Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Về quê Anh Trỗi


Lần đầu tiên khóa 8 tổ chức gặp mặt toàn khóa (cả 3 miền) tại Đà Nẵng từ ngày 16 - 18/8/2016 nhân dịp kỷ niệm 49 năm ngày gia nhập trường VHQĐ TSQ Nguyễn Văn Trỗi.

Một việc làm có ý nghĩa là toàn khoá đã về thăm quê Anh Trỗi & dâng hương hoa tại Nhà Tưởng Niệm (làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam).





Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Giỗ Linh Cố

Đám giỗ Linh Cố thằng em tôi

Vạn bước xa xôi bùi ngùi nỗi...
Xưa xưa đôi ngả chốn mơ thôi...
Có biết đời trôi đi vội vội...
Chiều dài nỗi nhớ mỗi năm đong...


Đăng Công Huấn

Ảnh Đăng Công Huấn, Thang Nguyentoan, Nguyễn Anh.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Giỗ Huỳnh Kim Trung (20/8/1972 - 20/8/2016)!


Bài viết sau ngày giỗ thứ 44 của bạn Huỳnh Kim Trung cùng với những tư liệu quý được tận mắt trông thấy

Tuổi 20 của Anh hùng liệt sĩ
Huỳnh Kim Trung




QĐND - Ngày 20-8-1972, máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống bến phà. Huỳnh Kim Trung cùng đồng đội lao vào cứu kho đạn. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, anh bị thương nặng. Được cấp cứu nhưng máu ra nhiều, biết không thể sống được, Huỳnh Kim Trung đã nói với đồng đội: “Cứ để mình nằm đây, đi cứu chữa cho những người khác nhẹ hơn…”, rồi anh tắt thở. Huỳnh Kim Trung hy sinh khi tuổi vừa 20, đúng hai tuần sau khi viết những dòng nhật ký cuối cùng.




Di ảnh Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung



Ngày 5-8-1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học ở Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Là con em cán bộ thuộc cơ quan Bộ Quốc phòng đang ra mặt trận, bọn trẻ tuổi 14-15 chúng tôi được tập trung sơ tán lên doanh trại Trường Văn hóa Bộ Tổng tư lệnh đóng ở Trại Hòe, Hiệp Hòa, Bắc Giang. Huỳnh Kim Trung nhập học khóa 5 từ tháng 5-1965. Ngày 15-10 năm ấy, tròn một năm sau ngày anh Trỗi hy sinh, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Văn hóa Quân đội mang tên anh, đào tạo học sinh từ lớp 5 đến lớp 10, theo mô hình trường Thiếu sinh quân, để chuẩn bị lớp kế cận sau chiến tranh. Là con em miền Nam tập kết, Huỳnh Kim Trung đau đáu nhớ về quê hương, ước mong học xong được trở về miền Nam chiến đấu. Trung chăm chỉ học hành, sống giản dị, kiệm lời và rất quý trọng bạn bè. Trung còn khéo tay, hay vẽ và tham gia làm báo tường đại đội. Tốt nghiệp chương trình phổ thông hè 1970, hầu hết chúng tôi nhập ngũ, vào học Trường Đại học Kỹ thuật quân sự hoặc quân y, riêng Huỳnh Kim Trung có tiêu chuẩn đi học nước ngoài, nhưng anh xin ba mẹ cho ở lại trong nước học tập và thi vào Trường Trung cấp Công an ở Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội.

Năm 1972, tình hình chiến trường miền Nam ác liệt hơn. Ngoài miền Bắc, sau khi thực hiện “tạm ngưng bắn phá có hạn chế”, giặc Mỹ lại điên cuồng đánh phá từ Vĩ tuyến 17 trở ra. Tháng 4-1972, Huỳnh Kim Trung tình nguyện cùng các học viên vào thực tập tại Quảng Bình. Vùng “cán soong” này trở thành tọa độ lửa, ngày đêm hứng bom đạn Mỹ. Tại phà sông Gianh, Trung nhận nhiệm vụ của chiến sĩ cảnh sát giao thông, điều động những chuyến phà chở bộ đội, vũ khí vào Nam.


Trang bìa cuốn nhật ký của Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung


Chiến tranh, việc liên lạc bằng thư từ rất khó khăn. Mãi sau khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi mới được đọc những trang nhật ký của bạn. Những dòng chữ giản dị được viết trong cuốn nhật ký mà ngoài bìa có hai khổ thơ do chính anh viết:
Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vào đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn vui sướng
Vấp ngã, sợ gì, rèn luyện bước thành công!
Và:
Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy.

