Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Viết bên mộ liệt sĩ vô danh


FB Nguyễn Trọng Tạo 21 Tháng 7 2015·

BÀI THƠ "VIẾT BÊN MỘ LIỆT SĨ VÔ DANH" CỦA NHÀ THƠ TUYẾT NGA ĐƯỢC KHẮC VÀO BIA ĐÁ GẮN TRÊN NGHĨA TRANG Ở HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ.
(BanTroi: Đặng Bá Linh K6 và Trần Hữu Dân K7 cũng yên nghỉ tại Hải Lăng! Mời xem bên dưới)

Nghĩa trang này có gần 2000 ngôi mộ Liệt sĩ chưa biết tên.
Vào 11h30 ngày 13.7.2015 vừa qua, lãnh đạo địa phương và một nhóm đồng đội, bạn hữu từ Hà Nội vào đã trịnh trọng làm lễ gắn bia.
Từ nay, bài thơ luôn hiện diện nơi gần 2000 trái tim Liệt sĩ đang yên nghỉ. Nó là lời ru mà tất cả chúng ta muốn ru giấc ngủ các anh, những người đã hy sinh vì đất nước.

Ảnh: Bài thơ và tác giả Tuyết Nga.




Theo báo điện tử Dân trí
Bài thơ được tác giả viết vào quãng những năm 1988-1990 nhưng chưa công bố. Cách đây 2 tháng, Hội nhà văn Việt Nam đã chọn dịch ra tiếng Anh cho Tuyển tập thơ Viết về chiến tranh để giới thiệu ra thế giới.

Vừa qua, bài thơ được nhóm cựu chiến binh do một Trung tướng dẫn đầu, khắc lên bia đá và mang vào dựng tại một nghĩa trang ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi quy tập gần 2000 ngôi mộ liệt sĩ chưa tìm ra tên tuổi.

Nhà thơ Tuyết Nga hiện đang làm việc tại báo Dân trí.


Xin chia sẻ với người lính còn có mặt hôm nay


có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.


12h trưa nay nhà thơ Hoàng Cát gọi điện cho Tuyết Nga từ Phong Điền-Quảng Trị. Anh nói anh đang ở giữa một vùng sa mạc nắng giữa chiến trường xưa nơi anh từng chiến đấu từng chết đi sống lại mấy lần rằng anh vừa gặp lại 2 người chị đã từng chăm nuôi anh và các đồng đội của mình... giọng anh chan chứa.

Anh Hoàng Cát!

Dù sinh ra nơi vùng quê đầy đạn lửa nhưng trong ký ức tuổi thơ của TN chiến tranh chỉ như một ảo giác xa xăm. Dù vậy TN đã từng trào nước mắt khi đứng trước một nấm mộ có tấm bia khắc dòng chữ "Tên anh chúng tôi không biết nhưng chiến công của anh tổ quốc mãi mãi ghi nhớ". TN xin chép bài thơ TN đã viết trước nấm mộ đó (cách đây tròn 20 năm) như một sự chia sẻ cảm xúc cùng anh. Đây là lần đầu tiên bài thơ được công bố.



Viết bên mộ liệt sĩ vô danh

Tuyết Nga

Nấm mồ xanh
như một giọt lệ ngưng
trên hình hài tổ quốc
chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ
một màu thạch thảo thanh tao.

Vòm trời nào gìn giữ tuổi thơ anh?
mái rạ bờ đê hàng cây góc phố
đê còn xanh và vòm cây còn gió...
từ nơi nào mẹ đã tiễn anh đi?

Anh trở về với cỏ lặng im...

có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.

1987.


Hà Nội trưa ngày 7.7.2007

Tuyết Nga






Blog TUYẾT NGA - 07/07/2007,13:25:28




Nghĩa trang liệt sĩ Huyện Hải Lăng



... nơi hai BanTroi Đặng Bá Linh K6 và Trần Hữu Dân K7 yên nghỉ!







Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ LIỆT SĨ, MỘ LIỆT SĨ VÀ NGHĨA TRANG LIỆT SĨ
http://thongtinlietsi.gov.vn/
Thông Tin Nghĩa Trang Liệt Sĩ
Quảng Trị > Huyện Hải Lăng > Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Hải Lăng (Địa chỉ: Thị trấn Hải Lăng, Huyện Hải Lăng, Quảng Trị)

Danh sách liệt sĩ: Tổng số 1813 mộ liệt sĩ,
LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN là 1259, từ STT 383 (trang 13) đến 1642 (trang 55).



Thông tin Liệt sĩ
Liệt sĩ: LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN
Năm sinh:
Năm hy sinh:
Quê quán: xã , huyện ,
Nghĩa trang: Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Hải Lăng
Vị trí mộ trên sơ đồ Vị trí: Khu: P - Lô: P - Hàng: - Số mộ: 59
Cảm tưởng về liệt sĩ http://thongtinlietsi.gov.vn/cam-tuong/914722

Ảnh chụp mộ liệt sĩ




Theo Nguoiduado.vn
Trang chủ > Danh sách nghĩa trang > Quảng Trị > NTLS huyện Hải Lăng

Nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng nằm ven Quốc lộ 1A thuộc thị trấn Hải Lăng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đây là nơi yên nghỉ của 1699 anh linh các liệt sĩ, trong đó chỉ có 483 liệt sĩ có tên, số còn lại (1216) là mộ liệt sĩ chưa biết tên. Quý thân nhân liệt sĩ cần tìm hiểu thêm thông tin mộ liệt sĩ nơi đây xin liên hệ Ban quản lý Nghĩa trang.

