Sơn, bọn con gặp nhiều đồng bào dân tộc Vân Kiều. Họ chỉ thích đổi gạo lấy gà chứ không thích đá lửa nên đá lửa con vẫn còn. Thuốc bổ Polyvitamine của má cho con vẫn giữ một gói. Má ạ, bây giờ mới thấy B1 là cần thiết vì không tài nào tìm được một cọng rau. Kiếm được ít lá khoai, lá sắn là mừng lắm. Bây giờ thịt hộp cũng chẳng còn, chỉ có mắm tôm, muối, ít ruốc nên người đứa nào cũng phờ phạc. Mì chính thì nhiều lắm, bọn con cứ pha từng thìa mì chính với nước lã làm canh chan ăn.

Ba má ạ! Bây giờ con mới thấy nhớ nhà, nhớ ba má và anh chị em. Ở giới hạn giữa cái sống và cái chết nhiều lúc ứa cả nước mắt vì nhớ nhà. Biết đâu và vĩnh viễn con chẳng còn được thấy ba má và anh chị em con nữa. Trong chiến đấu điều đó đã trở thành bình thường, cái chết chẳng đe dọa được ai nhưng nó vẫn cứ rình rập đâu đây. Lính tiểu đoàn 56 cùng huấn luyện với tụi con vừa bị B52 rải thảm làm chết ba đứa và bị thương cũng nhiều. Tiểu đoàn con cũng bị máy bay ném bom và bắn rôckét, may mà không ai bị sao. Con vẫn giữ một cái ảnh của gia đình nhưng thiếu chị Thanh và thằng Trung, thằng Thắng. Nhưng cũng chẳng sao cả vì con vẫn nhớ và hình dung ra chúng nó.

Ba má ơi, không hiểu ở nhà bây giờ ra sao? Ba má có được mạnh khỏe không? Anh Nguyên và chị Thanh học ra sao rồi? Chị Thanh năm nay có khỏe không, có đỗ đại học không? Con Nhung, thằng Trung, thằng Thắng năm nay chắc học ở Chi Nê? Má bảo rằng con vẫn mạnh khỏe và vẫn nhớ chúng nó nhé! Con vẫn hành quân, chưa nghỉ và chắc chẳng bao giờ nghỉ đâu. Còn Thái Hòa không hiểu bây giờ nó ở đâu? Chắc là nó thơm hơn tụi con rồi. Nhưng thôi, sau này về chắc tụi con sẽ lại thơm hơn. Chính trị viên của con nói chỉ còn đánh độ một hay hai chiến dịch nữa thôi.

Cuối thư con chúc ba má và cả nhà mạnh khỏe, chúc cả nhà gặp nhiều may mắn.

Con của ba má.

Quân giải phóng Bắc Quảng Trị – Y Hòa.

Hòm thư của con: 651091 JA01

TB: Con đã viết về nhà bốn, năm lá thư nhưng vẫn chưa nhận được thư nào.

Đây là lá thư cuối cùng của Y Hòa gửi về cho gia đình.

Hai tháng sau, ngày 16 tháng 10, Y Hòa đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 18 tuổi.

M.P

Sau khi những lá thư cuối cùng của liệt sĩ Y Hòa được đăng trong bài “Sự thật về một lần bốc mộ”, Nguyễn Thanh Sơn - bạn chiến đấu (sống cùng khu tập thể của Ban Dân tộc Trung ương ở dốc Ngọc Hà, Hà Nội) đã gọi điện cho Hồ Bá Đạt. Sơn nghẹn ngào: “Y Hoà hy sinh khi đang giữ chốt tại đồi Cháy, gần khu vực La Vang, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị”.

Biết đâu đấy, thông tin này sẽ là giúp chúng ta tìm được hài cốt của bạn?




1. Xem “Sinh ra trong khói lửa” tập I, trang 52.
2. Đã trích đăng trong Tuổi Trẻ Chủ nhật, ngày 10-8-2003.