26-6-1972

Như vậy lại sắp hết 3 tháng thực tập tại Quảng Bình. Đáng lẽ hôm nay mình và các bạn chuẩn bị đồ đạc, tổng kết để trở về Thủ đô yêu dấu. Đùng một cái, có lệnh ở lại công tác thêm một thời gian nữa. Thầy Chi, phụ trách tụi mình, đã có giấy gọi về trường. Đêm hôm chia tay thật là bùi ngùi, lưu luyến. Kể ra thì có buồn thật, nhớ nhà và bà con cô bác, nhớ H., nhớ Hà Nội… bao nhiêu tình cảm vui buồn lẫn lộn… Thế nhưng biết làm thế nào được, đây là nhiệm vụ của cách mạng, của Đảng giao, ta phải phục tùng và làm trọn. Nghĩ đi nghĩ lại thấy mình còn thua xa những chiến sĩ vô Nam đã hàng chục năm nay, hoặc nhiều đồng chí công tác trong này từ 1966…

Biết đến bao giờ mình mới được ghé thăm nhà, dù chỉ một lần thôi, rồi đi bất cứ đâu cũng được; vì hôm vô đây đâu có kịp ghé qua nhà!

Như vậy, bắt đầu từ nay, mình đã thực sự bước vô đời! Một cuộc sống mới đang mở ra trước mắt mình với đầy gian nan, vất vả, nhưng đầy vinh quang.

30-6-1972

Mấy ngày nay địch đánh ngày càng căng, do chiến trường ta đang thắng lớn, địch như con thú dữ cùng đường đâm cắn càn. B-52 của chúng ngày nào cũng rải thảm. Đã 10 ngày nay rồi, đất Quảng Bình luôn hứng bom B-52. Có lần, mình cùng anh Vân đi đào hầm ở nhà anh ấy. B-52 rải thảm cách đấy có 1km. Bom nổ xé trời, đất rung chuyển như muốn sập xuống, như muốn tung lên tất cả. Nghe nó rền rĩ, ầm ào như bão tố; thế mà hai anh em cứ nhìn nhau cười (vì hầm mới đào tới ngang đầu gối). Nguy hiểm thật!

Suốt 15 ngày qua, đêm nào cũng mất ngủ, thật vất vả. Ngày dỡ nhà cũ, dựng nhà mới ở chỗ khác, rồi đào hầm, đắp hầm… đêm lại trực. Một ngày ngủ nhiều nhất có 2-3 tiếng. Người đen thui, hốc hác, hai hố mắt trũng sâu. Thế nhưng vẫn ca hát, vui cười. Giờ được đi nghe ca nhạc thì vui biết mấy, hoặc có cây ghi-ta cũng được. Kỷ niệm về những đêm ca nhạc hay chiếu phim ở Hà Nội mãi sống trong lòng tôi.

Hà Nội yêu dấu của tôi đang chiến thắng giặc. Hà Nội, quê hương thứ hai của tôi ơi! Sẽ có ngày tôi trở về với chiến công chói lọi từ tuyến lửa anh hùng.

8-7-1972

Trưa nay nằm trong hầm, tôi giở sổ tay viết vội vài dòng cho khuây khỏa. Suốt 2 tháng trời không được tin nhà, khiến lòng tôi xao xuyến lo âu. Về cá nhân, tôi không lo cho tính mạng của mình, mà lo cho ba má già và bà chị đau ốm với đứa cháu nhỏ ngây thơ, lo cho những người thân của tôi. Không có đài nên tin tức chiến sự cũng mù tịt, chẳng biết gì cả. Buồn thật!

B-52 với chúng tôi bây giờ như cơm bữa. Hôm nay lại vừa hoàn thành một cái nhà và một hầm lớn.

Các o ở đây cứ gặp mình lại trêu chọc (thật khổ cho chàng trai chưa vợ này!). Cũng nhiều lúc họ muốn ngỏ tình chi đây? Thế nhưng, mình cũng ít nói chuyện, mà chỉ cười trừ. Bởi vì phải đợi chờ một hy vọng to lớn, cao đẹp hơn, đó là thống nhất đất nước. Lúc đó mới có thời gian lo nghĩ tới “chuyện kia”. Quê hương sẽ dang tay đón tôi trở về.

