Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

40 - Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - Hồ Bá Đạt K8, SRTKL2: 180-183



Liệt sĩ, Nhà báo Ngô Tất Thắng
 
Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng


HỒ BÁ ĐẠT *
Học sinh khóa 8

Tôi và Thắng chơi thân với nhau vì cùng khu tập thể 16A Lý Nam Đế. Thắng là con trai bác Ngô Từ Vân (sau này là Tổng biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân) và cô Toàn. Từ nhỏ được học vi-ô-lông nên Thắng thường đi biểu diễn trong các đêm liên hoan văn nghệ. Năm 1970, sau khi trường Trỗi giải thể, bọn lớp nhỏ chúng tôi trở về học trong các trường cấp III ở Hà Nội. Tôi học lớp 8, còn Thắng học trên một lớp (dù cậu kém tôi một tuổi). Năm học 1971-1972, Thắng vào học năm cuối hệ phổ thông 10 năm. Thời gian này, tình hình chiến sự trở nên ác liệt, chiến tranh đang vào giai đoạn cuối. Đảng - Chính phủ phải động viên thanh niên cả nước, trong đó có cả lớp sinh viên đại học và học sinh phổ thông ra mặt trận. (Lẽ thường họ phải tiếp tục học tập để chuẩn bị lực lượng cho ngày mai khi chiến tranh kế thúc). Tôi và Thắng cũng “xung trận” đợt này. Chuyện đi lính cũng có nhiều kỉ niệm thú vị.

Cuối năm 1971. Chiều đó, khi đang khăn tắm vắt vai, hai tay ôm chậu quần áo chờ đến lượt trước cửa nhà tắm tập thể của khu, tôi thấy Tất Thắng dẫn Hùng Thắng chạy lại. (Cũng phải cùng ôn nghèo nhớ khổ, ngày đó làm gì có phòng tắm riêng trong mỗi gia đình. Đã vào nhà tắm tập thể thì cũng chỉ có nước máy giá lạnh, cho dù trời đang đông. Và sống trong khu tập thể nên “cái gì” cũng “tập thể” – bếp ăn tập thể, nhà tắm tập thể, và cả “chuyện kia” cũng… “tập thể” nốt! Vì vậy mà sáng sáng, cứ thấy một loạt sĩ quan tá, úy - đông thì mặc quần áo ngủ; hè thì cởi trần, mặc quần đùi, nắm tay vo tờ giấy báo, gặp nhau chào hỏi, thậm chí bàn bạc cả tình hình chiến sự ngay “tại đó”). Cậu oang oang: “Thằng Hùng Thắng nhập ngũ đợt này. Tao cũng đã làm đơn tình nguyện. Mày thế nào?”. Lính Trỗi có truyền thống “đã phát là động”, một thằng làm là cả bọn cùng hùa theo. Máu quá, tôi hỏi tỉ mỉ cách viết đơn. (Hiềm một nỗi, trong đơn phải có ý kiến gia đình!). Trong bốn đứa thì Trường Vỹ và Hùng Thắng vừa qua tuổi 17 (tạm được chấp nhận), còn tôi - 16 và Tất Thắng mới 15. Nghe chúng bạn rủ, quên cả tắm, tôi chạy về chui vào góc phòng bí mật viết xong đơn nhưng chưa biết làm sao để thuyết phục được ba mẹ. Chợt nẩy ra “mẹo” làm giả chữ kí(!) và tôi đã thực hiện.

Có giấy báo, cả bốn đứa đi khám sức khỏe. Tuy hơi nhẹ kí nhưng cửa nào cũng qua. Ngày Khu đội Hoàn Kiếm gửi giấy báo tuyển quân về nhà thì ba mẹ tôi và bác Vân, cô Toàn mới ngã ngửa. Trước việc đã rồi, mà con em trong khu đi cả đấy, thế là ba mẹ chúng tôi chấp nhận cho đi.

Sáng sớm ngày 22 tháng 12 năm 1971, học sinh các trường cấp III ở Hà Nội tập trung về vườn hoa Bách Thảo, sau Phủ Chủ tịch, để dự lễ kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trên lễ đài có cả bác Võ Nguyên Giáp cùng nhiều tướng lĩnh và đại diện Ủy ban Hành chính thành phố. Nhân dịp này, Thủ đô làm lễ tiễn con em lên đường nhập ngũ tập trung, tạo nên quả đấm thép nhằm thay đổi cục diện chiến trường. Ngô Tất Thắng, người đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ bằng máu, được chỉ định thay mặt thanh niên Hà Nội, đọc quyết tâm thư. Hùng Thắng, Trường Vỹ và tôi cũng được mời lên lễ đài. Chả lạ gì lính Trỗi, ngoài đời thì nghịch ngợm nhưng đứng trước đám đông thì run như cầy sấy. Vì xấu hổ mà ba đứa chỉ dám thập thò đứng đằng sau cánh gà, thỉnh thoảng mới ló mặt ra. Nhìn xuống dưới thấy hàng vạn học sinh, sinh viên, có cả các thầy giáo (trên đầu đội mũ cối căng lưới nguỵ trang, trên mình khoác tấm dù phòng không loang lổ màu xanh cứt ngựa). Hừng hực khí thế ra quân.

Nghe Tất Thắng đọc quyết tâm thư mà lòng tôi rạo rực. Thắng giỏi văn nên lời lẽ trong bài rất xúc động, nói lên tình yêu quê hương và chí căm thù giặc sâu sắc. Với ý chí quật cường, theo bước cha anh, thế hệ trẻ Hà Nội quyết không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh xương máu cho thắng lợi cuối cùng. Khi “rừng tay” giơ lên kèm theo tiếng hô “quyết tâm” mà lòng tôi tràn ngập niềm tự hào vì thằng bạn mình - một thằng lính Trỗi, đã làm rạng danh nhà trường!

Sau đó ít bữa, chúng tôi lên đường. Cùng đi đợt này còn có Hồ Phương Bình (khóa 7). Lên đến Bãi Nai (Lương Sơn, Hoà Bình), tại đơn vị huấn luyện của Bộ tư lệnh Thủ đô (C42, D54, E59), chúng tôi còn gặp Thái Hòa, Y Hòa (khóa 7), Vũ Trung (khóa 8) và anh Lâm “tắc ly” (khóa 5) về cùng đại đội, Tấn “cáo” (khóa 6) ở đại đội bên, còn tiểu đoàn bên cạnh có Bạch Quốc Đoàn, Kim Cường (khóa 7). Huấn luyện được ít bữa thì tôi và Tất Thắng bị tiểu đoàn gọi lên trả về địa phương với lí do: chưa đủ tuổi. Thuyết phục không nổi, buồn thiu, khoác ba-lô trở về, trong lòng tiếc không được cùng chúng bạn ra trận. Về Hà Nội, Thắng đã cố thuyết phục bố, tác động với các chú cho về đơn vị công binh, sau đó phục vụ chiến đấu ở Quảng Trị.

Sau chiến dịch Quảng Trị 1972, Trường Vỹ, Hùng Thắng và Tất Thắng được gọi đi học trường Sĩ quan Công binh. Biết năng lực của mình, Tất Thắng đề đạt và được chấp nhận cử đi học Đại học Báo chí. Vừa học, Thắng vừa viết cho xong truyện “Sau cành vi-ô-let”. Ra trường, Thắng xin về làm phóng viên Báo Quân đội Nhân dân. Cuối năm 1978, tuy là phóng viên trẻ và vừa mới cưới vợ, Thắng đã thuyết phục để Tổng biên tập đồng ý cho tham gia chiến dịch Biên giới Tây-Nam. Là phóng viên mặt trận, xông xáo như một người lính với xà cột ngang hông, máy ảnh đeo vai và súng lục cầm tay, Ngô Tất Thắng vừa cùng đồng đội chiến đấu, vừa tranh thủ viết bài, chụp ảnh, kịp gửi về cho Báo.

Trong trận chiến đấu ác liệt truy quét tàn quân Pôn Pốt, khi đang nhô người lên cầm máy chớp cảnh chiến trường ác liệt thì chiếc xe tăng M113 của Thắng trúng đạn. Tim anh ngừng đập. Lục trong túi Thắng, đồng đội tìm thấy hai cuộn phim vừa chụp xong, ghi lại hình ảnh chiến đấu mưu trí, dũng cảm của chiến sĩ ta. Ngay tại mặt trận, trong danh sách những cán bộ, chiến sĩ lập công xuất sắc trong trận đầu, được đề nghị cấp trên tặng thưởng huân chương Chiến công có tên Nhà báo - liệt sĩ Ngô Tất Thắng.

Cũng năm đó, Nhà xuất bản Hà Nội đã cho in và phát hành tập sách “Sau cành vi-ô-let”. Một lần nữa bạn lại góp phần làm rạng danh nhà trường!

