Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

Tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ

Thành kính tưởng nhớ các Anh hùng, Liệt sĩ, các Thầy Cô, các Đồng chí và các Bạn đã khuất!
Nhạc nền
Kính viếng Online

Thắp hương
  161

Đốt nến
  30

Đặt hoa
  35








Nhắc lại ngày 10/10/2013 ở Thành Vinh

Thứ năm ngày 10/10/2013 Đỗ Tấn Mỹ cùng 2 bạn Trỗi ở Vinh (Quốc Sủng, Thúc Minh) lo sắm phần lễ rồi phi xe về trận địa cũ của khẩu đội Ngọc năm xưa... Mọi người dọn dẹp, sắp mâm cơm cúng. Đúng 10g, giờ Ngọc chết, thì thắp hương...
Ảnh Tấn Mỹ: Cùng Quốc Sủng lập bàn thờ nơi Ngọc hy sinh.


Thăm anh ruột anh Trỗi tại bệnh viện Đà Nẵng

Chủ nhật, ngày 21/07/2013 đại diện các bạn Trỗi miền trung vào Bệnh viện Đà Nẵng thăm anh Ba (Anh ruột của anh Trỗi)...
Ảnh Thanh Hải LSTroi: Võ Minh Ấn k2 - Thanh Hải LSTroi và vợ chồng, con gái anh Ba.

Một nén nhang cho đồng đội của BA

Tại Nghĩa trang LS tỉnh Tiền Giang (Thành Phố Mỹ Tho) các bạn N.H.QUE và N.A.QUE đã thắp hương cho Anh hùng Liệt sỹ Huỳnh Kim Trung... Ảnh N.H.QUE.

Thắp hương các Liệt Sỹ và gặp mặt các Thương binh K5

Thứ ba 23 và thứ tư, 24/07/2013... các bạn Trỗi K5 đã tổ chức gặp mặt các Thương binh chống Mỹ cứu nước K5 ... và đã đến nhà thắp hương các Liệt sỹ K5... Ảnh Ngô Thế Vinh: Bạn Trỗi K5 thắp hương Liệt sỹ Trịnh Thúc Doanh.

Thêm vài hình ảnh "K3 Gặp mặt ĐN 2013" từ góc độ của tôi

Sáng 01/08/2013 ... đoàn đại biểu hơn 60 người đi thắp hương tại nhà trưởng niệm anh Trỗi tại nghĩa trang liệt sĩ - huyện Điện Bàn, sau đó đoàn đã về quê anh Trỗi tại thôn Thanh Quýt - xã Điện Thắng Nam - huyện Điện Bàn - Tỉnh Quảng Nam để thăm gia đình và thắp hương trên bàn thờ của Anh. Thanh Hải Ảnh Thanh Hải.

41 NĂM NGÀY BẠN KIM TRUNG NGÃ XUỐNG

Thứ ba 20/8/2013... đại diện của khóa 5 đã đến dự ngày giỗ thứ 41 của AHLS Huỳnh Kim Trung... Ảnh nguyenphuccank5: ... thăm hỏi sức khỏe của ba bạn Huỳnh Kim Trung và nhớ đến bạn của mình.

41 năm Liệt Sỹ Nguyễn Lâm

Thứ năm 05/09/2013... bạn Trỗi K5 đã đến nhà D3, P401, khu TT Trung Tự, Hà Nội thăm Cụ Trần Thị Thái, Thân Mẫu Liệt Sỹ Nguyễn Lâm, và thắp hương 41 năm cho bạn... Ảnh Ngô Thế Vinh: Bạn Trỗi K5 thắp hương Nguyễn Lâm.

41 năm Liệt Sỹ Nguyễn Lâm

Thứ năm 05/09/2013... Bạn Trỗi K5 cùng Cụ Trần Thị Thái và các anh chị em của Nguyễn Lâm... Ảnh Ngô Thế Vinh: Từ trái qua: Chị Lan (Chị Cả, Nguyễn Lâm là thứ ba, Lâm còn cô em gái tên Hải và cậu em út tên Bình), Nguyễn Hà (Em thứ tư), Cụ Trần Thị Thái, Hoàng Việt, anh Lương Sơn K2 (Anh thứ hai), Ngô Thế Vinh, Hoàng Chương.

Thăm mẹ bạn Ngô Ngời

Thứ tư 11/09/2013... anh em Trỗi Miền Trung tham gia đoàn thăm quan du lịch do hội cựu chiến binh cục kỹ thuật Quân khu 5 tổ chức đã đến thăm mẹ bạn Ngô Ngời tại thôn Tân Huy,xã Bình Đông,huyện Bình Sơn,tỉnh Quảng Ngãi... Ảnh Thanh Hải K3: Từ trái sang: Huỳnh Tấn Lợi k5, Võ Minh Ấn k2, Huỳnh Hữu Dũng k4, Nguyễn Thanh Hải k3, Đoàn Văn Luyện k6.

Thăm mẹ bạn Ngô Ngời

Thứ tư 11/09/2013... anh em Trỗi Miền Trung tham gia đoàn thăm quan du lịch do hội cựu chiến binh cục kỹ thuật Quân khu 5 tổ chức đã đến thăm mẹ bạn Ngô Ngời tại thôn Tân Huy, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi... Ảnh Thanh Hải K3: Mẹ bạn Ngô Ngời năm nay 92 tuổi, sức khỏe tạm ổn, nhưng mắt không nhìn rõ. Nói chuyện cụ vẫn biết...