6-8-1972

Hôm nay, cùng một lúc nhận được 3 bức thư: Của gia đình, của Mạnh Chiến và Trường (những thằng bạn chí thân). Thật khó mà nói hết nỗi vui mừng của mình. Xem thư ba, thấy gia đình vẫn mạnh khỏe và đi sơ tán. Đó là điều ta lo lắng bấy lâu. Chu Kim Sơn đã lớn khôn và ở với bà ngoại. Đứa cháu giờ lên 2, bé bỏng xinh xinh, chắc giờ này chẳng nhận ra cậu của nó nữa. Cậu đã già và có râu như ông ngoại rồi (!). Mới vô Quảng Bình có 4 tháng mà mình đã già đi nhiều. Nhiều lúc nghĩ mà giật mình!

Tội nghiệp con cháu, mới sinh ra đã phải đi sơ tán, đến lúc chập chững biết đi lại phải nếm mùi bom đạn. Biết bao cháu bé trên đất nước này phải chịu bao cảnh tang tóc, mồ côi do chiến tranh gây nên. Không hiểu những bà mẹ có lương tri trên Trái Đất sẽ nghĩ gì về những cháu bé Việt Nam, những cháu bé vô tội, ngày chỉ biết bú no, ngủ ngon đã phải chịu đau thương, tang tóc như người lớn.

Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu, để lên đường đi khắp mọi miền đất nước, giết sạch những con thú mang hình người kia, để cứu lấy những bà mẹ già, những cháu bé vô tội.

Chúng con sẽ thực hiện lời Bác: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”. Quét sạch giặc rồi, lúc đó con sẽ về phụng sự mẹ già, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác.

Huỳnh Kim Trung đã làm đúng lời hứa với Bác. Giở hồ sơ lưu lại của Phòng Thi đua (Bộ Công an) có ghi:
Ngày 16-4-1972, trong khi máy bay Mỹ đánh phá, anh tham gia giải phóng đoàn xe từ phía Nam ra bị tắc. Ngày 29-4-1972, lại dũng cảm dập lửa trên chiếc xe chở đạn bị máy bay địch bắn cháy, đưa lái xe bị thương đi cấp cứu. Sau đó lại cõng một công nhân bến phà đi cứu thương.
Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một cảnh sát, ngày 12-6-1972, Huỳnh Kim Trung vào làng vận động bà con ra cứu xe hàng của Đoàn 559, đang trên phà bị máy bay Mỹ bắn. Ngay chiều đó, anh lại cùng đồng đội đi cứu một số đồng chí đi dò thủy lôi bị nổ.

Ngày 20-8-1972, máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống bến phà. Anh cùng đồng đội và bà con lao vào cứu kho đạn. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, anh bị thương nặng. Máu ra nhiều, được cấp cứu, biết không thể sống được, Huỳnh Kim Trung đã nói với đồng đội: “Cứ để mình nằm đây, đi cứu chữa cho những người khác nhẹ hơn…”, rồi anh tắt thở. Huỳnh Kim Trung hy sinh khi tuổi vừa 20, đúng hai tuần sau khi viết những dòng nhật ký cuối cùng. Trạm Công an Giao thông phà sông Gianh, Ủy ban Hành chính và Xã đội Quảng Thuận (Quảng Bình) cùng Bộ Công an đã đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân, truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngày 31-12-1973, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.

TRẦN KIẾN QUỐC

Nguồn:
Bài đã đăng trên Sự kiện & Nhân chứng (QĐND) 13 tháng 9/2016,
Tri ân liệt sĩ






Bạn đi đã 44 năm rồi!
Gia đình chọn ngày này làm ngày giỗ (20/8/1972 - 20/8/2016)!
Tran Kienquoc