Ngô Tất Thắng ơi, bạn sẽ sống mãi!

H.B.Đ





* Trưởng phòng Xuất nhập khẩu, Công ty UPGAIN, thành phố Hồ Chí Minh.


41 - Đã biết tin về liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Kiến Quốc, SRTKL2: 184-185



Đã biết tin về
liệt sĩ Lại Xuân Lợi


KIẾN QUỐC

Bạn Nguyễn Quốc Khánh (khoá 7) báo cho Ban biên tập: tên liệt sĩ Lại Xuân Lợi còn thiếu! Ngay hôm sau, ngày 19 tháng 3, tôi viết thư cho gia đình. Chiều 23 tháng 4, nhận được điện thoại từ Nam Định, người gọi là Thanh Hồng, em gái liệt sĩ. Mừng quá! Hai anh em tâm sự…

… Chú Lại Xuân Thát, bố Lợi, từng công tác ở Cục Bảo vệ và là thư kí của Cục trưởng Kinh Chi. Năm 1971, ông chuyển ngành ra Công an về công tác ở Nam Định. Cuối năm 1971, đang là học sinh lớp 10 trường chuyên Lê Hồng Phong, nghe lệnh Tổng động viên, Lại Xuân Lợi đã nhiều lần viết đơn xin nhập ngũ nhưng đều bị bác với lí do: mới 16, chưa đủ tuổi nhập ngũ (Lợi sinh ngày 10 tháng Giêng năm 1955); hơn nữa bố và anh đang công tác trong lực lượng vũ trang. Không nản, Lợi viết tiếp đơn bằng máu. Lần này, Thành đội Nam Định phải chấp nhận. Ngày 31 tháng 12 năm 1971, Lợi nhập ngũ, huấn luyện bộ binh ở Thanh Hoá; sau đó theo đơn vị hành quân ngược trở ra Đông Anh huấn luyện cao xạ. Ngày 29 tháng 4 năm 1972, sư đoàn phòng không 367 của Lợi bổ sung cho chiến trường. Trên đường hành quân vào Nam, ngày 2 tháng 5 năm 1972, cả đội hình bị máy bay Mỹ ném bom, khi qua địa hạt Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có Lại Xuân Lợi.

Cũng từ sau khi nhận lá thư cuối cùng, đề ngày 29 tháng 4, viết từ Đông Anh, gia đình mất liên lạc. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, không thấy Lợi về, bố mẹ lo lắng. Đến năm 1977, mới nhận được giấy báo tử nhưng không biết Lợi được chôn cất ở đâu. Đã từng là lính, quen biết nhiều, ông Thát thăm hỏi nhiều nơi, gặp cả đồng đội cũ là ông Phục (Cục trưởng Cục Chính sách) nhờ vả. Nhưng vô vọng…

Mãi tới năm 1990, một đồng đội cũ đến thăm, kể lại: “Cháu bị thương trong trận bom ngày ấy. Sau đó, những người còn sống tiếp tục hành quân vào Nam. Đơn vị hy sinh nhiều… Cháu nhớ Lợi được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Kì Anh”. Ngay sau đó, gia đình tổ chức chuyến đi tìm Lợi. Được sự giúp đỡ của Phòng Chính sách Quân khu Bốn, gia đình tìm thấy mộ phần của Lợi. Đến ngày 25 tháng 7 năm 1996, theo nguyện vọng gia đình, hài cốt Lợi được chuyển về quê. Quân khu Bốn, Thành phố Nam Định và gia đình đã tổ chức trọng thể lễ đón nhận hài cốt. Hiện Lợi an nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ xã Nam Vân, thành phố Nam Định. Ông Thát mất năm 2003. Năm sau, mẹ Lợi cũng ra đi.

Nếu ai có dịp về Nam Định, nhớ tạt qua thăm Lại Xuân Lợi, bạn của chúng ta 1.

Cận ngày chiến thắng 30-4-2005
K.Q




1. Liên lạc với em gái: Lại Thị Thanh Hồng, 152 Hàn Thuyên, Nam Định. Điện thoại: 0350.644440.





Những gì... thầy, bạn để lại:
 
Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Lại Xuân Lợi.

Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Lại Xuân Lợi.


42 - Những lá thư của liệt sĩ Lại Xuân Lợi - Nguyễn Quốc Khánh K7, SRTKL2: 186-190



Những lá thư
của liệt sĩ Lại Xuân Lợi


NGUYỄN QUỐC KHÁNH (khóa 7) sưu tầm

Ngày… tháng 2 năm 1972

Bố kính mến!

Sau ba ngày hành quân mệt nhọc, từ 26 đến 29, chúng con đã đến địa điểm trú quân mới tại xã Phú Nhuận, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Con kể lại cuộc hành quân cho bố nghe nhé!

Vào sáng 26, chúng con rời Đặng Xá, hành quân 25km đến trú quân ở xã Yên Dương, huyện Ý Yên, tỉnh nhà. Đến 1 giờ trưa ngày 27, chúng con tiếp tục hành quân qua thị xã Ninh Bình và nghỉ đêm cách đó 4km. 12 giờ trưa ngày 28, chúng con hành quân ra ga để lên tàu; nhưng có trục trặc nên phải quay về, đợi đến 6 giờ chiều mới quay lại. 9 giờ tối, chuyến tàu quân sự khởi hành. 2 giờ 30 đêm, tàu dừng tại ga Minh Khôi, chúng con xuống tàu, hành quân 22km nữa ngay trong đêm. Đến 8 giờ sáng ngày 29 mới tới đây. Dọc đường hành quân, con rất khỏe, ngoài mang vác vũ khí, quân trang của mình, con còn mang hộ phần các bạn yếu. Hiện nay, con sống tại nhà một đồng bào người Mường, đây cũng là lần đầu tiên được sống trên nhà sàn. Tết này có lẽ con không được về ăn tết với gia dình. Nếu còn tiền, bố gửi cho con một ít để con góp với anh em liên hoan tết, bố nhé!

   Con xin tạm dừng bút ở đây. Con chúc bố mạnh khỏe, công tác tốt! Con trai của bố. Lại Xuân Lợi

 * * *

 Thanh Hóa, ngày 3 tháng 4 năm 1972

Bố kính mến!

Con đã nhận được thư của bố cách đây ba hôm. Hôm nay, tranh thủ nghỉ trưa, con biên thư thăm bố. Bố có mạnh khỏe không? Chắc công việc vẫn bận rộn như xưa? Các anh, các chị con thế nào?

Còn về phần con, cuối tháng 3 vừa qua, được lệnh đi chiến đấu. Đơn vị đã định cho con đi phép, nhưng đến chiều hôm đó thì hoãn lại. Chúng con tiếp tục huấn luyện với mức độ khẩn trương hơn. Có hôm trời mưa to, vẫn luyện tập. Hôm 1 tháng 4 vừa qua, chúng con được ném lựu đạn thật. Ngay lần đầu tiên, con ném trúng mục tiêu ở cự li 30m, được xếp loại khá. Chỉ sáu hôm nữa là chúng con bắn đạn thật, bài 1. Con hứa với bố và gia đình là sẽ đạt loại khá trở lên. Sắp tới, chúng con sẽ bước vào đợt luyện tập căng thảng, mệt nhọc hơn. Con biết nhiều khó khăn, gian khổ đang chờ ở phía trước, thử thách con. Con tin mình sẽ vượt qua những thử thách gay go, ác liệt của chiến trường và cuối cùng sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Thôi, bây giờ đã báo thức, chúng con lại ra thao trường đây bố ạ.

Con chúc bố và gia đình mạnh khỏe!

   Con trai út của bố. Lại Xuân Lợi (HT: 704615 JC10)

 * * *

 Đông Anh, Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 1972

Bố kính mến của con!

Chắc nhận được thư này bố sẽ không khỏi ngạc nhiên? Đơn vị chúng con đột ngột thay đổi nhiệm vụ. Từ trạng thái chuẩn bị đi B, nay toàn đơn vị chuyển sang huấn luyện chiến, kĩ thuật mới – quân chủng phòng không. Con không còn là anh lính bộ binh nữa mà là lính cao xạ, bảo vệ sân bay Thủ đô. Một giờ chiều hôm qua, 15 tháng 4, chúng con hành quân bằng ôtô rời Như Xuân, Thanh Hóa, chạy theo đường 1 về đến đây lúc 10 giờ đêm. Nơi chúng con đóng quân là xã Vân Nội, huyện Đông Anh, cách Hà Nội 22km. Đơn vị con gần tổng kho của Tổng cục Hậu cần. Ngày 13 tháng 4 vừa qua, con đã được vinh dự kết nạp vào Đoàn. Chúng con phải ổn định nơi ăn, chốn ở và luyện tập ngay. Vì vậy con chỉ viết vội vài dòng cho bố và gia đình biết tin.