Ảnh nghĩa trang

Ảnh sưu tầm trên mạng



Học sinh trường THCS Thị Trấn Hải Lăng tri ân các Liệt sĩ



Bạn Trỗi viếng thăm:



Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?



Ngày thứ hai, thứ ba trên đường đi gặp bạn - HữuThành.Nguyễn, Thứ Năm, tháng 6 25, 2009 - Blog K4
Bổ sung 17h30, 30/6/2009:
Từ nhà tôi ra cả nhóm rẽ vào NTLS Huyện Hải Lăng. Theo danh sách thì trường ta có 2 LS nằm tại đây là Bùi Hữu Thích k1 và Đặng Bá Linh k6. Trời đã bắt đầu tối, chúng tôi không có thời gian tìm từng mộ, và cũng biết Bá Linh bị lạc tên, nên thắp... thuốc lá thay hương cho các LS nằm đây, trong đó có bạn Trỗi. Đây là điểm thăm viếng ngoài kế hoạch trong ngày nên chúng tôi không nhớ mua hương trước.




QUẢNG TRỊ VÀ MÓN CHÁO CÁ (Tiếp theo) - dathb136 vào lúc 05:28 Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009, Blog K8.
... Nghĩa trang nằm sau đường tàu hỏa nên không có lối vào, phải bỏ xe bên vệ đường. Nghĩa trang tương đối lớn với hàng trăm ngôi mộ. Vào thẳng nhà người quản trang nằm bên trái. Quản trang là một đôi vợ chồng già, cán bộ về hưu. Ông đã 79 tuổi, bà trẻ hơn 63 tuổi nhưng trông như bà lão. Khi biết chúng tôi đi tìm bạn hy sinh ở đó, năm đó thì ông đưa ngay cuốn danh sách từng ngôi mộ. Trong khi Khánh dò tìm, tôi hỏi thăm gia cảnh của ông, được biết gia đình ông cũng có 11 người hy sinh, mà chỉ tìm được có 3 người. Ông vô làm ở đây sau khi về hưu được 2 năm là do có một cái gì đó thôi thúc ông phải làm? Dự định làm 1 năm rồi thôi, nhưng ông đã làm từ đó đến giờ mấy chục năm...




Danh sách Liệt sĩ yên nghỉ tại NTLS huyện Hải Lăng 1 - Thứ năm - 07/07/2011 16:48


Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

Thông tin về Ls Nguyễn Khắc Bình k7


Như đã hứa hồi tháng 11/2016, Đoàn Bình K7

Đoàn Bình - K7

0
1955
0
mb 0936.366869 - nr043.7332307 - cq --T5-79 BC Thông tin---HN-VN
- - -
- ACE:

1972

18/01/2017

tìm được và vừa gửi cho chúng tôi 2 tấm ảnh của Ls Nguyễn Khắc Bình k7.
Xin cảm ơn Đoàn Bình

Đoàn Bình - K7

0
1955
0
mb 0936.366869 - nr043.7332307 - cq --T5-79 BC Thông tin---HN-VN
- - -
- ACE:

1972

18/01/2017

!
Bạn còn hứa sẽ kết nối với gia đình để cấp thêm nhiều thông tin về Ls





FB Tran Kienquoc‎ > đến BẠN NVT, 19 Tháng 1/2017 lúc 12:27

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Viếng chú Lê Bưởi - thân phụ LS Lê Minh Tân k3

Được Linh - em trai Lê Minh Tân - báo tin, trưa nay, Kiến Quốc, Dương Minh, Tấn Mỹ, Hà Chí Thành đã đến viếng chú tại NTLQP Viện 175. Chú Lê Bưởi mất sau thời gian nằm viện ngắn ngày, thọ 95 tuổi. Chú cũng là thân phụ vợ bạn Trần Vinh Quang k5.
Cô Lục vợ chú chính là cô giáo dạy lớp 1, lớp 2 ở trường HSMN tại Cầu Rào, Hải Phòng mà học sinh là Lê Minh Tấn, Tấn Mỹ, Phúc Chiến, Đồng Hiền, Xuân Lăng... Cô Lục cảm động khi thấy trò cũ Tấn Mỹ tới chia buồn. Cô hỏi: "Thế đứa nào là đứa trèo rào trốn học đi chơi ngày đó?", Tấn Mỹ cười nhận lỗi: "Con đấy... Con còn nhớ chú Bưởi thỉnh thoảng tới trường thăm cô và Tân".
Cô kể vẫn giữ bài viết của tôi đọc hôm đón LS Lê Minh Tân từ miền Trung về, tổ chức tại NTLSTP. Thỉnh thoảng cô vẫn mang ra đọc và nhớ tới con cùng các bạn Trỗi. Đó là ngày 14/5/2007, đã gần chục năm nay.
Hà Chí Thành chia sẻ với cô: "Anh Lê Minh Tân đã là tấm gương và niềm tự hào cho cánh TSQ Nguyễn Văn Trỗi chúng con".

Sáng mai, truy điệu chú lúc 6.30.