Với anh em QK 1A Hoàng Văn Thụ, bạn của Hùynh Kim Trung


Ảnh Thang Nguyentoan






Tấn Mỹ‎ > BẠN NVT 21 Tháng 8

TRƯỜNG TA CÓ CÂY ĐA


Làng ta học có cây đa
Nhìn xa xa cây cao ngất từng mây
Cây cao to rộng lá
Trông thật đẹp và oai nghiêm
cây như biểu tượng của trường
Trường ta là trường thiếu sinh quân
trú quân xă an Mỷ đại từ thái nguyên
Thời đánh Mỹ chuyễn về đây
Dưới bóng đa to là đoàn quân nho nhỏ
Đó là các chiến sĩ thiếu sinh quân
Sinh ra từ khói lửa
có đủ mọi lứa tuổi học sinh
Trong chiến tranh rèn đúc họ thành người
Từ kỷ sư đến bác sĩ
Đi khắp các chiến trường
Nội đây cũng sinh ra anh hùng và dũng sĩ
Đã diệt Mỹ ở chiến trường xa
Và cũng có nhiều liệt sỹ
hy sinh cho tổ quốc nầy
Đây là trường thiếu sinh Quân
Vừa là học trò vừa là chiến sĩ
Đi là mang chiến thắng cho trường
Đây là trường thiếu sinh Quân
mang tên anh hùng liệt sĩ nguyễn văn Trỗi


-- Nhân ngày giổ liệt sĩ Anh hùng Huỳnh kim Trung, LÍNH TRỖI có bài thơ tặng Anh -- 18h- 20/8/2016






15/08/2015
HÔM NAY ĐẠI DIỆN K5 PHÍA NAM THAY MẶT CÁC BAN K5 ĐẾN VIẾNG BẠN K5 LÀ LSAHLLVT HUỲNH KIM TRUNG TẠI NGHĨA TRANG LIỆT SỸ TIỀN GIANG .
Chùm ảnh để báo cáo các bạn NVT
Đặc biệt có 1 cây hoa mọc tại mộ của bạn, và ở đây chúng tôi thắp nhang cho LS Trừ Văn Thố , LS NT Hồng Gấm và các ngôi mộ khác

Can Nguyenphuc 15 Tháng 8 2015

CHUYỆN TẠI NGHĨA TRANG LS TIỀN GIANG
Trước mộ Huỳnh Kim Trung


Hôm nay đến viếng anh
Bạn cùng thời ớ Trỗi
Và đi nên cạnh tôi
Cùng bạn bè anh đấy
Đến bên mộ của Trung
Thấy nhành hoa nho nhỏ
Lẻ loi bên mộ Trung
Ngay cạnh chỗ anh nằm
Hỏi thăm hoa mới biết
Chuyện sao giống liêu trai:
Hoa thấy anh nằm đấy
Mãi mãi tuổi đôi mươi
Nên hoa kia len lén
Đến làm bạn anh Trung
Mặc mưa hay nắng lửa
Mặc năm tháng đổi màu
Vẫn dịu dàng e ấp
Hoa vẫn tím thủy chung
...
Vẫn tím màu thủy chung.


PC 15/8/1015
Cùng các bạn K5 và Loan, Lan






Ảnh Can Nguyenphuc, Hưng Phùng‎, Nguyễn Long







Thứ Tư, 20 tháng 7, 2016

Thương nhớ Nguyễn Văn Ngọc!


Tháng 7 với ngày 27

Thương nhớ Nguyễn Văn Ngọc!




Nguyễn Văn Ngọc, liệt sỹ đầu tiên của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi

Trường Văn hóa quân đội – Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi chỉ tồn tại 5 năm (1965 – 1970) nhưng đã đào tạo 8 khóa với 1200 học sinh. Tốt nghiệp ra trường, hơn 900 em đã nhập ngũ và hơn 800 trở thành sĩ quan. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có 2 thầy giáo và 28 học sinh anh dũng hy sinh khi tuổi đời mới đôi mươi.
Nhân ngày 27-7 năm nay, xin ghi lại hồi ức CCB Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

- bạn cùng khóa, cùng tham gia chiến đấu và chứng kiến phút cuối cùng của liệt sỹ Nguyễn Văn Ngọc.




Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (Sinh: 1950. Hy sinh: 10-10-1968)



Ham muốn đánh giặc giỏi
... Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Trước đó, cha mẹ chúng tôi công tác tại Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục hậu cần... nhiều người đã ra trận. Công tác “hậu phương quân đội” cũng vô cùng quan trọng. Vậy là con em cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng được cho sơ tán xa Hà Nội, Hải Phòng... tránh máy bay Mỹ.
Chúng tôi được đón lên doanh trại Trường Văn hóa Bộ Tổng tư lệnh ở Hiệp Hòa, Hà Bắc tiếp tục học tập. Sau 3 tháng thử nghiệm, thấy khả thi, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trường Văn hóa quân đội mang tên Nguyễn Văn Trỗi: dạy – học theo mô hình đào tạo Thiếu sinh quân, chuẩn bị lớp kế cận sau chiến tranh.
Lễ khai giảng đầu tiên tại cửa rừng Tam Đảo, An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái vào ngày 15-10-1965, sau 1 năm này anh Trỗi hy sinh. Do chiến tranh càng ác liệt, đầu năm 1967, nhà trường được lệnh rời Đại Từ, sơ tán sang thành phố Quế Lâm (Trung Quốc).
Nguyễn Văn Ngọc là học sinh khóa 4 của nhà trường. Bạn “đúp” xuống khóa 5 vào đầu năm học (1966 - 1967) khi đại đội 5 đóng quân ở Suối Chì, An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Sang Quế Lâm, Ngọc về cùng trung đội với Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