Chúc bố và gia đình mạnh khỏe. Bố cho con địa chỉ của các anh, các chị. Bố bảo anh Thế đừng gửi thuốc cho con nữa nhé!

   Con của bố. Lại Xuân Lợi

 * * *

 Đông Anh, ngày 26 tháng 4 năm 1972

Bố kính mến của con!

Hôm nay, con tranh thủ viết thư cho bố. Bố ạ, thế là chúng con đã bước vào học tập được một tuần rồi. Một tuần qua, chúng con đã sơ bộ nắm được một số kĩ thuật của pháo. Pháo của chúng con là pháo cao xạ 37mm, loại pháo đã bắn rơi nhiều máy bay nhất trong họ pháo cao xạ. Con được phân công là pháo thủ số 4, phải đứng trên mậm pháo lấy hướng, góc tà và tốc độ mục tiêu, giúp cho các pháo thủ số 1 và 2 ngắm và bắn trúng mục tiêu. Công việc của pháo thủ số 4 không nặng nhọc nhưng đòi hỏi phải nhanh và chính xác. Con đã cố gắng học tập và bước đầu nắm được công việc của mình.

Nếu bố có lên Hà Nội họp thì bố lên chơi với con vài tiếng đồng hồ. Đi xe đến ngã ba Vân, nơi có cửa hàng bách hoá của huyện Đông Anh, bố rẽ phải vào con đường đất đỏ. Đi độ 300m gặp cái cổng gác thì là chỗ con ở. Bố cứ hỏi trực ban: con ở B2, C5.

Ở nhà dạo này tình hình phòng không căng thẳng lắm hả bố? Anh chị con và cháu có khỏe không? Có phải đi sơ tán xa nhà không? Dì và các chị, các em có khỏe không?

Con rất bận nên chỉ viết thư cho bố mỗi tháng được hai lần và rất ngắn để bố biết tin con. Con vẫn khỏe.

Con chúc bố của con mạnh khỏe mãi!

   Con của bố, Lại Xuân Lợi. (HT 680455 JA01).

 * * *

 Đông Anh, ngày 29 tháng 4 năm 1972

Bố kính mến!

Tình hình hiện nay rất khẩn trương. Có lẽ chúng con sắp đi chiến trường mà không được về phép. Vũ khí và trang bị của đơn vị đã sẵn sàng. Chưa biết hôm nào đi, nhưng chắc sẽ không còn xa nữa, bố ạ.

Con rất phấn khởi. Ngày còn ở bộ binh, con rất muốn được vào chiến trường trực tiếp cầm súng giết giặc. Nay với nhiệm vụ mới, kẻ thù vẫn là Mỹ, ngụy nhưng mục tiêu không phải những tên địch mà là những chiếc máy bay. Rồi đây, trong cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt hơn, thì khoảng cách giữa cái sống và cái chết cũng gần nhau hơn. Con nghĩ rằng, đời người ai cũng phải chết và chỉ chết có một lần; song con sẽ chọn cho mình cái chết vinh quang vì Tổ quốc. Con sẵn sàng vượt qua mọi thử thách gay go, ác liệt nhất. Bố hãy tin con trai của bố sẽ chíên thắng tất cả. Con rất tin tưởng là sẽ sống và trở về với bố, mẹ và anh chị em một cách vinh quang, xứng đáng là đứa con của bố mẹ, của Tổ quốc.

Nhận được thư này thì bố đừng viết thư cho con nữa. Khi nào có địa chỉ mới, con sẽ viết thư về ngay.

Cuối cùng, con chúc bố kinh yêu của con mạnh khỏe mãi mãi.

Con trai của bố. Lại Xuân Lợi.

   12 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 4.

 * * *

Liệt sĩ Lại Xuân Lợi đã về với quê hương. Liệt sĩ Lại Xuân Lợi đã về với quê hương.

Vâng, đây chính là bức thư cuối cùng của liệt sĩ Lại Xuân Lợi. Ba ngày sau, đúng ba ngày, Lại Xuân Lợi đã hy sinh ở Kỳ Anh, trên đường ra mặt trận…

 

  N.Q.K

 

43 - Người viết đơn bằng máu xin đi bộ đội - Lê Trí Dũng K8, SRTKL2: 191-196



Liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến
 
Người viết đơn bằng máu
xin đi bộ đội


LÊ TRÍ DŨNG *
Học sinh khóa 8

Những năm 60, hai gia đình của tôi và Bùi Thọ Tuyến cùng sống ở Khu tập thể quân đội số 1A Hoàng Văn Thụ, không xa Quảng trường Ba Đình. Ngay từ khi mới 6-7 tuổi, chúng tôi đã kết thân với nhau. Ở khu tập thể có anh Tuấn Sơn lớn hơn 4-5 tuổi nhưng hay giao du với bọn trẻ con chúng tôi. Anh là đầu trò bày ra những trò chơi trốn tìm, “sô-vê”, trèo me trèo sấu hay đánh trận giả mỗi đêm. Hè đến, anh rủ rê cả bọn xách đèn pin đi lần từng gốc cây xà cừ dọc đường Hoàng Diệu để bắt ve, sát bờ tường Thành cổ. Đứa nào cũng có một bộ sưu tầm về các loài ve, nào là cồ cộ, ve kim, ve sầu… Vì bố mẹ bận đi làm, không có ai trông nên bị nhốt suốt ngày trong nhà, tôi chỉ có thể thò mặt ra cửa sổ trò chuyện với lũ bạn. Vì vậy mà anh Sơn đã đặt cho cái tên “Trí dốt”. Còn Tuyến vì da trắng như bột nên bị gán cho cái tên “hếu”! Cánh nhóc con ở Khu 1A “xưng hùng, xưng bá” khắp một vùng quanh bể bơi Ba Đình, khu nhà Quốc hội và dọc theo đường đôi Hoàng Diệu rợp mát với những gốc xà cừ cổ thụ. Tuổi thơ của chúng tôi đẹp như thế đấy! Thật thú vị!

Hè năm 1965, mấy anh lớn tuổi được gọi lên trường Văn hóa quân đội. Hôm các anh tập trung ở Trạm 66 để ra xe lên Trại Hòe (Hà Bắc), bọn trẻ chúng tôi đi tiễn. Xe chạy rồi mà vẫn cứ nhìn theo, ánh mắt đầy kính phục. Đứa nào cũng mơ ước sẽ có lúc được như vậy. Mỗi kì các anh về nghỉ phép là mỗi lần bọn tôi nghe được nhiều điều mới lạ. Anh Sơn trong bộ quân phục áo blu-dông bay, quần xanh không quân, gương mặt nghiêm nghị kể lại những câu chuyện của cánh thiếu sinh quân học tập, rèn luyện như một người lính thực sự làm đứa nào cũng nuốt nước bọt ừng ực. Chúng tôi bảo nhau: “Cố phải học cho hết cấp I để xin bố mẹ cho lên trường theo các anh.”

Hè năm 1967, hết lớp 4, Tuyến, tôi và các bạn cùng lứa trong khu được các chú báo nộp hồ sơ làm thủ tục nhập trường. Trường ngày đó đóng tận thành phố Quế Lâm (Trung Quốc), biết là phải xa cha mẹ nhưng đứa nào cũng vui như hội vì sắp được trở thành “bộ đội con”. (Nói vậy để ai không phải là con nhà lính cũng thông cảm!). Một chiều tháng 8, sau một trận ném bom của máy bay Mỹ vào Hà Nội, bố mẹ đèo xe đạp chở chúng tôi mang theo đồ đoàn về tập trung ở Khu tập thể Nam Đồng. Tối đó, cả bọn lên xe về Hà Tây. Từ đây, hôm sau đi bằng xe lội nước vượt sông Hồng lên Bắc Kạn, theo đường 1B. Từ Bắc Kạn, chúng tôi lên Lạng Sơn, qua Hữu Nghị Quan sang Bằng Tường, Trung Quốc. Sau một đêm ngồi tầu liên vận quốc tế, sớm hôm sau, chúng tôi có mặt ở Quế Lâm. Đã thân nhau từ ngày ở cùng khu tập thể, sang đây tôi và Tuyến “hếu” càng thân nhau hơn.

Tháng 8 năm 1968, cả trường về Việt Nam. Hội cấp II đóng quân ở Trung Hà, ngay cạnh bến phà sông Đà sang huyện Tam Nông, Phú Thọ. Mỗi đêm, khi đã lên giường trùm chăn ngang cổ, tai vẫn ngỏng lên nghe chương trình “Đọc truyện đêm khuya” của Đài Tiếng nói Việt Nam. Tuyến rất mê những chuyện về bộ đội đặc công. Tuyến bảo tôi, không hiểu sao mỗi cánh chỉ biên chế vài ba chiến sĩ, mà bộ đội đặc công đánh hiệu quả như vậy, làm lính Mỹ thất kinh?! Hàng ngày, Tuyến rất chịu khó tập thể dục và luyện thêm mấy bài võ tay không do thầy Trần Sinh dạy. Mà buồn cười lắm, đến năm 1970, bọn lớp tôi đã ở tuổi “dậy thì” nhưng không hiểu sao bắp tay, bắp chân vẫn cứ bé cỏn con! Trông đứa nào đứa nấy khẳng khiu. Hè năm ấy, nhà trường kết thúc đào tạo và trả học sinh về với gia đình.