FB Tran Kienquoc 25/1262016

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

Huyền thoại về người hi sinh cuối cùng

Kỉ niệm 22/12 - Tưởng nhớ các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc

Huyền thoại về người hi sinh cuối cùng


FB Tran Kienquoc 22/12/2016 lúc 8:49 ·
AHLS Phi công Hoàng Tam Hùng - anh trai chị Hoàng Lương Hòa K2

Hoàng Lương Hòa - K2-C11

mb - nr - cq --44 Lý Thường Kiệt---HN-VN
- - -
3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

1966

28/04/2016

và các bạn Hoàng Tam Ngọc K5

Hoàng Tam Ngọc - K5


mb 01662941079 - nr - cq -- ---HN-VN
- - -
- ACE: 3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

03/2014

, Hoàng Tam Châu K6

Hoàng Tam Châu - K6

B3
1954

Mb: 0913.235037 - Nr: 080.48395, 258261/3395 - Cq: 043.8387073- FB: - Email: - Blog: http://anh-bantroik6.blogspot.com/2012/10/hoang-tam-chau.html - HN - VN
- - Cục KT Bộ TL Tăng Thiết Giáp Cổ Nhuế -
3AE - Hoàng Lương Hòa K2-C11, Hoàng Tam Ngọc K5, Hoàng Tam Châu K6

9/6/2012

.
AHLS Vũ Xuân Thiều - em trai Thầy Vũ Xuân Thăng

Thầy Vũ Xuân Thăng

CB Chính trị
1937

Mb: 01658730636 - Nr: 043.8236778, 8534832 - Cq: - FB: - Email: - Blog: - HN - VN
- - 2 Đặng Dung (8236778)

2012

(Chính trị) nhà trường và là anh trai Vũ Hữu Nghị k9 Quân sự.


TT - Ngày 28-12-1972 cũng là một ngày mà những phi công chiến đấu VN không thể quên được. Trong cùng một ngày họ đã mất hai phi công ưu tú.

Phi công Vũ Xuân Thiều và Phi công Hoàng Tam Hùng - Ảnh tư liệu


Nhưng họ cũng đã có niềm vinh quang không gì sánh được: đồng đội của họ đã thật sự hạ gục B-52 bằng một cách quả cảm nhất của những phi công huyền thoại.

Buổi trưa ngày 28-12, phi công trẻ tuổi Hoàng Tam Hùng đã hi sinh anh dũng sau khi bắn rơi hai chiếc máy bay Mỹ ngay trong trận đầu xuất kích trên MiG-21, trở thành một trong những phi công Việt Nam bắn rơi hai chiếc trong một trận không chiến. Chiếc RA-5C bị Tam Hùng bắn rơi là chiếc máy bay loại này đầu tiên của hải quân Mỹ bị không quân Việt Nam bắn rơi, bổ sung một loại máy bay trong danh mục các loại máy bay Mỹ bị không quân Việt Nam hạ gục. Trung úy Hoàng Tam Hùng hi sinh khi chưa tròn 24 tuổi

Đêm hôm ấy, Vũ Xuân Thiều vào trận.

Trận đánh của phi công Vũ Xuân Thiều đêm 28-12

Theo tin tình báo, đêm 28-12, lúc 21g30-23g50, sẽ có 50 lần/chiếc B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Bộ Tư lệnh không quân yêu cầu tất cả các sở chỉ huy và các đơn vị trực chiến phải theo dõi chặt chẽ và sẵn sàng cất cánh chiến đấu. Trong khi đó, phi công Vũ Xuân Thiều trực ban chiến đấu tại sân bay Cẩm Thủy; phi công Đinh Tôn trực ban chiến đấu ở sân bay Nội Bài đã sẵn sàng.

Lúc 21g28, tốp B-52 thứ hai rồi thứ ba xuất hiện ở đông nam Pạc Xan 90km. Tại sở chỉ huy tiền phương, phó tư lệnh Trần Mạnh nhận định đây chính là các tốp B-52 bay vào đánh Hà Nội. Ông lệnh cho các sĩ quan dẫn đường và quân báo theo dõi chặt diễn biến của tốp máy bay này, đồng thời lệnh phi công Vũ Xuân Thiều chuẩn bị cất cánh.

Lúc 21g41, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy (người trực chỉ huy tại sân bay Cẩm Thủy là đại tá, phi công Hoàng Biểu, một trong những phi công bay đêm dày dạn kinh nghiệm). Sở chỉ huy Thọ Xuân cho Thiều đi hướng tây để sẵn sàng đón đánh tốp B-52 vào theo hướng này. Tại sở chỉ huy tiền phương, phó tư lệnh Trần Mạnh và kíp trực nhận định đội hình B-52 bay từ Thái Lan lên hướng bắc, khi đến Sầm Nưa sẽ vòng lên Mộc Châu, tiến vào đánh phá Hà Nội. Kíp chỉ huy tính toán và quyết định dẫn MiG vào đánh B-52, đồng thời lệnh Vũ Xuân Thiều lấy độ cao, bay tránh tốp tiêm kích hộ tống.

Lúc 21g52, Sc B-1 (Thọ Xuân) lệnh Thiều vòng phải, bay hướng 360 độ, thông báo mục tiêu phía trước 50 độ, cự ly 15km, nhưng do nhiễu quá nặng, Vũ Xuân Thiều vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Lúc này tại sở chỉ huy, sĩ quan dẫn đường trên hiện sóng rađa Trần Xuân Mão, bằng kinh nghiệm của mình đã phát hiện chấm trắng đục giữa nền nhiễu, anh khẳng định đó là B-52, chúng đã đổi hướng, bay ngược lên Sơn La rồi mới vòng xuống đánh phá Hà Nội. Sở chỉ huy lập tức lệnh Thiều vòng phải gấp, bay hướng 90 độ, qua Sầm Nưa, lên hướng bắc đuổi theo tốp B-52 đang bay về hướng Nà Sản, Sơn La.