và tôi thuộc đại đội 71, do thầy Thụy phụ trách.
Ở lớp, có Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

, Tô Văn Hoành

Tô Long Hoành - K3-5




mb 0978994059 - nr056-825175 - cq -- Trần Độc-P. Trần Phú--Quy Nhơn-VN
- Kỹ sư - Cty Thủy sản Quy Nhơn -
- ACE:

02/09/2015

, Võ Dũng - K5

Võ Dũng - K5


1951
1972 – Liệt sĩ, Hy sinh 21-4-1972, Mặt trận Khu 9, Rach Gia
mb 0913.919206 (em gái Hieu Dan) - nr - cq -- ---MN-VN
Liệt sĩ - - -
- ACE:

và Ngọc tuổi đã lớn, không chuyên tâm học hành nên nằng nặc xin nhà trường cho về nước tham gia chiến đấu: “Học chưa giỏi ở nhà trường nhưng sẽ chiến đấu giỏi nơi chiến trường”. Hè 1967, Mỹ, Ngọc, Hoành cùng Võ Dũng và một số bạn lên tầu về nước.
Về đến Hà Nội, các bạn xin các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi chiến đấu. Sau khi cân nhắc, Võ Dũng được xếp về trường Quân chính quân khu Tả Ngạn; còn Mỹ, Ngọc và Hoành về đại đội 6, tiểu đoàn pháo cao xạ 57mm thuộc Trung đoàn 233, Sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội. Từ ngày đó, ba anh em “Lưu-Quan-Trương” thề “sống chết có nhau”!