Bố Tuyến là bác Bùi Thọ Tư, cuối những năm 60 nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình. Cả gia đình theo bố về thị xã sống ở trong Khu tập thể bốn tầng Lê Lợi. Tuyến về thị xã tiếp tục học chương trình cấp III phổ thông. Tháng 5 năm 1971, học xong lớp 8 (hệ 10 năm) cũng là lúc tình hình chiến sự trên chiến trường đã vào giai đoạn ác liệt. Cả nước sùng sục trong khí thế của Lệnh tổng động viên. Tuyến nì nèo mẹ:

- Mẹ cho con đi bộ đội đợt này.

- Con còn bé quá, mới 16, ai người ta nhận?

- Được mẹ ơi, miễn là bố mẹ đồng ý. Bạn con ở Hà Nội đi hết cả đợt này.

Là người bố người mẹ, ai chẳng thương con, nhưng khi đất nước lâm nguy, sao mà giữ con được. Mẹ Liên đã rớm nước mắt khi nghe Tuyến nài nỉ. Tuyến cắn răng dùng dao lam rạch ngón tay của mình lấy máu viết lá đơn xin nhập ngũ và hy vọng, nhận được đơn này chắc các chú sẽ cảm thông và đồng ý. Khi lá đơn gửi tới Ban chỉ huy quân sự thị xã, các chú đã lắc đầu: “Cháu còn bé quá, chưa đủ tiêu chuẩn”. Cầm lá đơn bằng máu trở về, hai mắt đỏ hoe, Tuyến giục mẹ: “Bố thì đang bận huy động thanh niên cả tỉnh cho đợt tòng quân này, có lẽ nào con lại không hưởng ứng? Mẹ phải giúp con! Không đi đợt này thì còn có cơ hội nào nữa mẹ?”. Suy nghĩ lúc lâu rồi mẹ Liên gạt nước mắt, đạp xe, mang hồ sơ của Tuyến xuống xã Hoàng Diệu (huyện Đông Hưng), giao cho các chú: “Các chú ạ, cũng là chỗ quen biết, cháu nó quyết tâm đi đợt này nên tôi phải nhờ đến các chú. Nguyện vọng của cháu cũng là ý nguyện của hai chúng tôi”. Sau khi bàn bạc, xã chấp nhận và đợt ấy, Tuyến đi theo đội hình của huyện Đông Hưng.

Lẽ ra tân binh đợt này được huyện giao quân huấn luyện ở một đơn vị pháo binh, nhưng vì muốn trực tiếp được đối mặt với kẻ thù và trong lòng sẵn có tình yêu với binh chủng Đặc công mà Tuyến đã nhờ bố tác động để được chuyển về đơn vị huấn luyện đặc công. Tuyến chăm chỉ luyện tập từ những bài võ thuật đến những chiến thuật tiềm nhập, đánh khí tài, ngụy trang… Kết thúc huấn luyện, vì thành tích học tập mà đơn vị muốn giữ Tuyến làm trợ giáo. Biết ý định cấp trên, Tuyến dứt khoát từ chối ở lại, quyết tâm: “Ra đi đợt này, một - xanh cỏ, hai - đỏ ngực!”. Với ý chí như vậy của một chiến sĩ thì không một thủ trưởng nào có thể từ chối. Tuyến cùng đơn vị lên đường. Vì nguyên tắc bí mật mà gia đình không hề biết Tuyến thuộc đơn vị nào, ngày nào rời miền Bắc đi “B” và đóng quân ở đâu...

 * * *

 Sau ngày toàn thắng, chờ mãi không thấy Tuyến trở về. Thư từ cũng chẳng hề có. Với linh cảm của một người mẹ, bà Liên lo lắng: “Bố mới mất được hơn một năm, chả lẽ lần này đến lượt nó?”. Bà chạy đi dò hỏi mọi nơi mà không có tin tức. Ai cũng lắc đầu.

Rồi một hôm, một đồng đội mang quân phục còn khét mùi thuốc súng, tìm đến Khu tập thể bốn tầng. Anh hỏi thăm đến đúng gia đình Tuyến. Cầm chén nước chè mãi trên tay mà không sao uống được, anh ấp úng:

- Cháu… con là bạn… cùng đơn vị, nhà ngay… Nam Định. Con mới ra…

- Tuyến thế nào con?

- Tuyến… Tuyến… đã hy sinh rồi, mẹ ơi. – Nói rồi anh lấy hai tay ôm mặt.

- Thật vậy hả con? – mẹ Liên òa lên, nức nở.

Trong nước mắt, anh đã kể lại toàn bộ câu chuyện Tuyến hy sinh. Trong một trận đánh ác liệt diễn ra ở Biên Hòa, ngay trong giây phút mở cửa đột phá, anh đã trúng đạn. Ngày Tuyến ra đi là ngày 23 tháng 3 năm 1974, chỉ còn hơn một năm nữa là cả nước có hòa bình!

Nước mắt ướt đẫm hai gò má, bà lặng im gồng mình lên chịu đựng: Có mất mát thì con trai mình cũng chỉ là một trong hàng chục vạn đứa con của đất nước này! Quá đau buồn, bà đã lên báo với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Ngay sau đó, các đồng chí đã cử cán bộ sang tìm gặp đồng đội của anh tại Nam Định. Mọi thông tin được xác nhận.

Đến ngày 17 tháng 11 năm 1976, gia đình nhận được bằng Tổ quốc ghi công do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký. Nửa năm sau, ngày mùng 1 tháng 5 năm 1977, Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình mới chính thức gửi giấy báo tử về cho gia đình(?). Và chục năm sau, ngày 2 tháng 7 năm 1986, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã ký quyết định truy tặng liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến Huân chương Kháng chiến hạng Ba vì công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày Thương binh, liệt sĩ năm nay, các bạn khóa 8 đã tổ chức đến thăm mẹ Liên và gia đình. Mẹ sống với Bùi Thị Cầm, em gái Tuyến, gần làng SOS Cầu Giấy. Đã qua tuổi 81, cách đây mấy năm mẹ vừa trải qua một trận tai biến mạch máu não nên đi lại khó khăn. Mong ước của mẹ là làm sao tìm được nơi Tuyến yên nghỉ, để một lần đến thăm.

Niềm ao ước tưởng như đơn giản ấy, vậy mà gần 30 năm qua không thực hiện được! Mẹ thương yêu, sau bao nhiêu năm lưu lạc nay mới tìm được mẹ và chúng con sẽ là người cố gắng sớm tìm kiếm để Bùi Thọ Tuyến được về với mẹ!

 

Tìm được mẹ Liên nhân 27-7-2003
L.T.D

 


Các bạn khóa 8 thân mến!

Xin mời các bạn đến thăm mẹ liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến.

Hiện nay, mẹ Nguyễn Thị Hồng Liên sống không xa Làng SOS Cầu Giấy, điện thoại 04-7640064.




* - Đại tá, Cục Tác chiến điện tử , Bộ tổng Tham mưu.


44 - Lời chào vĩnh biệt - (BBT) - SRTKL2: 197-200



Lời chào vĩnh biệt !


BAN BIÊN TẬP

Chiều Chủ nhật, 27 tháng 7 năm 2003, trên VTV1 có truyền hình trực tiếp cuộc mạn đàm về Chính sách với những người có công. Cũng hôm đó, có thư từ Hà Nội vào gửi kèm những thông tin về liệt sĩ nhỏ tuổi nhất trường - Bùi Thọ Tuyến. Chúng tôi đã liên lạc ngay với em gái Tuyến. Sáng nay, em đã fax cho tôi bức thư kèm theo lá thư cuối cùng của Tuyến gửi về gia đình.

 

Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2003

Xin gửi Ban Biên tập “Sinh ra trong khói lửa” lá thư cuối cùng của anh Tuyến, viết cho người anh họ (con ông bác ruột), trên đường hành quân vào Nam. Gia đình em không còn giữ được lá thư nào nữa.

Mong rằng đọc lá thư này, các anh sẽ hiểu hơn về người đồng đội của các anh.

Em gái – Bùi Thị Cầm

* * *

Thư Tuyến viết vội vàng, vỏn vẹn trên hai trang giấy nhưng chứa đầy tâm huyết của người lính trẻ, sẵn sàng ra đi vì nghĩa lớn. 

lá thư cuối cùng của anh Tuyến, viết cho người anh họ (con ông bác ruột), trên đường hành quân vào Nam
 

Hà Tĩnh, ngày 14 tháng giêng năm 1972

Anh Chúc kính mến!