Giây phút cảm tử

Nhận định của sở chỉ huy hoàn toàn chính xác. Lúc 21g58, khi đến Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu, anh lập tức báo cáo và tăng tốc độ bám sát. Trong bầu trời tối đen, rađa lại bị nhiễu rất nặng nên rất khó phán đoán cự ly, nhưng Thiều đã bình tĩnh phán đoán cự ly bằng mắt, theo tín hiệu đèn hàng hành của B-52. Lúc này tại sở chỉ huy tiền phương phó tư lệnh Trần Mạnh nhắc: “046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch”. Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: “Nghe rõ!”.

Anh tiếp tục bám theo mục tiêu, khi thấy âm lượng đầu tên lửa bắt mục tiêu tốt và cự ly có thể phóng hiệu quả, anh ấn nút phóng ra hai quả tên lửa. Chiếc B-52 bùng cháy, rơi xuống gần khu vực bản Cò Nòi, Sơn La. Sau đó, sở chỉ huy mất liên lạc với Thiều. Lúc này từ sở chỉ huy B-1 liên tục gọi: “046 công tác tốt không?” nhưng không thấy tín hiệu trả lời của Thiều. Cả sở chỉ huy im lặng, hồi hợp chờ đợi tín hiệu trả lời của Thiều, nhưng đó là sự im lặng vĩnh viễn. Với kinh nghiệm và linh cảm của người chỉ huy, phó tư lệnh Trần Mạnh và phó tư lệnh Trần Hanh đều hiểu có điều gì đó không bình thường nhưng rất phi thường đã xảy ra. Trong đầu cả hai ông lóe lên ý nghĩ có thể do cự ly phóng tên lửa quá gần (do ban đêm rất khó ước lượng cự ly bằng mắt), sau khi phóng hai quả tên lửa trúng mục tiêu, máy bay của Thiều đã lao thẳng vào chiếc B-52.

Vũ Xuân Thiều hi sinh anh dũng sau khi hạ chiếc B-52 trên vùng trời Cò Nòi, Sơn La. Xác chiếc B-52 và các mảnh vỡ của chiếc MiG cùng rơi tại đây.

Quân chủng Phòng không - không quân đã xác minh và công nhận phi công Vũ Xuân Thiều hạ tại chỗ một chiếc B-52 tại vùng trời Sơn La.

Lúc 21g48, tại sân bay Nội Bài, phi công Đinh Tôn nhận lệnh cất cánh. Sau khi rời đất, anh được dẫn ra Hòa Bình - Suối Rút, rồi lên bắc Mộc Châu để chặn đánh tốp B-52 đang bay về hướng Phù Yên. Lúc 22g04, Đinh Tôn phát hiện thấy đèn hàng hành của đội hình B-52, nhưng sau đó lại mất vì góc vào quá lớn. Sở chỉ huy cho vòng phải bay hướng 90 độ để cắt vào phía sau mục tiêu, nhưng do tốp B-52 đã phát hiện có MiG bám theo nên tắt đèn hàng hành và cơ động tránh MiG. Đồng thời Đinh Tôn phát hiện nhiều tiêm kích Mỹ đang bám phía sau. Thấy tiếp tục bám theo không có lợi, sở chỉ huy cho giảm độ cao, hướng 360 độ, thoát ly về hạ cánh an toàn tại Nội Bài.

Quân chủng đã tổ chức một đoàn cán bộ do phi công Phạm Ngọc Lan dẫn đầu lên xã Tạ Khoa, huyện Yên Châu, Sơn La để nắm tình hình. Cùng với đại úy Phạm Đức Thuận, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bộ binh đang đóng quân tại Cò Nòi, đoàn cán bộ đã đến tận hiện trường để xác minh. Đứng trên đỉnh đồi, các cán bộ không quân nhìn thấy bên kia quả đồi là xác chiếc B-52 với các mảnh vỡ cháy sém, phía bên này đồi là các mảnh máy bay MiG-21 trắng bạc. Khi quan sát trực tiếp hiện trường, thiếu tướng, phi công Phạm Ngọc Lan chợt lóe lên ý nghĩ: “Chiếc MiG của Thiều đã húc (taran) vào B-52, với tinh thần cảm tử, quyết tiêu diệt B-52”. Trên bầu trời tối đen của đêm 28-12 mùa đông, không ai nhìn thấy những giây phút cuối cùng của cuộc chiến quyết tử đã diễn ra thế nào, nhưng những gì mà đoàn cán bộ nhìn thấy ở hiện trường đã minh chứng rõ ràng cho chiến công của phi công Vũ Xuân Thiều.