Những ngày tháng là lính phòng không
Khi thì đơn vị đóng ở bãi Phúc Tân bảo vệ cầu Long Biên, lúc lại về trận địa bên hồ Văn Chương, sau ga Hàng Cỏ; có lúc trận địa chuyển sang Gia Lâm, bảo vệ kho xăng Đức Giang. Những ngày không trực chiến, ba đứa hay mò về Ba Đình “đánh moóc-xơ” báo anh Văn Tiến Trình (con trai bác Văn Tiến Dũng), đang trực phòng không trên nóc Nhà Quốc hội xuống chơi.
Ba đứa đã chứng kiến những ngày gian khổ nhất của trận địa phòng không Hà Nội và không thể quên hình ảnh cầu Long Biên bị trúng bom, gãy nhịp; kho xăng Đức Giang ngùn ngụt cháy. Họ đã cùng Hà Nội chiến đấu đánh trả những đợt đánh phá của giặc Mỹ.
Ngày 31-3-1968, sau Mậu Thân, giặc Mỹ buộc phải tuyên bố “ném bom hạn chế” từ Vĩ tuyến 20 trở vào đến Vĩ tuyến 17: đoạn Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Vĩnh Linh được gọi là “vùng cán xoong”. Mỗi khi phải ngừng ném bom từ Thanh Hoá đổ ra là chúng lại tập trung bom đạn đánh vào “vùng cán xoong”. Một số đại đội của Sư đoàn 361 được lệnh bổ sung cho Sư đoàn 367 bảo vệ miền Trung.
Lẽ thường tình, các chú cho ba đứa ở lại Hà Nội. Vì khi đó, ba Mỹ và Hoành đang chiến đấu ở chiến trường B; còn Ngọc là con liệt sỹ (ba hy sinh trong kháng chiến chống Pháp). Cả 3 thừa tiêu chuẩn đi học tiếp. Nhưng 3 đứa bàn nhau, như vậy sẽ không còn cơ hội đánh giặc và kiên quyết đề nghị Tổng cục cho đi đợt này.
Ngày đơn vị hành quân, trận địa cách nhà có bao xa mà không kịp về chia tay mẹ. Ngọc đã tranh thủ viết vài dòng về nhà:
23 tháng 5 năm 1968
Mẹ kính yêu!
Chúng con vừa nhận được lệnh trên. Xe pháo đã chuẩn bị xong xuôi và ngay ngày hôm nay sẽ lên đường. Có lẽ khi bức thư này tới tay mẹ thì con đang trên đường hành quân vào Khu Bốn chiến đấu và có khả năng sẽ vào sâu hơn. Vì rất gấp nên con không gặp mẹ được, chỉ còn vài tiếng nữa thôi, vậy con gửi thư này đến mẹ để tạm biệt. Cầu mong mẹ khỏe. Có lẽ phải đến khi đất nước thống nhất, hòa bình thì mẹ con ta mới được gặp nhau.
Con xin hứa với mẹ sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao và tu đưỡng tốt để ba mẹ yên tâm. Ba mẹ ở lại khỏe là con mừng. Khi vào đến chiến trường, con sẽ báo tin về. Con của mẹ - Ngọc
Vừa hành quân, vừa chiến đấu. Vào đến thành phố Vinh, khi thì trận địa pháo bố trí ở xã Hưng Dũng bảo vệ Nhà máy nước, lúc lại về Hưng Thuỷ bảo vệ Nhà máy điện và phà Bến Thủy…
Trong khẩu đội, Mỹ là pháo thủ số 1, phụ trách “hướng” và ấn cò; Ngọc là pháo thủ “tầm” số 2 cùng các pháo thủ “cự ly”, “mục tiêu”, tiếp đạn và khẩu đội trưởng. Pháo 57mm mỗi gắp đạn có đến 4 viên nhưng có thể bắn liên tục và hạ mục tiêu ở độ cao đến 6000m. Tuy mỗi người một nhiệm vụ nhưng với khẩu hiệu “Rèn luyện để trở thành pháo thủ toàn năng”, mọi chiến sĩ trong khẩu đội đều có thể thay thế vị trí đồng đội mình.
Giữa thời tiết khắc nghiệt của đất xứ Nghệ, nắng rát đến cháy da và gió Lào thì khô không khốc. Chiều chiều, anh em lại thay nhau chạy ào sang nhà dân, gần trận địa tắm nhờ.
Một lần, nghe kẻng báo động, máy bay Mỹ ập đến, anh em từ nhà dân vội chạy về. Vì đã nhảy vào vị trí của pháo thủ số 2 nên một đồng đội khác thế vào ghế của Mỹ. Ác nghiệt thay, phát đạn 23 ly từ trên máy bay đã bắn xuyên thủng ghế sắt, xuyên tiếp qua lưng người bạn đang ngồi vị trí số 1. Anh bạn đã thay Mỹ hy sinh. Ở chiến trường, giữa cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc! Người này hy sinh lại có đồng đội khác về bổ sung.


Anh dũng hy sinh
Ở miền Trung, có thông lệ, nếu bị máy bay tấn công thì chỉ được phép đánh trả từ sau 4 giờ chiều để tránh bị lộ mục tiêu (vì giặc Mỹ kiểm soát cả từ trên không và từ ngoài khơi). Nhưng sáng 10-10-1968, từ 8 giờ, hàng đàn máy bay đã tấn công phà Bến Thuỷ, hòng cắt đứt đường tiếp vận của ta vào Nam. Nhiều tốp F4H lần lượt lao xuống cắt bom vào trận địa. Bom đạn nổ rầm trời, tai điếc đặc, khói lửa mù mịt, trận địa khét lẹt mùi thuốc súng…
Dân xã Hưng Thuỷ nhìn máy bay bổ nhào xuống trận địa đã khóc thương: Ác liệt thế này chắc các chú bộ đội chết hết! Đại đội thương vong nhiều nhưng vẫn kiên quyết đánh trả. Không một ai rời bỏ vị trí, các ụ pháo vẫn xoay nòng hướng trực diện vào mục tiêu. Khẩu đội trưởng phất cờ, hô to: “Còn sống còn dựng màn đạn. Bắn!”. Cả đại đội dựng lưới lửa, hai chiếc máy bay vừa bổ nhào đã trúng đạn, bốc cháy, lao ra biển.
Những chiếc còn lại điên cuồng vòng lại. Lần này, chúng cắt bom chụp xuống trận địa. Đó là loại bom phát quang, chỉ nổ khi cách mặt đất 4-5m; cây cối trúng mảnh bom đổ rạp như ngả rạ. Bỗng chớp lòe! Ầm! Một quả bom nổ ngay sát khẩu đội. Mảnh bom phạt ngang thân Ngọc chỉ để lại nửa thân dưới, ruột gan lòng thòng, máu me bê bết… Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