Hôm nay, sau khi hành quân từ Vinh về đây, bọn em nghỉ để chờ ôtô vào Quảng Bình. Em vội viết mấy dòng về cho anh.

Anh Chúc ạ, vào đến đây, em được trang bị đầy đủ như cho một người lính chiến. Sơ sơ cũng 30kg, vì đi xa nên phải mang nhiều thứ. Bọn em còn hành quân vào tận B2, đường hành quân dài đến 2000km và sẽ sống, chiến đấu ở ngoại ô Sài Gòn. Thế là, hôm nay còn trên đất Hà Tĩnh thì mai, chỉ sáng mai thôi là chân chúng em đạp “trên triền núi cao Trường Sơn” rồi.

Anh Chúc yêu quý! Em cũng đã nhiều lần đi xa, nhiều lần xa nhà, nhưng phải nói thật rằng, lần này khi tầu chuyển bánh, lòng em xao xuyến vô cùng. Cũng không hiểu vì sao?! Nhìn cột cây số cứ vun vút lùi lại phía sau: Hà Nội - 20km, rồi 30, 100, 150, 200, ngày càng xa dần, xa dần, rồi không nhìn thấy gì nữa. Nước mắt em muốn trào ra, điều mà cách đây 10 năm về trước em tưởng rằng sẽ không bao giờ có nữa.

Anh Chúc ạ! Nếu như có một nhà văn đi cùng trên chuyến tầu này thì sẽ tả chuyến đi này của bọn em như thế nào? Chỉ tiếc rằng em chỉ là một anh lính, bình thường như mọi anh lính khác, cũng chỉ có những lời nói chân thành, mộc mạc. Chẳng biết nói sao khi các mẹ, các anh, các chị, các em giơ tay vẫy chào những người lính trẻ chuẩn bị bước vào cuộc thử lửa. Còn trên tầu của lính thì như một rừng tay vẫy mãi, vẫy mãi. Em cũng thế, con người em tưởng như gỗ đá thế mà nước mắt cứ ứa ra, tay cứ vẫy vẫy dù trước mắt không phải người thân thuộc của mình! Em biết nói gì bây giờ? Chỉ biết rằng, ngày mai là cuộc chiến đấu mới!

Thôi, anh cho em tạm dừng bút vì thời gian còn rất ít. Ôtô đến rồi. Ngày mai đây trong cuộc chiến đấu máu lửa ấy, có thể em sẽ ngã xuống thì mỗi gịot máu của em phải đổi lấy một giá cao nhất. Và nếu đó là sự thật thì cho em gửi lời chào vĩnh biệt!

Chúc anh khỏe, trẻ, công tác, học tập tốt!

Em của anh. Bùi Thọ Tuyến.

 * * *

 Hai năm sau, ngày 23 tháng 3 năm 1974, khi chỉ còn hơn 365 ngày nữa là im tiếng súng thì trái tim của Bùi Thọ Tuyến đã ngừng đập vì một phát đạn của kẻ thù. Người chiến sĩ trẻ đặc công ấy hy sinh khi anh vừa tròn 19 tuổi.

Và đã gần ba chục năm rồi mà gia đình chưa biết anh đang yên nghỉ nơi đâu. Người mẹ già đã qua tuổi 80 vẫn lầm lũi đợi chờ! Mẹ thương yêu, cũng chừng ấy năm chúng con mới tìm được mẹ. Chúng con, những bạn bè của Tuyến, sẽ cùng nhau bắt đầu cuộc đi tìm đồng đội. Ráng chờ, mẹ nhé!

 

B.B.T.

 * * *

 Ngày 7 tháng 8 năm 2003. Đọc “Lá đơn bằng máu”

Bài viết về Tuyến mang cho tôi một cảm xúc khó tả, nó nhắc lại một thời thơ ấu đầy mộng mơ nhưng cũng rất mãnh liệt của những cậu học sinh “quân khu”. Những ngày ở 1A Hoàng Văn Thụ, Tuyến là một đứa em vô cùng thân thiết với tôi. Gia đình Tuyến nghèo và đông con (có năm anh em, Tuyến là con thứ tư, còn Cầm là út) nhưng sống rất tình cảm. Bố mẹ Tuyến luôn coi bọn trẻ tinh nghịch chúng tôi như con cháu trong nhà.

Đọc lá thư cuối cùng của Tuyến viết cho Chúc, (Chúc cũng là bạn tôi), tôi đã ứa nước mắt. Lời lẽ trong thư của một người lính trẻ, tuổi mới 18, trước giờ ra trận thật bình thản và chan chứa tình người, nhưng cũng hết sức chững chạc… ...

 

Trần Tuấn Sơn

 

45 - Lần cuối gặp nhau - Nguyễn Trí Dũng K3, SRTKL2: 201-203



Lần cuối gặp nhau


NGUYỄN TRÍ DŨNG
Học sinh khóa 3

refont.com - Glitter textau ngày về học ở Thậm Thình (Vĩnh Phú), vì thấy học kĩ thuật khó vào, tôi đề đạt với Cục Cán bộ cho chuyển về trường Sĩ quan Hậu cần. Trường Hậu cần, ngày đó, đóng ở gần Kho xăng Đức Giang (Gia Lâm). Đầu năm 1972, khi ta tập trung lực lượng vào mặt trận Quảng Trị, quyết làm chuyển biến thế trận trên chiến trường, thì Bộ Tổng đã huy động học viên các nhà trường, bổ sung cho chiến dịch. Thế là tôi lên đường với đầy đủ vũ khí, đạn dược: ba-lô đeo vai với hai bộ áo quần, khẩu AK sau lưng, ống nhòm một bên, xà-cột bản đồ một bên, bi-đông nước toòng teng cùng hai trái lựu đạn mỏ vịt và con dao găm. Đơn vị tôi nhận nhiệm vụ rất đặc biệt, không được phép lộ bí mật cho bất kì một ai. (Ngày ra đi cũng không được phép tạt qua nhà thăm mẹ).

Thời gian đó, quãng tháng 6 năm 1972. Bắt đầu vào hè, trời nắng, nóng như đổ lửa, nhất là khi đặt chân vào đến đất Thanh Hóa. Mà hành quân thì hầu như bằng đôi chân vì đi bằng xe rất nguy hiểm, dễ bị máy bay địch phát hiện, ném bom. Quần áo, mũ đều “rung rinh lá ngụy trang”, áo đẫm mồ hôi, gặp gió Lào lại khô ngay. Một buổi trưa, đã quá giờ Ngọ, tốp chúng tôi hành quân qua một làng thuộc vùng núi huyện Thọ Xuân (miền tây Thanh Hoá). Dọc đường, các đơn vị gặp nhau, lính tráng kẻ đi, người ở, chào nhau í ới và tìm đồng hương. Chợt thấy bên vệ đường có cánh lính tân binh, cậu nào cậu nấy rất măng tơ, đang gối đầu lên mũ tranh thủ nghỉ trưa dưới bóng cây. Nhìn các em, tôi chợt nghĩ tới thằng Chí Cường, đứa em trai mình. Không biết có nó trong đoàn quân này không?

Đang mải bước, bỗng nghe tiếng gọi:

- Anh Dũng!

Quay lại thì thấy ba đứa em là học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi: Nguyễn Lâm (em Lương Sơn)1, Y Hoà (em Y Nguyên)2 và Phương Bình (em Hồ Xuân Nam)3. Chúng nó mừng rỡ bật dậy, chạy theo tôi:

- Anh vào hay ra?

- Đang vào Quảng Trị.- Tôi trả lời nhưng không được phép dừng, vẫn phải chạy theo đội hình hành quân.

- Bọn em cũng vậy, chắc sẽ về sư 325. Sao anh không học nữa à?

- Không, học nhức đầu lắm. Chán quá, anh xin đi “B”. – (Tôi phải dối các em mà không dám lộ nhiệm vụ của đơn vị mình).

Ba đứa vừa bám theo tôi vừa nói chuyện. Thì ra Lâm đang học năm thứ hai đại học, còn hai đứa vừa thi xong lớp 10 phổ thông. Lâm rút trong túi ra gói Trường Sơn bao đỏ, dí vào tay tôi:

- Thôi, anh cầm lấy bao thuốc mà hút. Tụi em vẫn còn thuốc lào và mấy đứa hút chung là được rồi.

- Anh đi nhé! Mấy đứa cố giữ gìn! – Tôi nghẹn ngào nói.

Ba đứa đã theo tôi đến hơn 200m mới dừng lại, vẫy tay chào. Mắt tôi nhòe nước mắt nhưng không dám quay lại nhìn các em.