Ngày giỗ Liệt Sỹ Trịnh Thúc Doanh

Thứ sáu 13/09/2013... Bạn Trỗi K5 và các bạn lính sinh viên các trường ĐH Bách Khoa, Xây Dựng ...đã đến thắp hương, nhớ đến người bạn đồng niên, đồng học, đồng đội, chiến đấu kiên cường, hy sinh anh dũng...
Bức ảnh kỷ niệm Trịnh Thúc Doanh và gia đình trước lúc nhập ngũ. Hàng ngồi là ông, bà Trịnh Đình Chương, Nguyễn Lê Mai. Hàng đứng từ trái qua: Trịnh Thúc Doanh (Em trai thứ hai, anh con đầu bà Mai là Trịnh Tuấn Dương, anh Dương đi học xa không có trong ảnh), Trịnh Phương Liên (Em gái thứ ba), Trịnh Ngọc Tân (Em Trai thứ tư, đã mất).



Các tiêu đề chính:
  1. Xem flipbook: Tưởng nhớ các Anh hùng, Liệt sĩ
  2. Tin chung  
  3. Bài viết     
  4. Video        

  5. Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ: (Click vào tên để xem chi tiết)


9 - Danh sách các Anh hùng, Liệt sĩ - Ban biên tập, SRTKL2: 45-51



Xem Danh sách mới:
Tưởng nhớ các Anh hùng, Liệt sĩ


Danh sách
Anh hùng, Liệt sĩ

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, hai thầy giáo và 26 học sinh của trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng hy sinh. Khi phát động xuất bản tập II, Ban biên tập đã nhận được nhiều tư liệu của các anh hùng liệt sĩ. Tuy nhiên di ảnh của 6 liệt sĩ và một số thông tin vẫn còn thiếu. Ban biên tập mong tiếp tục nhận được sự đóng góp cho cuốn sách được hoàn chỉnh hơn!



 

1. Liệt sĩ Nguyễn Văn Phố *
Thầy giáo, Cán bộ quản lí


3. Liệt sĩ Cao Quốc Bảo *
Học sinh khóa 3


5. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ơn *
Học sinh khóa 4
Sinh: 1952
Hy sinh: 1971 (?)
Hang Động Lớn, Hải Phòng



Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung

7. Anh hùng, liệt sĩ Huỳnh Kim Trung
Học sinh khóa 5
Sinh: 16-3-1952
Hy sinh: 20-8-1972
Phà sông Gianh, Quảng Bình



Liệt sĩ Ngô Ngời

9. Liệt sĩ Ngô Ngời
Học sinh khóa 3
Sinh: 1947
Hy sinh: 1-7-1979
Mặt trận biên giới Tây Nam



Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc 1

11. Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc 1
Học sinh khóa 4
Sinh: 5-1950
Hy sinh: 10-10-1968
Thành phố Vinh



Liệt sĩ Vũ Chí Dũng

13. Liệt sĩ Vũ Chí Dũng
Học sinh khóa 4
Sinh: 1952
Hy sinh: 6-12-1971
Mặt trận Tây Nguyên



Liệt sĩ Trịnh Thúc Doanh *

15. Liệt sĩ Trịnh Thúc Doanh *
Học sinh khóa 5
Sinh: 30-1-1953
Hy sinh: 16-9-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Nguyễn Lâm *

17. Liệt sĩ Nguyễn Lâm *
Học sinh khóa 5
Sinh: 1953
Hy sinh: 5-9-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Chu Tấn Quang *

19. Liệt sĩ Chu Tấn Quang *
Học sinh khóa 6
Sinh: 20-2-1952
Hy sinh: 29-12-1973
Mặt trận Quảng Đức



Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh

21. Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh
Học sinh khóa 6
Sinh: 20-8-1953
Hy sinh: 25-3-1972
Mặt trận Nam Lào



Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân

23. Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân
Học sinh khóa 6
Sinh: 1953
Hy sinh: 16-2-1979
Mặt trận Lạng Sơn



Liệt sĩ Lại Xuân Lợi

25. Liệt sĩ Lại Xuân Lợi
Học sinh khóa 7
Sinh:
Hy sinh: 2-5-1972
Mặt trận Quảng Bình



Liệt sĩ, Nhà báo Ngô Tất Thắng

27. Liệt sĩ, Nhà báo Ngô Tất Thắng
Học sinh khóa 7
Sinh: 1956
Hy sinh: 1-1-1979
Mặt trận Campuchia



2. Liệt sĩ Nguyễn Đăng Đạo *
Thầy giáo, Cán bộ quản lí


4. Liệt sĩ Nguyễn Khắc Bình *
Học sinh khóa 7


6. Liệt sĩ Trần Hữu Dân *
Học sinh khóa 7





Liệt sĩ Bùi Hữu Thích

8. Liệt sĩ Bùi Hữu Thích
Học sinh khóa 1
Sinh: 1947
Hy sinh: 22-8-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Lê Minh Tân *

10. Liệt sĩ Lê Minh Tân *
Học sinh khóa 3
Sinh: 1950
Hy sinh: 1-4-1974
Mặt trận Tây Nguyên



Liệt sĩ Lâm Duy 2

12. Liệt sĩ Lâm Duy 2
Học sinh khóa 4
Sinh: 12-1949
Hy sinh: 30-08-1966
An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái



Liệt sĩ Võ Dũng

14. Liệt sĩ Võ Dũng
Học sinh khóa 5
Sinh: 1951
Hy sinh: 21-4-1972
Mặt trận Khu 9, Rạch Giá



Liệt sĩ Vũ Kiên Cường *

16. Liệt sĩ Vũ Kiên Cường *
Học sinh khóa 5
Sinh: 1953
Hy sinh: 28-7-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Phạm Văn Hạo

18. Liệt sĩ Phạm Văn Hạo
Học sinh khóa 5
Sinh: 5-1953
Hy sinh: 28-6-1971
Mặt trận Campuchia



Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng *

20. Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng *
Học sinh khóa 6
Sinh: 1954
Hy sinh: 5-6-1972
Mặt trận Khu 9, Kiên Giang



Liệt sĩ Đặng Bá Linh *

22. Liệt sĩ Đặng Bá Linh *
Học sinh khóa 6
Sinh: 9-3-1953
Hy sinh: 26-8-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Y Hoà *

24. Liệt sĩ Y Hoà *
Học sinh khóa 7
Sinh: 1954
Hy sinh: 16-10-1972
Mặt trận Quảng Trị



Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ *

26. Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ *
Học sinh khóa 7





Liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến *

28. Liệt sĩ Bùi Thọ Tuyến *
Học sinh khóa 8
Sinh: 1955
Hy sinh: 23-3-1974
Mặt trận Biên Hoà



Ban biên tập xin chân thành cảm ơn gia đình các liệt sĩ, các thầy cô giáo và các bạn đã sưu tầm và cung cấp nhiều tư liệu quý giá để xuất bản lần này!


B.B.T




* - Những liệt sĩ đến năm 2005 chưa tìm được mộ phần.
1 - Liệt sĩ hy sinh đầu tiên tại chiến trường.
2 - Liệt sĩ Thiếu sinh quân.



14 - "Hổ phụ sinh Hổ tử" - Ban biên tập, SRTKL2: 65-70



Phần II:
GƯƠNG ANH HÙNG, LIỆT SĨ



“ Hổ phụ sinh Hổ tử ”

Chúng tôi muốn dùng tựa đề này để nói lên niềm tự hào
không chỉ về 28 thầy trò đã anh dũng hy sinh mà cả về cha mẹ họ.
Bởi vì “hổ phụ” ắt sẽ sinh “hổ tử”!

BAN BIÊN TẬP

refont.com - Glitter textề anh Nguyễn Văn Trỗi, học sinh danh dự của nhà trường, thì lính Trỗi luôn nhớ lời Bác Hồ đã dạy: phải lấy tên anh đặt cho trường để các em noi gương anh!

Hè năm 1966, trong những ngày lao động xây dựng doanh trại ở An Mỹ (Đại Từ), bạn Lâm Duy (khóa 4) đã dũng cảm hy sinh khi chặt cây, lấy gỗ. Lâm Duy được Tổng cục Chính trị công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân và bạn chính là liệt sĩ đầu tiên của nhà trường. Cha của Lâm Duy là thiếu tướng Nguyễn Lâm Kính, nguyên tư lệnh Pháo binh thời kì đánh Mỹ (1964-1969). Mới đây, bác đã cho xuất bản cuối hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam”; trong đó có nhắc lại sự hy sinh của Lâm Duy.

Học sinh hy sinh trong chiến đấu đầu tiên là liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (khóa 4). Ở Ngọc, hoàn cảnh khá đặc biệt, bố hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Hoà bình lập lại, năm 1954, mẹ Ngọc xây dựng với chú Nguyễn Chí Điềm (nguyên tư lệnh Bộ đội dù, sau là tư lệnh Đặc công). Với chí căm thù giặc, Ngọc đã chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên mâm pháo bảo vệ Thành Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 1968.

Liệt sĩ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang là Huỳnh Kim Trung. Bạn hy sinh ngày 20 tháng 8 năm 1972, tại bến phà sông Gianh, khi vừa tròn 20 tuổi. Ba của Kim Trung là đại tá, kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương. Năm 1947, bác đã là tham mưu phó Bộ tư lệnh Quân khu 7 và sau 1975, có nhiều đóng góp cho việc quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh.

Kĩ sư vũ khí Bùi Hữu Thích (khóa 1) hy sinh ngày 22 tháng 8 năm 1972, tại mặt trận Quảng Trị. Ba của anh là trung tá Bùi Hữu Xích, đã nhiều năm công tác ở Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng).

Trong “Sinh ra trong khói lửa” tập I có một bài kể lại chuyện cảm động của các bạn khóa 3 tìm về nghĩa trang liệt sĩ tận biên giới phía Tây-Nam, đưa hài cốt liệt sĩ Ngô Ngời về quê hương Quảng Ngãi. Đại tá Ngô Câu, ba của liệt sĩ, trong cuốn sách này đã có thư cảm ơn quân đội và thầy trò trường ta thật cảm động.