Tối 27-12-2012, nhân kỷ niệm 40 năm ngày hi sinh của phi công Vũ Xuân Thiều, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (người được cử lên địa điểm nơi Thiều bắn rơi B-52 đêm 28-12-1972) đã kể lại:
“... Ngay tối 28-12-1972, lúc khoảng 12g đêm, tôi nhận được điện từ sở chỉ huy giao dẫn đầu đoàn cán bộ lên địa điểm nơi phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52 tại Sơn La để nắm và xác minh tình hình. Đoàn chúng tôi lập tức khởi hành trong đêm và lên đến nơi vào sáng hôm sau. Khi đến nơi, tôi có gặp các chiến sĩ bộ binh đóng quân tại khu vực, mọi người đều nói tối hôm qua thấy hai bó lửa rất to bùng cháy và rơi xuống. Các chiến sĩ của tiểu đoàn bộ binh đã dùng ngựa đưa tôi leo lên quả đồi gần nơi máy bay MiG của Vũ Xuân Thiều bắn rơi B-52. Đứng trên đồi chúng tôi nhìn thấy xác B-52 cháy sém một phía, phía bên kia quả đồi là xác chiếc MiG màu ánh bạc. Chúng tôi còn nhặt được hai mảnh xác máy bay MiG và B-52 găm vào nhau, đó là dấu hiệu cho thấy máy bay của Thiều đã lao vào chiếc B-52. Tôi lập tức điện về báo cáo tình hình cho Bộ tổng tham mưu và Quân chủng Phòng không - không quân: “Chúng tôi đã đến hiện trường, sờ được xác máy bay B-52, chính xác Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi ở cự ly gần và lao vào chiếc B-52, tôi sẽ mang hai mảnh xác máy bay găm vào nhau về báo cáo”. Với kinh nghiệm nhiều năm chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, tôi linh cảm rằng trong giây phút cuối cùng Vũ Xuân Thiều đã quyết tử để quyết tâm tiêu diệt B-52”.
Vũ Xuân Thiều và Hoàng Tam Hùng là hai phi công cuối cùng hi sinh trong cuộc chiến bảo vệ vùng trời Việt Nam.


TS NGUYỄN SỸ HƯNG và nhóm tác giả


Tuổi Trẻ Online, 26/12/2013 11:05


Xem video Phim tài liệu: Hoàng Tam Hùng - lặng thầm cùng lịch sử - Ðài truyền hình Hà Nội - HTV - HanoiTV, 30/12/2014 17:22

Bút tích cuối của anh hùng Vũ Xuân Thiều - Quang Thành, 14 Tháng 12, 2012, BÁO ĐIỆN TỬ GIA ĐÌNH & XÃ HỘI. |

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

MONG MẸ THA!

BÀI VIẾT ĐƯƠC TRÍCH TỪ LÁ THƠ CỦA LIỆT SỶ NGUYỄN VĂN NGỌC

Nguyễn Văn Ngọc - K4-5



1968 - Liệt sĩ, hy sinh: 10-10-1968, Thành phố Vinh
mb - nr - cq -- ---?-VN
Liệt sĩ - - -

GỬI CHO MẸ!-- lá thơ bạn Kiến Quốc k5 đang giữ
NGỌC [ K4 + K5 ] TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN --THÁNG 10 NĂM 1968 HY SINH TẠI THÀNH VINH NGHỆ AN
Kỷ niệm 48 năm ngày NGOC hy sinh 10-10 -1968



MONG MẸ THA!
Đêm nay con hành quân xa
Cả đơn vị cùng vào khu BỐN
Nơi là chốn xa xôi
Là lính đâu có giặc có chúng con
Với cả quyết tâm cao...
Không ngại hy sinh và gian khó
Ở đó có đồng đội cùng anh em
Đêm hành quân đơn vị cách nhà chỉ 500m
Nhưng con vẫn không về thăm mẹ được
Vì là pháo phòng không
Luôn hành quân ĐÊM
Để che mắt quân thù
Mà không sao về thăm mẹ được
Dù cho phải xa mẹ cha...
Mẹ kính nhớ con xin mẹ THA
Cho đứa con bé nhỏ ngổ nghịch ngày nào
Chớ buồn lo cho đứa con sắp vào trận
Tất cả điều do cuộc chiến Mỹ gây ra
Là chiến sỹ con xin hứa quyết diệt thù
Dù đường gần nhưng lai xa
Là nghệ -An quê con đó..!
Có lần hành quân trong đêm
Con biết nhà ngoại cách đó 500m
Mà không sao về thăm ngoại được
Vì chúng con còn phải hành quân xa.?
VĨNH BIỆT MẸ HIỀN.!
lần cuối con viết lá thơ nầy
Chờ ngày thống nhức con gặp mẹ
Nhưng thôi rồi mẹ kính yêu
Trời không cho con gặp mẹ nữa
Lửa căm thù uất hận tim con
Lá thư đây là lá thư cuối cùng
Con cuối đầu xin mẹ THA
Con đã hy --sinh rồi mẹ ơi.!
Tuổi già mẹ con không lo được
Đã có toàn dân và em con lo
Con chỈ có một ước nguyện
Khi dân ta thống nhứt nước nhà
Mẹ đưa con về lại thủ-Đô
Nơi ấy có thầy cô và bè bạn
Con cũng lại về nhà ta ...
Như chưa hề có cuộc chia ly
Mẹ cũng đừng buồn cho con nữa
Mẹ chỉ coi như con đang ngủ
Một gất ngủ ngàn Thu ...
Có gió có mưa ru con ngủ
Dù có gì đi chăng nữa
Kiếp sau con xin lại làm con mẹ mẹ hiền!

--TẤN--MỸ TÔ-- HOÀNH BẠN CHIẾN ĐẤU ;. CÙNG BẠN BÈ THẦY CÔ TRỔI .
Luôn nghĨ nhiều và nhớ NGUYỄN VĂN NGỌC 'K4 + K5'

FB Tấn Mỹ 21/12/2016

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

Về trường hợp hi sinh của Liệt sĩ Ngô Ngời

Đăng lại bài viết của các anh Trungsy1 và Hũu Thành K4 về lần thăm mẹ Liệt sĩ Ngô Ngời cuối tháng 1/2013, cùng lời góp của anh Thủy (thuybeuK4) về trường hợp hi sinh của Liệt sĩ Ngô Ngời

Trungsy1
31-01-2013, 09:49 AM,
Trang chủ Khúc Quân Hành > Diễn đàn > Câu Lạc Bộ Chiến Sỹ > CLB Phượt > Tây Nguyên - Miền Trung tháng 1/2013

Chúng tôi đến thăm một mẹ Liệt sỹ ở huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Bà là mẹ trung uý xe tăng Ngô Ngời, bạn học của anh Huuthanh, anh Phongquang.