Thật ra đơn vị tôi nhận nhiệm vụ nghi binh chiến dịch. Lúc gặp ba đứa là khi tốp nghi binh của tôi đang mang phiên hiệu Đoàn 48B của sư 308B. Ba-lô, súng ống trên vai cùng máy thu phát vô tuyến sóng ngắn 102E. Chúng tôi cứ âm thầm đi tới một địa điểm, theo quy định của Bộ Tổng, thì dừng lại, rồi mở máy phát sóng lên trời, dùng thoại và tín cố tình làm lộ là sư đoàn 308B đã vào đến đây. Sau đó lại lầm lũi cõng máy, cõng súng lên đường. Lần đó, chúng tôi đã vào đến mặt trận Quảng Trị rồi lại vòng ra xưng danh một sư đoàn mới. Cứ như vậy tiếp tục làm nhiệm vụ nghi binh cho đến khi chiến dịch kết thúc. Sau này nghĩ lại mới thấy, các chiến dịch của ta khi triển khai đã được “các cụ” tính toán chi li đến từng bước.

Ngày hòa bình, trở về nhà, gặp Lương Sơn được nghe kể lại: trong ba đứa thì chỉ Phương Bình còn sống trở về, Y Hòa và Nguyễn Lâm đã anh dũng hy sinh. Nghe xong tôi cảm thấy trống trải làm sao! Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi những đứa em mà lẽ ra chúng được phép tiếp tục học tập để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Các em thật dũng cảm và đã có những suy nghĩ, những hành động phi thường, rất đáng tự hào! Tôi giữ mãi trong tim kỷ niệm về những giây phút gặp nhau hiếm hoi trên đường hành quân. Có ai ngờ đó lại là lần cuối!

N.T.D





1.  Con đại tá Hoàng Hữu Kháng, cục trưởng Cục Cảnh vệ, người bảo vệ Bác Hồ thời gian 1945-1951.
2.  Con phó trưởng Ban Dân tộc Trung ương Y Wang.
3.  Con liệt sĩ Trần Quốc Thảo, nguyên bí thư Thành uỷ Sài Gòn 1956-1957 và Trung ương cục miền Nam.



46 - Quảng Trị và những đồng đội còn nằm lại - Lê Chí Hòa K5, Tr.: 204-208



Quảng Trị và những đồng đội
còn nằm lại


LÊ CHÍ HÒA *
Học sinh khóa 5

refont.com - Glitter textè năm 1973, khi đang bận rộn ôn thi hết năm thứ ba thì thấy trực ban báo có khách. Chạy ra cổng Bảo Sơn thì thấy Lê Bình và Chính “đen” đang ngồi chờ trong phòng khách. Bọn tôi ôm lấy nhau mừng rỡ: “Chúng mày ra khi nào?”

- Mới từ Quảng Trị ra. – Bình chậm rãi trả lời – Cục Cán bộ cho hai thằng về học.

- Quá hay! Thế là từ nay lại được gần nhau.

Lê Bình học cùng khóa 5 với tôi, Phan Nam và Kiến Quốc. Năm 1970, cậu thi vào Học viện Thuỷ lợi (mà chả hiểu sao ngày ấy duy nhất có trường đại học này được gọi là Học viện?). Cuối năm 1971, có lệnh Tổng động viên, bốn thằng khóa tôi đang học ở Thuỷ lợi (Lê Bình, Cường “mèo”, Lâm “tắc ly” và Doanh “mán”) đều xin nhập ngũ. (Về nguyên tắc, con em bộ đội được miễn đợt này vì cha mẹ đang tại ngũ, nhưng chả lẽ con dân thì đi còn con bộ đội thì ở nhà? Kì quá!). Bốn bạn ra đi thật nhẹ nhàng. (Nói vậy, Cường và Doanh chắc chưa “dính” em út, chứ Lê Bình và Lâm thì đã…có!). Và bốn bạn đã trở thành niềm tự hào của khóa 5! Nghe qua báo đài thấy chiến sự xảy ra ác liệt ở Thành cổ Quảng Trị, mỗi lần gặp nhau chúng tôi cùng chia sẻ sự lo lắng: Không hiểu bốn chàng “ngự lâm quân” của lớp ra sao!

Và hôm nay, khi cậu trở về, gương mặt đen nhẻm, áo quần còn khét lẹt mùi chiến trận, râu ria tua tủa, vẻ mặt mệt mỏi. Trò chuyện một lúc, bọn tôi đưa ngay hai đứa đi làm thủ tục nhập học, rồi ra giếng tắm rửa cho sạch bụi đường.

Chiều thứ bảy, tôi báo cho Tấn Lợi, Ngọc Sơn, Ái “khỉ” từ Trung cấp Cơ khí về “hội quân”, mừng thằng bạn từ mặt trận mới trở về. Gọi là liên hoan nhưng thật đơn giản: hai bao thuốc Điện Biên bao bạc (tuần trước về Hà Nội vào Giao tế mua, còn giấu được chưa bị anh em bắt mang ra hút), hai nải chuối trứng cuốc mới bê từ quán bà “Bệt” về cùng một bịch lạc rang nóng giòn. Chiến “thộn” chả hiểu kiếm đâu được chai rượu trắng, cũng mang ra góp vui. Cơm nước xong, bọn tôi hẹn nhau ra sân bóng của trường, kéo ra đầu gôn nằm dài trên cỏ chờ bạn. Ngọn cỏ đâm vào da ngưa ngứa khó chịu, nhưng… mặc! Cánh Tấn Lợi kiếm được cả một gói kẹo bọc lạc ba lớp giấy của Xí nghiệp kẹo Hải Hà. Trời tối dần, gió chiều mát rượi từ hướng Tam Đảo thổi về. Anh em rì rầm bàn tán: “Dạo này thằng Bình thay đổi quá, lầm lì ít nói, hút thuốc nhiều hơn và hay suy tư… Hình như có điều gì không vui?”

Nửa tiếng sau, hai thằng mới tới. Bình vội thanh minh: “Tối nay, đại đội vừa tập trung động viên cánh lính chiến trường trở về nên bọn tao ra muộn. Tuần sau vào học rồi.” Bọn tôi vội mở gói lạc đang ủ trong giấy báo và bày kẹo, chuối, rượu ra “tỉ thí”. Chén rượu vòng quanh, vừa uống Lê Bình vừa chậm rãi kể lại: “… Sau ngày nhập ngũ, cả bốn thằng tao về cùng sư đoàn 325 của chú Lê Kích và chú Nguyễn Công Trang. Riêng tao và Cường “mèo” được ở cùng đại đội. Bọn tao vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ từ đầu tháng 7. Lính 325 nghịch thì quá trời nhưng bọn ngụy mỗi lần nghe tên thì khiếp vía! Toàn lính sinh viên nhưng đánh rất kiên cường. Quân ngụy cố gắng chiếm lại nhưng không được, liên tục bị đánh bật ra, mặc dù hoả lực chúng rất mạnh. Vất vả lắm, nhất là mỗi lần thay quân. Lúc ngưng tiếng súng, lính tiểu đội tao rủ nhau xăm lên mình hai chữ “Tổ quốc” vì có thằng mò vào hầm địch kiếm ra thỏi mực Tàu. Tao và Đinh Tuấn xung phong cho hai thằng bạn đè ra lấy kim xăm vào ngực. Đau lắm nhưng cố nghiến răng chịu đựng. Mấy đứa còn lại nhờ hai đứa tao xăm giúp nhưng địch lại tấn công, không còn lúc nào rảnh.” – Bình vạch ngực cho chúng tôi xem hai chữ thiêng liêng ấy và cả hình người chiến sĩ giải phóng khoác áo chiến bào, tay xách AK đang trong tư thế xung phong, được xăm trên cánh tay trái. Có thế mới thấy hết sự kiên cường, dũng cảm của đồng đội chúng ta, chiến đấu để giành giữ từng mét đất của Thành cổ Quảng Trị. Bình rít một hơi thuốc thật sâu rồi nói tiếp: “Lính ta đã giữ được Thành cổ trong suốt 81 ngày đêm. Hy sinh cũng nhiều! Chúng mày không thể tưởng tựơng nổi, có thằng bạn sáng nay còn cười cười nói nói, chiều đã nghe tin nó đi. Đến ngày cuối cùng, 27 tháng 7, thằng Cường “mèo” dính đạn. Chính tay tao bế nó về hầm chỉ huy trong Dinh tỉnh trưởng. Nó mất máu nhiều, nặng quá, không qua khỏi. Mà sao lại có sự trùng hợp kì lạ, hôm đó đúng là Ngày thương binh, liệt sĩ?! Rạng sáng hôm sau, bọn tao có lệnh phải rời chốt, vượt sông về bờ Bắc. Đành phải để nó ở lại. Sau đó, lính ngụy vào Thành đã hỏa thiêu tử sĩ và cả thương binh nặng rồi vứt xác xuống sông. Tội lắm! Sau đó, thằng Lâm hy sinh ngày 5 tháng 9, rồi Doanh “mán” đi sau nó hơn chục ngày. Cả đại đội tao hầu như chết hết, Đinh Tuấn cũng trở thành liệt sĩ. Tao và Chính “đen” may mắn lành lặn trở về nhưng người lúc nào cũng hâm hấp sốt, cứ như đi trên mây. Phiêu diêu lắm! Cùng đi với nhau… mà bọn nó… không trở về… Buồn lắm!” – Bình nghẹn ngào, lấy khăn lau nước mắt. Bọn tôi xúc động theo. Lính Trỗi không chỉ có khóa 5, mà cả anh em khóa 6, khóa 7 cũng tham gia Chiến dịch 81 ngày đêm. Nghe nói Y Hoà, em Y Nguyên, cũng hy sinh tại Quảng Trị…