Trong số các bạn khóa 3 ra trận còn có Lê Minh Tân. Anh đã hy sinh ngày 1 tháng 4 năm 1974, tại mặt trận Quảng Nam. Thân phụ liệt sĩ, đại tá Lê Bưởi có nhiều năm công tác tại Bộ Tổng tham mưu, đã gửi cho Ban Biên tập thư và di ảnh quý giá của liệt sĩ. Trong bức thư đầu tiên cũng là bức cuối cùng gửi về nhà, anh đã hứa “được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà!”.

Trong số những học sinh từ miền Nam, vượt qua sự bao vây của kẻ thù, ra tới miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có Võ Dũng (khóa 5). Năm 1966, má và hai em Dũng đã hy sinh. Thề trả thù nhà, đền nợ nước, Võ Dũng quyết tâm xin về Nam đánh giặc. Tới Sài Gòn, không chịu làm lính thông tin, bạn đã dấu ba (bác Sáu Dân, sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt), xin bằng được các chú để về Khu 9, làm lính trinh sát. Trong một chuyến đi trinh sát, bạn đã lọt vào ổ phục kích và anh dũng hy sinh.

Các liệt sĩ của trường ta mỗi người mỗi vẻ! Trường hợp liệt sĩ Vũ Chí Dũng (khóa 4) cũng thật đặc biệt. Bố Dũng là bác Vũ Công Thuyết, thứ trưởng Bộ Y tế; Dũng đã qua vòng khám tuyển, thừa tiêu chuẩn đi học lái máy bay chiến đấu ở Liên Xô. Vậy mà Dũng kiên quyết xin về đơn vị chiến đấu. Bạn phấn đấu thành trung sĩ, tiểu đội phó và hy sinh ngày 6 tháng 12 năm 1971, tại Kon Tum.

Ba bạn khóa 5 hy sinh ở mặt trận Quảng Trị là Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường và Trịnh Thúc Doanh. Bố của Nguyễn Lâm là đại tá Hoàng Hữu Kháng, người được theo bảo vệ Bác Hồ suốt thời gian kháng chiến chống Pháp (1945-1951)1. Sau này, bác Kháng là cục trưởng Cục cảnh vệ, Bộ Công an.

Bác Vũ An, bố của Vũ Kiên Cường, theo gia đình sang Lào từ ngày tản cư năm 1946, sau đó sang Thái Lan. Tại đây bác đã hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, rồi phụ trách Tổng hội Việt kiều cho tới năm 1973 mới về nước. Suốt thời gian đó, mấy anh em Cường được mẹ tần tảo nuôi dưỡng. Cho dù bố đi công tác xa và luôn phải đối đầu với sự hiểm nguy nhưng được sự dạy dỗ của mẹ cùng những dòng tâm sự của bố gửi về qua những lá thư, anh em Cường đã biết sống có lí tưởng. Khi có Tổng động viên, là sinh viên Thuỷ lợi, bạn đã ra đi thật nhẹ nhàng, không chút đắn đo. Hôm rồi, gọi điện ra thì mẹ Cường cho biết cũng nhờ nhiều người tìm kiếm nhưng mộ phần của Cường vẫn chưa tìm được.

Đại tá Phạm Văn Đông, bố của Phạm Văn Hạo (khóa 5), ngày đó công tác ở Cục Địch vận. Sợ bị bố phát hiện nên trong đơn xin đi bộ đội đã thay tên, đổi họ thành Phạm Vũ Nhân. Hạo mang theo cái tên mới vào chiến đấu ở B2 và hy sinh ở sát biên giới Campuchia. Gia đình đã tìm thấy mộ phần của bạn ở nghĩa trang liệt sĩ Long An.

Khóa 6 có liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân hy sinh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bố của Tiến Quân là bác Đồng Sĩ Nguyên, trung tướng, nguyên tư lệnh Đoàn 559, cả cuộc đời có nhiều kỷ niệm gắn với chiến trường. Những năm tháng gần đây, bác vẫn rong ruổi với mơ ước hoàn thành con đường Hồ Chí Minh lịch sử.

Liệt sĩ thứ hai của khóa 6 là Chu Tấn Quang. Bạn hy sinh anh dũng trong những ngày chống lấn chiếm sau Hiệp định Paris. Ba của Quang, trung tá Chu Tấn Đạt, người tiếp quản trường Quân cụ Gò Vấp năm 1975. Tháng 8 năm 1975, ông cùng đơn vị tìm thấy mộ phần của Quang nhưng phải chôn lại vì thân thể còn nguyên. Vậy mà gần ba chục năm nay, nhiều lần gia đình cùng đồng đội trở lại chiến trường xưa tìm kiếm mộ phần mà không thấy!

Võ Nguyên Trọng (khóa 6) - chiến sĩ của sư đoàn 1, quân khu 9. Trọng là con bác Võ Nguyên Lượng, nguyên bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa. Ban Liên lạc đã nhiều lần nhắn tin tìm đồng đội qua báo chí. Và mới đây thượng tá Phạm Quang Thư, đồng đội của Trọng, đã có thư báo rằng liệt sĩ đã được mai táng tại nghĩa trang xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (gần Ngã ba Hòn Chông). Tháng 8 năm 2004, khi cuốn sách đang biên tập dở dang thì chị Vân, chị của Trọng, đang lên kế hoạch đi tìm em. Hy vọng mộ phần của Trọng sẽ tìm thấy!