lao sang ôm lấy xác bạn, gào lên: “Ngọc, mày chết thật rồi sao?”.
Thế là cái thằng Ngọc, học cùng trường khi ở rừng Đại Từ, bị ngã nước, được bạn bè gán thêm cái biệt danh “ghẻ”; cái thằng Ngọc “tốt”, trắng trẻo đẹp trai, ăn nói dẻo mồm làm xiêu lòng bao cô gái dọc đường hành quân; cái thằng bạn không ỷ mình là “con ông cháu cha”, vẫn nằng nặc xin đi chiến đấu ngày nào, đã mãi đi xa! Nó ra đi khi vừa tròn 18. Ba anh em đã mất một, biết nói sao đây với ba mẹ Ngọc?
Vừa khóc vừa ôm xác bạn ra hố bom cũ còn đọng nước mưa, tạt lên rửa sạch vết máu dính đất cát, Mỹ run lên: “Tao sẽ trả thù cho mày, Ngọc ơi!”. Ngay chiều hôm ấy, đơn vị tổ chức chôn cất các liệt sĩ tại nghĩa trang xã Hưng Dũng. Hận thù trào dâng! Ngày sau, đơn vị tiếp tục hành quân vào Hà Tĩnh và đóng quân tại quê hương cụ Nguyễn Du...
Ba tuần sau, đúng ngày 1-11-1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Ai cũng tiếc thương cho Ngọc. Số phận nó khổ quá! Giá mà chờ thêm ít ngày nữa… Nhưng ai mà nói trước được điều gì, vì đó là chiến tranh!
Sau ngày ngừng bắn, 2 đứa qua nghĩa trang, gói một nắm đất lấy từ mộ Ngọc cho vào ba-lô lên tầu ra Bắc và tìm đến gia đình Ngọc ở Khu tập thể Nam Đồng. Cô Trần Thị Ngọ, mẹ Ngọc, đã ngất đi khi nhận được nắm đất. Chú Nguyễn Chí Điềm (ba dượng của Ngọc), một người lính vào sinh ra tử, nguyên Tư lệnh Bộ đội Đặc công ôm lấy Hoành và Mỹ, nói trong nước mắt: “Ráng chiến đấu trả thù cho Ngọc, các con ạ!”.
Cuối 1968, với những gì đã hứa với bạn, Mỹ và Hoành lại lên đường vào chiến trường đánh giặc cho đến ngày toàn thắng. Đỗ Tấn Mỹ

Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

vinh dự trở thành lính của chú Điềm - trinh sát đặc công Z27, sư đoàn 5 và 2 lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”…

* * *

“Chiến tranh đã qua đi gần nửa thế kỷ, vậy mà tao không quên được những năm tháng ác liệt đó cùng những đồng đội – kẻ còn, người mất. Trên đầu tao, trên người tao vẫn còn mảnh đạn... Có lẽ đó là Hội chứng chiến tranh, mày ạ!” – Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

chia sẻ.
Nhớ về Nguyễn Văn Ngọc, anh lẩm bẩm: “Quên làm sao được cái ngày nó hy sinh; đó chính là Ngày giải phóng Thủ đô”. Năm nào, nếu không ra được Vinh, trở về trận địa năm xưa thắp hương cho đồng đội đã hy sinh là anh lại mua nải chuối, có bát cơm, quả trứng thắp hương cho hương hồn Nguyễn Văn Ngọc và đồng đội.

Cùng Quốc Sủng lập bàn thờ nơi Ngọc hy sinh


Còn với chúng tôi – lứa Thiếu sinh quân thời chống Mỹ, tuy đã bước qua cái tuổi lục tuần nhưng không thể nào quên được những đứa bạn thuở thiếu thời. Chúng tôi luôn tự hào về thầy, cô và mái trường thân yêu, nơi đã đào tạo nên những học sinh như Nguyễn Văn Ngọc - dám hy sinh tuổi xuân của mình vì Độc lập, Tự do của Tổ quốc!



Nguồn: FB Tran Kienquoc - 20 Tháng 7 lúc 4:01 ·

Bài đã đăng trên Sự kiện & Nhân chứng (QĐND) tháng 7/2016