Liệt sỹ Ngô Ngời thuộc lữ đoàn xe tăng 273, quân đoàn 3, hy sinh tháng 7 năm 1979, trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Tiền thân lữ đoàn xe tăng này chính là tiểu đoàn xe tăng 297 thuộc B3, với kíp xe 377 của liệt Sỹ Nguyễn Nhân Triển trong trận Đăk Tô, mà anh Lixeta đã kể ở bài trước.

Ngôi nhà nhỏ, nơi bà đang sống

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Một trăm người lính xe tăng - Ngày ấy bây giờ

Nguyễn Thế Tường
BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN
11:09 17/12/2016

Đó là 100 sinh viên thuộc các trường đại học ở Hà Nội nhập ngũ và tham chiến bốn năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngày 17-12-2016, tại Bảo tàng Quân sự, Ban liên lạc những “sinh viên Tăng - Thiết giáp” thuở ấy sẽ làm lễ kỷ niệm 45 năm ngày về binh chủng.


Ra đi từ những giảng đường

Ngày 6-9-1971, đáp lời kêu gọi của đất nước, chừng 3.500 sinh viên các trường Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Nông nghiệp, Đại học Y... khu vực Hà Nội nhập ngũ, hình thành nên Sư đoàn 325B. Sau đúng 3 tháng huấn luyện bộ binh, một số chuyển sang huấn luyện tiếp ở các binh chủng. 100 tân binh chuyển sang binh chủng Tăng - Thiết giáp, hình thành nên 4 lớp đầu tiên của trường Hạ sĩ quan - tiền thân của trường sĩ quan Tăng - Thiết giáp ngày nay.

Trong số này, có khá nhiều tân binh nguyên là học sinh các trường miền Nam, nhiều người sinh trưởng ở Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, khu bốn cũ... Trường đóng ở Km thứ 8 tính từ thị xã Vĩnh Yên lên Tam Đảo nên gọi là “Phố Tám”.

Là sinh viên nên sinh hoạt ngoài giờ huấn luyện cũng có nét đặc thù. Chơi đàn sáo, hát nhạc vàng, đọc tiểu thuyết hay thơ tình cũng khiến các chỉ huy phiền lòng. Đổi lại, có một không khí tri thức hiện hữu trong đơn vị. Bốn mươi năm sau, gặp lại, các chỉ huy bây giờ về già thú nhận rằng, khi mới nhận quân về đã cảm thấy “lực lượng này khó gặm”, nhưng khi đã hòa đồng với nhau thì chính các vị chỉ huy cũng tiếp thu được từ những sinh viên Hà Nội nhiều điều mới mẻ...

Đây là những lớp đào tạo hạ sĩ quan Tăng - Thiết giáp chính quy trong nước đầu tiên, chương trình khá nặng. Một trăm học viên chia thành 4 lớp: 2 lớp đào tạo trưởng xe và 2 lớp kỹ thuật viên. Cuối tháng ba, 20 học viên được gọi riêng, hối hả huấn luyện lái xe cấp một và tung ngay vào chiến trường Quảng Trị. Ba tháng sau, số còn lại cũng tốt nghiệp, lập tức bổ sung cho các đơn vị lần lượt vào chiến trường.

Âu, cũng là lẽ thường của người lính, trai thời loạn.

Kể từ khi có lính sinh viên tham gia binh chủng, không khí huấn luyện và chiến đấu của lực lượng đột kích này thay đổi hẳn. Các cựu sinh viên tiếp thu rất nhanh cả lý thuyết và thực hành trên bãi lái, trên máy móc liên lạc, sa bàn chỉ huy chiến thuật. Nhiều sinh viên là con em cán bộ cao cấp, lẽ ra đang được học ở nước ngoài và các trường danh giá trong nước, lại đang hăng say huấn luyện, sẵn sàng hiến thân cho Tổ quốc.

Các cựu chiến sỹ - sinh viên gặp mặt nhân ngày truyền thống.



Tham chiến

Toàn bộ 100 người lính sinh viên Tăng-Thiết giáp ấy đều ra trận, từ chiến dịch đầu tiên giải phóng Quảng Trị đến chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn. 14 người hy sinh, 1 đến nay còn mất tích. Nguyễn Tư Thảo, người Hà Nội, sinh viên Bách khoa, hi sinh đầu tiên, ngay trên đường hành quân, vừa tròn 10 tháng tuổi quân. Phùng Anh Dũng, học sinh miền Nam, quê Phú Yên, hi sinh tại Ái Tử trong chiến dịch Quảng Trị tháng 10-1972, tròn 1 tuổi quân.

Nguyễn Tự Chính, quê Phú Yên, học sinh miền Nam, sinh viên Bách Khoa, vạm vỡ cân đối như một võ sĩ, chỉ huy trung đội Tăng sáng 1-4-1975 giải phóng Tuy Hòa. Xe dừng bên sông, Chính mở cửa ngắm thành phố quê hương mà anh mới nhìn thấy lần đầu tiên trong đời. Bất ngờ, một loạt đạn bộ binh bay tới, một tên lính bắn trộm, Chính gục trên tháp pháo. Đinh Quang Việt, quê Nam Định, Việt kiều về nước năm 1962, sinh viên Đại học Tổng hợp, hiền khô, đẹp trai như một hoàng tử.