Khóa 6 có một liệt sĩ, hy sinh ở mặt trận Quảng Trị vào dịp “Mùa hè đỏ lửa”, đó là Đặng Bá Linh. Linh nhập ngũ đầu năm 1972, được huấn luyện rồi hành quân ra mặt trận. Ngay trận chiến đầu tiên, Linh đã hy sinh tại cao điểm 105 bắc, xã Hải Lệ, huyện Hải Lăng. Bố Linh, bác Đặng Ngọc Trác, ngày đó là trưởng ban Vận tải (Bộ Giao thông, vận tải); còn mẹ là cô Đặng Thu Hồng, một sĩ quan của Bộ Công an (trước khi nghỉ hưu là đại tá). Sau ngày quy tập Linh về nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Lệ, không may “thông tin của Linh” trong lọ penecicline đã bị thất lạc, nên đến nay mộ bạn vẫn khuyết danh!

Nhà báo, liệt sĩ Ngô Tất Thắng - con đại tá Ngô Từ Vân, nguyên Tổng biên tập tạp chí Quân đội Nhân dân. Vừa tốt nghiệp Đại học Báo chí, Thắng xin về làm phóng viên Báo Quân đội Nhân dân. Khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây-Nam, vừa mới cưới vợ, vậy mà Thắng đã xung phong ra ngay mặt trận. Và anh đã hy sinh anh dũng như một người lính chiến!

Khóa 7 có liệt sĩ Y Hoà hy sinh tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Bác Y Wang, ba Y Hoà là người dân tộc Tây Nguyên, từng đảm nhiệm chức Phó ban Dân tộc Trung ương. Sau ngày thống nhất, nhiều lần gia đình đã ra tận Quảng Trị để tìm kiếm mộ phần, nhưng vô vọng. Cuối cùng, gia đình mang nắm đất ở mặt trận đưa về nghĩa trang liệt sĩ Buôn Mê Thuột xây mộ phần cho bạn.

Liệt sĩ trẻ nhất của nhà trường là Bùi Thọ Tuyến. Là học sinh khóa 8, ngày trường giải thể, Tuyến về Thái Bình vì bác Bùi Thọ Tư nhận hiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Quê hương Năm tấn cũng là nơi cung cấp nhiều con em cho chiến trường. “Bố lặn lội, động viên nhân dân cho con em đi bộ đội thì lẽ nào mẹ lại ngăn con thực hiện ước mơ làm nghĩa vụ vẻ vang này”, Tuyến tuy chưa đủ tuổi nhưng bắt mẹ xin các chú cho đi bằng được. Tại chiến trường, chỉ còn một năm nữa là chiến tranh kết thúc, vậy mà Tuyến đã hy sinh!

Còn bao liệt sĩ nữa, Ban Biên tập chưa tìm được hết thông tin để đưa vào bài viết. Thật là áy náy! Mong rằng, thầy, bạn ở khắp nơi khi có trên tay cuốn sách, hãy cùng chúng tôi làm những việc sưu tập mà cho tới nay chưa làm trọn vẹn. Cũng là một việc tốt cho đời và đền đáp phần nào những gì những đồng môn, những người bạn thân thiết, cùng “sinh ra trong khói lửa” đã hy sinh cho cuộc sống của chúng ta hôm nay!

B.B.T

 



1 -  Một trong những người được Bác đặt tên “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi”.



15 - Cùng nhau làm việc nghĩa tình - Trần Kiến Quốc K5, SRTKL2: 71-75



Cùng nhau làm việc nghĩa tình


KIẾN QUỐC

refont.com - Glitter textáng thứ Bảy, 26 tháng 7, tôi nhận được tin nhắn từ Hà Nội của Hữu Thành (khóa 4): “Gia đình đã chuyển hài cốt liệt sĩ Vũ Chí Dũng từ Sa Thầy (Kon Tum) về Hà Nội. Sáng mai, 7 giờ 30, sẽ tổ chức truy điệu tại Đài hóa thân hoàn vũ Văn Điển”. Vừa đọc xong, nước mắt đã giàn giụa: Thế là anh em Trỗi lại vừa làm được một việc nghĩa!

Xúc động nhớ lại, sau khi cuốn “Sinh ra trong khói lửa” được phát hành, tuy đã có nhiều cố gắng nhưng những người tham gia biên soạn vẫn thấy áy náy. Dường như vẫn thấy thiếu nhiều điều cần nói; đặc biệt, nhiều liệt sĩ chưa có mặt! Chúng tôi vẫn trăn trở… Luôn nhớ, ngày ở trường, chúng ta đã thương yêu nhau hơn cả anh em ruột, khi xa nhau vẫn vậy. Nếu biết phát huy sức mạnh tập thể thì nhất định sẽ tìm kiếm được nhiều thông tin về các liệt sĩ còn vắng! Và chúng ta đã làm…

Trước Tết Nhâm Ngọ (2002), Tăng Tiến (khóa 8) gọi điện vào báo tin: Khóa 6 còn một liệt sĩ chưa có tên trong danh sách, đó là Đặng Bá Linh, hy sinh ở Quảng Trị 1972. Đồng đội của Linh ở sư 330-338 đang chạy thủ tục, để anh được truy tặng Kỷ niệm chương “Thành đồng Tổ quốc”. Đầu hè năm ấy, đại diện thầy trò ở thành phố Hồ Chí Minh đã đến thăm và chuyển kỷ niệm chương cho gia đình. Đây là một vinh dự không chỉ cho gia đình mà còn cho cả nhà trường! Hôm đó, Ban Liên lạc phía Nam cùng đại diện khóa 2, khóa 6 và Tăng Tiến đã có một buổi họp mặt thú vị. Thật bất ngờ, người ra đón đoàn lại là Đặng Quý Lai, anh trai Linh, học sinh khóa 2 trường Trỗi!