 * * *

 Mới đây, sau hàng chục năm mới bắt liên lạc được với Y Nguyên, anh em được biết rõ hơn: Gia đình đã cất công tìm kiếm Y Hòa nhiều năm nhưng vô vọng. Quảng Trị rộng như thế, nơi nào cũng bị bom B52 và đạn pháo các loại cầy xới nát bét. Xác nhiều chiến sĩ hy sinh đã được đồng đội chôn cất lại bị bom đạn đánh bật lên, chỉ có một số được anh em chôn lại… Có những đồng chí “chết” đến hai, ba lần vì bom đạn giặc cày xới! Lần cuối cùng, gia đình Y Hòa đã lấy một gói đất nơi chiến trường ác liệt năm xưa, coi đó là hài cốt của con em mình, đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Buôn Mê Thuột!

Trường hợp liệt sĩ Đặng Bá Linh (khóa 6) cũng khá đặc biệt. Linh hy sinh ngay trận đầu ở Cao điểm 105 Bắc Quảng Trị. Ngày quy tập, do trong túi áo vẫn còn “lọ penecicline”1 nên anh em xác nhận hài cốt Linh đã được cải táng. Anh được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Lệ. Không rõ nguyên nhân vì sao thông tin quý báu trong lọ thuỷ tinh bị thất lạc, mộ của Linh cùng nhiều liệt sĩ trở thành khuyết danh. Năm 1993, mộ các liệt sĩ ở xã Hải Lệ được chuyển về nghĩa trang huyện Hải Lăng. Nhưng thật đau lòng vì không biết vị trí mộ liệt sĩ Đặng Bá Linh hiện nằm ở đâu!? Đã nhiều lần, gia đình từ Thành phố ra Quảng Trị nhờ các nhà ngoại cảm chỉ dẫn: đến ngôi mộ số…, hàng…, có vết nứt trên mặt, có con bướm đen bay quanh… thì đúng! Lúc đi tìm mộ phần, hiện tượng xảy ra đúng như chỉ dẫn của thầy, nhưng khi xác minh kĩ thì lại không phải mộ Linh! Rồi anh trai Linh tìm về Cao điểm 105 Bắc, đào lấy một hộp đất mang về, coi đó là một phần máu xương của em mình!

Riêng hài cốt liệt sĩ Bùi Hữu Thích (khóa 1), sau này, được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng.

 * * *

 Thế là anh em Trỗi chúng ta có sáu người vĩnh viễn nằm lại chiến trường Quảng Trị. Hài cốt có liệt sĩ chưa tìm thấy, có bạn đã tìm thấy nhưng rồi mộ lại trở thành khuyết danh. Năm nay, nghe tin các nhà khoa học đã ứng dụng được “công nghệ gien” để xác nhận liệt sĩ. Hy vọng rằng, trong tương lai không xa sẽ tìm được hài cốt và mộ phần của những liệt sĩ trường Trỗi chúng ta. Thầy trò chúng ta còn hy vọng!

 L.C.H




* - Đại tá, Cục Tác chiến điện tử, Bộ Tổng tham mưu.
1 - Trong chiến tranh, khi chôn cất liệt sĩ ngoài mặt trận, đồng đội phải viết những thông tin (họ tên, ngày hy sinh, đơn vị …) vào mẩu giấy nhỏ, rồi cuộn lại nhét vào lọ penecicline và đậy nút. Sau đó, nhét lọ vào túi áo ngực liệt sĩ, rồi mới chôn cất.



47 - Với một gia đình liệt sĩ - (Vân Anh) - SRTKL2: 209-211



Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc
 
Với một gia đình liệt sĩ


VÂN ANH thực hiện

Đúng 35 năm, kể từ ngày Đỗ Tấn Mỹ cùng một số bạn rời trường đi chiến đấu, chúng tôi mới tìm gặp được anh. Cảm động nghe kể lại tường tận cái chết của Nguyễn Văn Ngọc, chúng tôi không cầm được nước mắt. Là liệt sĩ đầu tiên của trường, Ngọc hy sinh ngay trên trận địa pháo cao xạ 57 ly, bảo vệ phà Bến Thuỷ vào ngày 10 tháng 10 năm 1968, khi chỉ còn 21 ngày nữa, giặc Mỹ buộc phải “ném bom hạn chế” trên toàn miền Bắc. Ngọc đi ngày ấy còn trẻ quá, mới 18 tuổi đầu!

… Khi công nghệ viễn thông phát triển thì việc liên lạc thật dễ dàng, vấn đề còn lại là việc kết nối những địa chỉ có trong bộ nhớ... Gọi ra Hà Nội cho anh Ba Biển thì xin được số máy của anh Nghiêm Sĩ Chúng (phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật). Tôi reo lên trong máy: “Chào thầy Chúng, sinh viên của thầy ở Đại học quân sự đây. Em là… thầy có nhớ? Sao ngày đó thầy không cho tụi em biết, Ngọc chính là em thầy?”. Hàn huyên rồi, anh Chúng cho biết, cô Trần Thị Ngọ - mẹ Ngọc - đang ở phòng 12, nhà A5, khu tập thể Nam Đồng.

Lại nhấc máy gọi ra Hà Nội nhờ Thắng Lợi, Tăng Tiến (khóa 8), thay mặt anh em đến thăm cô. Tại Nam Đồng, các em đã nối điện thoại cho tôi nói chuyện với cô. Thế mới biết cuộc đời cô thật vất vả, Ngọc là con riêng của cô, bố Ngọc đã hy sinh hồi Chín năm. Hòa bình, về Hà Nội, cô xây dựng với chú Điềm (khi đó là Tư lệnh Bộ đội dù). Anh Nghiêm Sĩ Chúng là con riêng của chú, còn mẹ anh đã hy sinh ngày ở Chiến khu D. Ngọc sau này còn có thêm hai đứa em. Rồi chú Điềm bị ung thư và mất tại Hà Nội… Thăm cô về, Lợi điện thoại cho tôi: “Thấy cô vất vả quá, anh thử bàn xem có cách nào... Ngay tấm ảnh của anh Ngọc trên bàn thờ cũng đã cũ lắm rồi.” Không suy nghĩ, tôi nối máy ngay với Lê Bình ở Hà Nội. Hai đứa thống nhất: việc làm này chỉ có ý nghĩa khi huy động được sức mạnh tập thể!

Điện thoại cho Phục Quốc (Ban Liên lạc khóa 4). Qua dăm câu, anh thống nhất ngay cách làm. Thư cho các bạn ở hải ngoại được gửi ngay sau đó. Không lâu sau, ban vận động đã nhận được 1 triệu trích từ quỹ khóa 4 cùng thư của ba bạn Trỗi ở Leipzig (Hoàng Quang, Tôn Gia Quý, Phạm Võ Hùng) kèm theo 150 Euro.

Ngày chủ nhật 22 tháng 12 năm 2002, tại khách sạn Ba Son, khóa 5 tổ chức họp mặt. Ban tổ chức có sáng kiến phát động bạn bè, thầy cô cùng đóng góp lập sổ tiết kiệm cho mẹ liệt sĩ. Thùng đóng góp được đặt trang trọng giữa phòng dưới tấm phông có dòng chữ “Họp mặt khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, 1965-2002”. Thầy, cô và các bạn có mặt lần lượt lên thả vào thùng những đồng tiền nghĩa tình. Cảm động hơn khi cháu Nhã Nam (8 tuổi, con bạn Chỉnh Huấn) rút trong túi ra tờ mười nghìn đưa cho ba: “Đây là tài sản duy nhất của con, con xin đóng góp cùng các chú, các bác.”

Số tiền đóng góp hôm đó là 1.400.000đ cùng với tiền của khóa 4 và các bạn ở CHLB Đức được chuyển ngay ra Hà Nội. Hai bạn Lê Bình và Nguyễn Thế Bắc đã tiếp nhận số tiền này. Nhân dịp Tết Quý Mùi, các bạn đã mang tấm ảnh liệt sĩ cùng số tiền nghĩa tình đến thăm cô. Giữa không khí của ngày xuân đang về, các bạn trân trọng đặt tấm ảnh của Ngọc lên bàn thờ và thắp những nén nhang tưởng nhớ đến người bạn thân thiết, người liệt sĩ đầu tiên của nhà trường.