Sau đó, việc tìm kiếm thông tin các thầy trò liệt sĩ được tiếp tục triển khai. Từ hồ sơ của các thầy ngoài Hà Nội gửi vào, ta biết thêm được thầy Nguyễn Đăng Đạo, cán bộ quản lý học sinh khóa 8, đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ.

Nhân Ngày thương binh, liệt sĩ năm ấy, anh em khóa 6 đã đến thăm gia đình liệt sĩ Chu Tấn Quang. Mẹ Quang và em trai đón chúng tôi như đón Quang trở về. Cô trăn trở, đã 30 năm rồi mà vẫn chưa tìm được mộ Quang. Một kế hoạch phối hợp với gia đình tìm mộ liệt sĩ được vạch ra. Dương Thái Biên đã liên hệ với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Có di ảnh của Quang, cô đã thắp hương và “nói chuyện” với liệt sĩ. Theo “chỉ dẫn” của Quang, cô đã vẽ lại sơ đồ nơi anh đang nằm. Quang còn “nói”, rất mong gia đình và bạn bè tìm đến. Tấm sơ đồ đã được chuyển cho gia đình và chờ ngày tổ chức đi tìm mộ.

Vào dịp Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 2002, qua bạn bè mà Ban Liên lạc khóa 5 tìm được Đỗ Tấn Mỹ, sau hơn 30 năm thất lạc. Từ Tấn Mỹ và Tô Văn Hoành, chúng ta có được thông tin chính xác về sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc. Anh đã anh dũng hy sinh tại thành phố Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 1968, khi chỉ còn ba tuần lễ nữa là giặc Mỹ phải tạm ngừng ném bom trên miền Bắc! Ngay sau đó, Ban liên lạc phía Nam đã phát động anh em cùng đóng góp, lập sổ tiết kiệm cho gia đình liệt sĩ. Trong buổi họp mặt cuối năm, anh em khóa 5 đã góp được 1,4 triệu đồng gửi ra Hà Nội cùng với 1 triệu của các bạn khóa 4 và 150 Euro của ba bạn (Hoàng Quang, Tôn Gia Quý, Phạm Võ Hùng) ở Cộng hoà Liên bang Đức gửi về.

Tiếp sau đó, Hoàng Anh (khóa 6) gửi bài cho chúng tôi, báo tin trong danh sách liệt sĩ còn thiếu liệt sĩ Nguyễn Mạnh Minh của khóa 6. Thông qua Mạnh Quang (khóa 4), anh trai Minh, chúng ta dần có những thông tin của Minh. Hiện bạn đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn và hè năm nay (2003), cô giáo Bích Liên (em gái Nguyễn Đức Cảnh (khóa 6), đang sống tại Quy Nhơn) đã thay mặt các anh trường Trỗi ra viếng thăm anh Minh. Đây là một câu chuyện cảm động! Qua Liên, chúng tôi có được điện thoại của chị Hồng, người quản trang, chăm nom phần mộ của Mạnh Minh và đồng đội. Nối máy được với Nghĩa trang Trường Sơn, chúng tôi đã nói chuyện và chân thành cảm ơn chị. Xin chị hãy coi chúng ta như những người bạn quen biết từ lâu! Là một cựu chiến binh thời chiến tranh biên giới, chị rất mộc mạc, giản dị, sẵn sàng đảm nhận phần việc chăm sóc mộ phần của Minh và hàng nghìn đồng đội của anh!

Để chuẩn bị xuất bản cuốn sách, Ban biên tập (lần này, sách do toàn trường xuất bản nên dùng cụm từ này hợp lý hơn!) đã vận động anh em đến từng gia đình xin tư liệu, thư từ, di ảnh của các liệt sĩ. Qua những lần gặp gỡ lại có thêm nhiều thông tin quý báu. Chúng ta đã có trong tay những lá thư từ mặt trận gửi về của liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc, Chu Tấn Quang, Nguyễn Mạnh Minh, Nguyễn Lâm, Y Hòa, Bùi Thọ Tuyến, Lê Minh Tân… Trong việc làm này, Tạ Việt Chiến (khóa 3), Nguyễn Hữu Thành (khóa 4), Lê Hoà Bình, Hoàng Chương, Y Nguyên, Tô Văn Hoành (khóa 5), Lê Trí Dũng, Nguyễn Thắng Lợi, Hồ Bá Đạt (khóa 8)… là những bạn nhiệt tình đóng góp cho công việc chung. Xin cảm ơn các bạn!

Đặc biệt, xin cảm ơn các gia đình liệt sĩ đã bảo quản, giữ gìn và tin tưởng trao cho chúng ta thông tin và di vật của liệt sĩ!

Và hè năm nay, khi Báo Tuổi trẻ vừa phát động cuộc tìm kiếm “Những lá thư thời cứu nước” thì Ban Liên lạc phía Nam là người tham gia sớm nhất. Chúng tôi xác định, đây là chiến dịch quảng bá, làm vẻ vang tên tuổi 28 anh hùng, liệt sĩ và tô đẹp thêm truyền thống trường Thiếu sinh quân chúng ta. Những bức thư của liệt sĩ Mạnh Minh đã vinh dự được Tuổi trẻ cho lên khuôn ngay loạt bài số 1! Tiếp sau đó, những lá thư của liệt sĩ Nguyễn Lâm, Y Hoà được đăng tải vào dịp 27 tháng 7.

Gia đình các liệt sĩ luôn coi chúng ta là một đầu mối để liên hệ tìm kiếm. Đây là một vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm! Còn bao nhiêu liệt sĩ của chúng ta chưa tìm được hài cốt, có những liệt sĩ tìm được rồi nhưng vì nhiều điều kiện đang từ có danh mà trở thành khuyết danh. Bao nhiêu năm rồi mà nỗi đau ấy vẫn còn day dứt!

Mới đây, gia đình và đồng đội của liệt sĩ Võ Nguyên Trọng (khóa 6) đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin mới về anh. Là lính sư đoàn 1, anh cùng đồng đội lăn lộn khắp các mặt trận thuộc dải đất cực nam Tổ quốc. Lần đó, anh bị trúng đạn pháo của địch. Đồng đội cố gắng cứu chữa nhưng vết thương quá nặng, không qua khỏi. Anh được chôn cất ở xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, gần Ngã ba Hòn Chông, tỉnh Kiên Giang. Hy vọng rằng với những thông tin này, chúng ta cùng gia đình sẽ tìm ra mộ phần của anh!

Năm rồi, các bạn khóa 4 ở Hà Nội đã phối hợp với chúng tôi để lấy được thông tin chính xác về mộ phần của liệt sĩ Vũ Chí Dũng từ sư đoàn 10 - Đoàn Đắc Tô (Quân đoàn 3). Dựa vào thông tin ấy, gia đình liệt sĩ đã đến tận Nghĩa trang liệt sĩ Sa Thầy đón bạn về Hà Nội. Đúng sáng ngày 27 tháng 7, Ban Liên lạc trường cùng đại diện các khóa và thầy Mạnh, thầy Bân (đại đội trưởng của Vũ Chí Dũng ngày ở trường) đã có mặt trong lễ truy điệu. Thế là sau 30 năm, bạn đã về với quê hương và gia đình. Thật là vui vì trong việc làm nghĩa tình này có sự đóng góp của anh em ta!

Cũng sáng 27 tháng 7, chúng tôi nhận được thông tin về “liệt sĩ út ít”– em Bùi Thọ Tuyến (khóa 8) - từ Lê Trí Dũng, bạn cùng khóa. Sau khi nhà trường kết thúc đào tạo, em về thị xã Thái Bình. Hè năm 1971, học xong lớp 8, em làm đơn bằng máu xin đi bộ đội. Vì tuổi đời mới 16 nên nguyện vọng của em bị từ chối. Không nản, Tuyến đã giục mẹ chuyển hồ sơ về huyện Đông Hưng. Em đi theo quân số của huyện, nhập ngũ về binh chủng đặc công và sau đó đi “B”. Ngày 23 tháng 3 năm 1974, chỉ còn hơn một năm là chiến tranh kết thúc, vậy mà em đã hy sinh trong một trận chiến đấu không cân sức. Bao nhiêu năm rồi, gia đình không hề biết đơn vị của em và nơi em yên nghỉ. Việc còn lại, chúng ta sẽ cùng gia đình tiếp tục làm…

Khi làm những việc này, anh em Trỗi luôn nghĩ, đây là trách nhiệm của những người còn sống vì, chỉ có sự hy sinh của những người con ưu tú của dân tộc, trong đó có các thầy, các bạn trường Nguyễn Văn Trỗi, thì chúng ta mới được sống hạnh phúc đến ngày hôm nay. Xin nghìn lần cám ơn các thầy, các bạn - những liệt sĩ của nhà trường!

 

Ghi chép nhân Ngày thương binh, liệt sĩ năm 2003
K.Q

 

17 - Viếng mộ Anh Hoàng Văn Thụ - Lê Võ Tiến Hưng K1, SRTKL2: 79





Viếng mộ anh Hoàng Văn Thụ
Kính tặng hương hồn người cộng sản kiên cường !



LÊ VÕ TIÊN HƯNG
Học sinh khóa 1

refont.com - Glitter textôi đến bên Anh
Mang vòng hoa đẹp nhất
Đặt lên nấm mồ xanh
Hương còn bay ngây ngất

Nơi đây không giá lạnh
Không tiêu điều hoang vu
Ở đây có sức mạnh
Và cả mối căm thù

Anh Thụ ơi,
Anh còn sống mãi
Như ánh mặt trời
Sáng muôn vàn thời đại

 

Máu của Anh nhỏ xuống
Cho bao bông hoa nở
Máu của Anh nhỏ xuống
Đỏ thắm mãi màu cờ

Hôm nay, xuân về trên đất nước
Chúng tôi ôn lại sự tích anh hùng
Theo dấu chân Anh thề tiếp bước
Quyết giành lấy thắng lợi cuối cùng

Rặng phi lao ru gió
Thơm man mác mùi hương
Bóng hình Anh đâu đó
Người cộng sản kiên cường