Sau Tết ta, Tô Văn Hoành sắp xếp thời gian từ Quy Nhơn ra Hà Nội và đến thăm gia đình Ngọc ở Nam Đồng. Như mọi lần tới thăm, cứ gặp Hoành là cô lại khóc. Cô Ngọ nhờ Hoành chuyển lời hỏi thăm và cảm ơn tới thầy trò ở phía Nam. Hoành còn được cô tặng lại cho ba lá thư cuối cùng của Ngọc gửi mẹ từ mặt trận. Những lá thư ấy được viết, thế mà đã 35 năm. Đọc những gì bạn viết mới thấy Ngọc là người con có hiếu, bạn rất yêu thương mẹ và Ngọc của chúng ta là một người lính dũng cảm, bạn không sợ hy sinh, xứng đáng là một đàn em của anh Trỗi.

Ngọc thân yêu, xin mãi cảm ơn bạn! Bạn đã góp phần tô đẹp thêm cho truyền thống của nhà trường. Bạn đã hy sinh để chúng tôi được sống!

V.A


48 - Thư gửi từ Leipzig - SRTKL2: 212-213



Thư gửi từ Leipzig


Sống với nhau còn thân thiết hơn cả anh em ruột.Sống với nhau còn thân thiết hơn cả anh em ruột.

Luôn nhớ đến những người đã khuất, những bạn đã hy sinh và thăm hỏi gia đình họ là một nét đẹp của lính trường Trỗi. Xin giới thiệu cùng thầy, cô và các bạn, thư của Hoàng Quang, Tôn Gia Quý, Phạm Võ Hùng – ba anh em đang sống tại Cộng hoà Liên bang Đức, gửi cho cô Trần Thị Ngọ - mẹ của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (học sinh của khóa 4).

Leipzig ngày 27 tháng 10 năm 2002

Kính thưa cô,

Trước hết xin tự giới thiệu, chúng cháu là Tôn Gia Quý, Hoàng Quang và Phạm Võ Hùng, các học sinh cũ của trường Nguyễn Văn Trỗi. Hiện nay, ba đứa cháu đang sinh sống và làm việc tại Leipzig (Cộng hòa Liên bang Đức). Nói vậy chắc cô hiểu? Chúng cháu mong cô hãy coi chúng cháu như con cháu trong nhà. Vừa qua, nhận được tin của các bạn trong nước báo sang và được đọc những dòng kể lại những giây phút chiến đấu và anh dũng hy sinh của Ngọc, chúng cháu không sao cầm được nước mắt. Thời gian đi thật là nhanh! Mới ngày nào mà bây giờ chúng cháu đều ở lứa tuổi 50, nhưng kỷ niệm về những năm tháng tuổi thơ học cùng với Ngọc, không bao giờ chúng cháu quên được.

Các bạn trong nước báo tin sang đã tìm và đến thăm được cô, làm chúng cháu thấy rất yên tâm và phấn khởi. Ở nơi xa không đến thăm cô được, ba đứa cháu cùng toàn thể gia đình xin gửi tới cô lời chúc sức khỏe, hạnh phúc. Hy vọng một ngày gần đây, nếu có điều kiện về Việt Nam, chúng cháu sẽ được đến thăm cô.

Theo truyền thống của trường Nguyễn Văn Trỗi, chúng cháu luôn coi gia đình của bạn như gia đình mình. Mong cô hãy nhận lấy món quà nhỏ – 150 Euro của ba đứa cháu.

Một lần nữa, xin chúc cô cùng toàn thể gia đình dồi dào sức khỏe và hạnh phúc.

 

Tôn Gia Quý, Hoàng Quang, Phạm Võ Hùng

 


49 - Tìm được gia đình Lưu Dũng - Lê Quốc Khánh K5, SRTKL2: 214-216



refont.com - Glitter textuân Quý Mùi, tìm được
gia đình bạn Lưu Dũng


LÊ QUỐC KHÁNH
Học sinh khóa 5

1. Đầu xuân Nhâm Ngọ, sách đã phát hành, Ban biên tập có ý định tặng cho các gia đình liệt sĩ và gia đình các bạn Lâm Duy, Lưu Dũng, Văn Hoà và Châu Linh. Nhưng bao năm rồi, không có liên lạc, biết gửi đâu? Có một lần điện thoại ra Hà Nội thì được biết thầy Nguyễn Phong có tặng chú Lưu Dung (bố Lưu Dũng) một cuốn. Chúng tôi thở phào nhưng vẫn thấy canh cánh trong lòng...

2. Chiều 23 Tết. Có điện thoại của Trần Hòa Bình: “Vừa nhận được thư của chú Lưu Dung. Cảm động quá! Ông đến ngay!”. Các bạn có thể tưởng tượng xem anh em chúng tôi vui đến mức nào! Tôi có mặt ngay tại Viện 175 và cay cay sống mũi, đọc bức thư chú viết.

Xin đăng nguyên văn bức thư để các thầy, cô và anh chị em trường ta, được giải tỏa những gì còn áy náy.

 

Hà Nội, ngày 16 tháng giêng năm 2003

Cháu Hoà Bình thân mến!

Chú xin tự giới thiệu, chú là Lưu Dung - bố của bạn Lưu Dũng, bạn học cùng các cháu tại Trường Nguyễn Văn Trỗi.

Chú đã đọc hết cuốn “Sinh ra trong khói lửa” của các cháu. Đọc xong, chú hết sức vui mừng và cảm động! Vui mừng vì các thế hệ học sinh của nhà trường đã tiếp bước Cha Anh một cách xuất sắc. Các bài viết của các cháu súc tích và thể hiện tình cảm rất gắn bó với Đảng và quân đội. Các cháu khi bước vào đời, dù công tác ở trong hay ngoài quân đội, luôn phát huy được bản chất của “Bộ đội Cụ Hồ”, tự tin, vững bước trên con đường mà các chú, các bác và cha mẹ đã đi qua..

Bài “Nhớ ba người bạn sớm đi xa” của Hòa Bình đã làm chú xúc động không sao cầm được nước mắt! Lưu Dũng từ nhỏ rất khổ nhưng hết sức thương yêu cô chú và các em. Hôm được vào trường Trỗi, Dũng hớn hở đi chụp ảnh cùng các em. Nhưng có ngờ đâu, đó là bức ảnh cuối cùng chụp với gia đình để rồi đi xa mãi, không bao giờ trở về! Thực ra, việc thành lập Trường Nguyễn Văn Trỗi là một sự quan tâm rất lớn của Đảng và quân đội với gia đình cán bộ đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, thương yêu chăm sóc cho các cháu được học tập an toàn trong những năm tháng chiến tranh, để sau này trở thành người kế tục sự nghiệp cách mạng. Song, số phận gia đình cô chú đã không được hưởng niềm chăm lo ấy. Cho dù như vậy, thay mặt gia đình, chú chân thành cảm ơn tấm lòng của các cháu với người sớm đi xa.

Sau này, được quân đội cử đi học bổ túc ở Hungary, chú có gặp bác Trần Vũ – Tùy viên quân sự. Chú rất xúc động trước sự cư xử và lòng nhân từ của bác Vũ, rồi cả sự quan tâm của bác Lê Quang Đạo (Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) ngày ấy.

Cháu thân mến! Thư này đến cũng đã sắp Tết, chú chúc cháu và gia đình sang năm mới luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, các cháu nhỏ học giỏi và ngoan ngoãn.

Cho chú gửi lời hỏi thăm đến thầy cô và các bạn đã được lớn lên từ mái trưòng Nguyễn Văn Trỗi!

Thân ái! – Lưu Dung

(Địa chỉ của chú: Nhà A6, Phòng 25, Bắc Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội).

 

3. Tiếp câu chuyện còn dở dang! Sáng 4 Tết Quý Mùi, 10 giờ, chuông điện thoại reo. Tiếng đầu dây bên kia: “Lê Bình đây. Chúc mừng năm mới! Chúng tôi đang đến chúc Tết gia đình Lưu Dũng. Ông nói chuyện với chú Lưu Dung nhé!”. Rồi hai chú cháu tôi cùng chúc cho một năm mới an khang, thịnh vượng. Chú thông báo đã nhận được thư của anh em từ thành phố Hồ Chí Minh gửi ra, đúng những ngày đầu Xuân.

Chẳng biết nói gì hơn, tôi tâm sự: “Thế là cuối cùng chúng cháu đã tìm được cô chú và các em. Xin cô chú hãy coi chúng cháu như Lưu Dũng…”

Với tôi đây là chuyện cảm động nhất của những ngày đầu Xuân Quý Mùi!


LQK