Xuân Bính Ngọ 1966
L.V.T.H

 


19 - Lời tâm nguyện của chúng tôi - (Thầy giáo Nguyễn Chi Phan) - SRTKL2: 83-85

 
Lời tâm nguyện của chúng tôi
(Nhân ngày giỗ đầu Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi)

Thầy giáo NGUYỄN CHI PHAN *

refont.com - Glitter textách đây vừa tròn một năm, hồi 11 giờ, ngày 15 tháng 10 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi – người con trên mảnh đất Thành đồng đã đi vào lịch sử…

Lại một lần nữa, bọn đao phủ Mỹ-ngụy cướp đi của chúng ta một người đồng chí trung kiên. Xót đau, căm thù và uất hận… Tình cảm này được chi đoàn giáo viên trường Nguyễn Văn Trỗi thể hiện sâu sắc trong buổi mít-tinh lên án tội ác của bọn giết người; và sau này, còn được thể hiện bằng hành động thực tế hàng ngày.

Một con người, nói như nhà thơ Tố Hữu, “như chân lí sinh ra”, có bao giờ chết được. Anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn sống, sống mãnh liệt hơn bao giờ hết! Cũng như nhiều chi đoàn khác, chi đoàn giáo viên chúng tôi đã long trọng tổ chức lễ kết nạp anh làm đoàn viên danh dự của chi đoàn. Từ đó, bên cạnh chúng tôi, có người bạn chiến đấu, luôn luôn động viên, dẫn dắt mọi ý chí, hành động của mình. Chúng tôi tổ chức phong trào thi dua với các tên gọi “Giờ dạy và học Nguyễn Văn Trỗi”, “Làm phần việc của anh Nguyễn Văn Trỗi”, “Lao động lấy thành tích trả thù cho anh Nguyễn Văn Trỗi”…

Lời anh nói “Hãy nhớ lấy lời tôi…” và những bài thơ, bản nhạc, áng văn ca ngợi anh đã khắc ghi trong tâm trí chúng tôi, thôi thúc mọi người hành động có hiệu quả.

Cái chết “bất tử” của anh là ở đó! Đã từ lâu, chúng tôi tha thiết muốn sống, muốn học tập anh không chỉ qua 9 phút lịch sử giữa pháp trường mà qua cả đoạn đời đầy khí phách, hào hùng của người anh hùng. Tác phẩm “Sống Như Anh” ra đời, đã đáp ứng nhu cầu đó. Lúc sách chưa xuất bản, nhiều đồng chí đã tìm hiểu các đoạn trích đăng trên báo. Chúng tôi nhớ mãi những buổi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi tác phẩm này. Tối tối, cứ đến 10 giờ, mọi người lại tề tựu xung quanh radio để theo dõi. Chúng tôi nghe bằng cả tấm lòng khâm phục và kính trọng.

Hôm phân phối sách về, ai nấy vô cùng cảm động khi được mắt thấy, tay cầm quyền sách còn thơm mùi dầu. Chúng tôi tổ chức đọc tập thể tác phẩm “Sống Như Anh”. Nhiều đồng chí còn ghi cảm tưởng bằng thơ, bằng văn xuôi, viết nhật kí, viết thu hoạch… Nội dung toát lên mấy ý chính:

- Học tập ở anh Nguyễn Văn Trỗi lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; tình yêu nhân dân, yêu Tổ quốc thiết tha; tình cảm vợ chồng chung thuỷ, nồng thắm.

- Tinh thần dũng cảm, ngoan cường trước kể thù; hy sinh quyền lợi riêng tư và cả thân mình đề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng, vì lợi ích của nhân dân.

- Niềm lạc quan cách mạng; tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của quần chúng; tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phần liên hệ bản thân rất phong phú, mỗi người đều có tâm tư riêng. Những thiếu sót được bộc lộ và có biện pháp khắc phục cụ thể. Cuộc đời và sự nghiệp anh hùng của Nguyễn Văn Trỗi đã tiếp thêm cho chúng tôi niềm tin cũng như sức mạnh để cùng nhà trường vượt qua khó khăn, trở ngại. Trong chi đoàn giáo viên của trường Nguyễn Văn Trỗi, lúc đầu, có đồng chí chưa quen với công việc nặng nhọc, cuộc sống ở núi rừng. Sức khỏe một số người bị giảm sút, do điều kiện sinh hoạt, vật chất thiếu thốn. Trước thực trạng đó, mọi người đều đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, noi gương anh Nguyễn Văn Trỗi, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày mai đây, nhà trường bước vào năm học mới, khác nào như bước vào trận chiến đấu mới, tuy không có máu lửa, súng đạn nhưng không kém phần gay go, gian khổ. Chúng tôi đều lo lắng trước nhiệm vụ giảng dạy của mình, làm sao cuối năm học, 100% học sinh của mình được lên lớp với chất lượng cao.

Tối hôm nay, bên mé rừng quê hương chiến khu Việt Bắc, trước anh linh Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi, những đoàn viên trong chi đoàn giáo viên xin nguyện tiếp tục giương cao ngọn lửa cách mạng trong bước đường đi tới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học đầu tiên của nhà trường.

Yên Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên.
Ngày 15-10-1965
N.C.P




* Đại tá, Nghệ sĩ ưu tú, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên giám đốc Trung tâm Truyền hình quân đội.