Tháng 4-1974, Việt chỉ huy trung đội ba chiếc tăng tham dự trận Rinet-Kiến Điền ở Bình Long. Xe trúng đạn, Việt hy sinh ở tuổi 22. Nguyễn Văn Tư, sinh viên Bách Khoa, quê Hưng Yên, sinh trưởng Hà Nội - một chàng trai tài hoa và rất giỏi bếp núc, có biệt danh là Tư Cầu Muối, Tư Tỏi; mẹ công tác ngay trong trường. Phan Trung Khoa, quê Quảng Bình, học cùng lớp, đem lòng yêu em gái Tư. Hai anh em rể (tương lai) là sinh viên Bách khoa, cùng nhập ngũ, cùng sang Tăng –Thiết giáp và cùng hy sinh.

Sáng 30-4-1975, Đại đội trưởng Nguyễn Văn Tư dẫn đầu đơn vị đánh đến ngã tư Bảy Hiền thì xe trúng đạn. Cả kíp xe hy sinh. Khoa hy sinh ở Xuân Lộc... Cả 14 sinh viên chiến sĩ Tăng - Thiết giáp đều hy sinh trong chiến đấu...

85 chiến sĩ còn lại, nhiều người còn mang thương tích trên mình. Sau 1975, một số ít được giữ lại phục vụ trong lực lượng, thành sĩ quan cao cấp; có người thành Giáo sư, Tiến sĩ. Đa số trở về trường cũ học tiếp những năm cuối. Tất cả đều tốt nghiệp đại học, không có bất kỳ một “sa sẩy” nào trong suốt quá trình rèn luyện, chiến đấu, cũng như khi trở về trường.

Mỗi năm, vào ngày 6-9, họ cùng những sinh viên nhập ngũ cùng đợt năm 1971 tập hợp kỉ niệm ngày thành lập sư đoàn tân binh sinh viên đầu tiên.

Đôi điều day dứt

“Quốc gia hưng vong/ Thất phu hữu trách”. Đất nước có chiến tranh, những thanh niên sinh viên ngày ấy gác bút nghiên ra trận là trách nhiệm, niềm tự hào và đã được Đảng - Nhà nước ghi công xứng đáng. Thực tế chiến tranh cũng góp phần rèn giũa họ. Nhưng, với những đồng đội hy sinh, “công cuộc” tìm dấu tích liệt sĩ còn nhiều day dứt, nhiều chi tiết liêu trai. Người lính Tăng - Thiết giáp hy sinh trong chiến đấu thường thi hài khó nguyên vẹn, nhiều người chỉ còn tro trắng vì sức nóng, việc tìm hài cốt nhiều khi biết là vô vọng.

Vũ Văn Thành được giao nhiệm vụ chiến đấu ở Chơn Thành. Nguyễn Văn Chuyền, trợ lý tác chiến, bạn cùng trường, sau khi giao nhiệm vụ cho Thành, đêm về nằm thao thức nhớ đến tích cũ Bàng Thống - Phượng Sồ mất ở gò Lạc Phượng mà lo, vì cái địa danh Chơn Thành phát âm theo tiếng Nam Bộ sao mà giống “chôn Thành”. Ngay sáng hôm sau, từ đài quan sát, Chuyền tận mắt chứng kiến xe Thành xuất kích và trúng đạn, cả kíp xe không ai sống sót.

Liệt sĩ Ngô Ngời, sinh viên Bách Khoa, hy sinh sau cùng. Ngời nguyên là học sinh miền Nam, sau 1975, chưa vội trở lại trường, mà còn tham chiến ở mặt trận Tây Nam. Ngày 1-7-1979, Ngời được tin ba anh, cũng là cán bộ Quân đội sẽ ghé thăm. Anh chỉ kịp nhắn lại là đánh xong trận, cha con sẽ thong thả hàn huyên. Nhưng đã không có ngày “Phụ tử sum vầy” ấy.

Sinh thời, Tiến sĩ Phùng Thị Thanh Tú là chị ruột của liệt sĩ Phùng Anh Dũng vẫn phàn nàn nhiều về thái độ không nhiệt tình của một số địa phương và đơn vị khi chị đi tìm mộ em trai. Trong lần đi cuối cùng ra Quảng Trị, tình cờ Tiến sĩ gặp một phụ nữ cũng đi tìm mộ chồng. Ngay lúc ấy có con bướm rất lớn cứ chập chờn trước mặt rồi bay đi. Linh tính báo, chị đi theo con bướm vào nghĩa trang và tìm được mộ Dũng.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Tư, sinh trưởng Hà Nội, quê cha Hòa Bình, quê mẹ Hưng Yên. Cha mất sớm, mẹ về lại quê an dưỡng tuổi già. Đưa được nắm tro của Nguyễn Văn Tư về Hưng Yên phải đổi sang họ mẹ mới được vào nằm trong nghĩa trang quê mẹ. Nấm mộ của Tư bây giờ mang họ Đặng.

Liệt sĩ Đinh Quang Việt bây giờ có đến bốn ngôi mộ. Vì một sơ suất mà hiện nay có đến hai ngôi mộ mang tên Việt và một ngôi mộ gió ở nghĩa trang Bến Cát. Nơi hài cốt anh yên nghỉ thật sự cũng chưa tìm được. Cách nay đúng 20 năm, phiên hiệu Trường Đại học Tổng hợp giải thể chia thành hai trường nằm trong Đại học Quốc gia. Bây giờ, hằâng năm, kỉ niệm ngày nhập ngũ, cựu sinh viên cựu chiến binh nhập ngũ các đợt trong chiến tranh không có “đất” để tổ chức, phải đi “đứng nhờ”các trường bạn...

Cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước càng ngày càng lùi xa vào lịch sử. Cuộc sống thời hiện đại có nhiều giá trị đang bị xáo trộn. Trên đất nước hiện có tới hàng trăm trường đại học, hàng triệu sinh viên. Tôi vẫn gặp cậu thanh niên láng giềng 22 tuổi, mới tốt nghiệp đại học, đang chờ bố mẹ xin vào làm cơ quan nhà nước; thanh niên khác, thường ngồi quán cà phê đốt thuốc lá, 23 tuổi, ra trường một năm chưa có việc làm.

Chợt chạnh lòng. Tuổi ấy, sinh viên Đại học Tổng hợp Đinh Quang Việt đã chỉ huy một trung đội xe Tăng xung trận; sinh viên Bách khoa Nguyễn Văn Tư dẫn đầu đại đội lăn xích vào cửa ngõ Sài Gòn và anh dũng hy sinh... Một người thì “đứng tên” đến ba nấm mộ mà thân xác chưa tìm thấy; một người phải đổi họ để nắm tro tàn được về với mẹ...

Nguyễn Thế Tường



BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN - 11:09 17/12/2016

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

Ngô Ngời trong kí ức của những người lính xe tăng

Cảm động cuộc hội ngộ của những người lính xe tăng

Uyên Na
Báo Pháp luật Việt Nam điện tử
Thứ Ba, 22/3/2011 08:51.

Những ngày tháng ba, có một cuộc hội ngộ của những người lính xe tăng 273 tại nơi những vết xích xe tăng đầu tiên chuyển từ ga Vĩnh Yên về trường Sỹ quan Tăng thiết giáp của hơn 50 năm trước. Những người lính can trường năm xưa “đã ra quân là đánh thắng”, có người 36 năm, có người trên 40 năm mới gặp lại đồng chí, đồng đội mình…

Cuộc hội ngộ của những người lính 273



Những người lính tên Quê

36 năm đã trôi qua nhưng trong chúng ta, có lẽ không ai có thể quên hình ảnh hai chiếc xe tăng mang số 843 và 390 dẫn đầu đội hình, húc tung các cánh cổng sắt tiến thẳng vào Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn lúc 10h45 phút ngày 30/4/1975. Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 4 - Trung úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng trên nóc Dinh Độc Lập...
Đó chỉ là chiến công trong hàng loạt chiến công oanh liệt của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong kháng chiến, từ trận mở đầu ở Tà Mây- Làng Vây cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn Miền Nam… góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của cả dân tộc.
Ngày ấy, những người lính trẻ vào Tây Nguyên khi tuổi chớm 20. Trong kí ức những người lính đó là những mùa mưa mù trời, những ngày mưa dầm dề không thể nấu cơm, lính tăng tếu táo khỏa lấp nỗi buồn kể chuyện tiếu lâm cười kha kha và hỏi nhau: “Mày tỉnh nào?” để thấy ấm áp hơn dù chỉ là đồng hương người Bắc.
Rồi chẳng hiểu tự lúc nào, chỉ riêng những người lính tăng đã quên đi cái tên thân thuộc của mình và chỉ gọi nhau bằng Quê, anh Quê, thằng Quê… hàm ý rằng tất cả anh em đồng đội là người một nhà, thân yêu như quê hương mình vậy. Có người thì nhớ về tình quân dân với đồng bào Tây Nguyên, đó là những vạt sắn, rau tàu bay, những gùi măng dấu bên vệ đường chờ bộ đội mình...
Và trong chiến dịch Đăc Tô - Tân Cảnh mùa xuân 1972, đường ô tô không sử dụng được nhiều vì địa hình, vì máy bay Mỹ, vì bí mật chiến trường, họ phải giấu xe vào hầm ếch xuyên sườn núi, còn người thì nào gùi, nào thồ bằng xe đạp, nào vác gạo, cõng đạn ra mặt trận. Ghé vai cùng bộ đội là già trẻ gái trai người Êđê, M’nông, Gia rai... với mảnh khố, chiếc váy tuềnh toàng, cái bụng lép kẹp vì thiếu muối, đói cơm mà cõng đạn chuyến sau nặng hơn chuyến trước. Có cô gái còn gùi hàng trăm kilôgam hàng một chuyến…

Nghĩa tình đồng đội

Nhưng trên tất cả, họ thấm thía hơn ai hết những mất mát hy sinh, bởi họ đã kinh qua những trận đánh sống còn xuyên suốt Buôn Mê Thuột, tiến về Dinh Độc Lập trong ngày thống nhất đất nước. Bởi ở đó có tuổi trẻ, máu xương của họ và đồng đội nằm lại.
Trong những câu chuyện của người lính xe tăng, một người bạn đã khuất luôn được nhắc tên, đó là anh Ngô Ngời - sinh viên năm thứ hai Đại học Bách Khoa - là con em miền Nam tập kết ra Bắc. Ngày 6/9/1971 anh cùng 3.000 sinh viên “kẻ sỹ Bắc Hà” trở về miền Nam chiến đấu. Rồi anh trở thành Đại đội phó kỹ thuật và chính là người nổ phát súng đầu tiên giải phóng Buôn Mê Thuột và nhiều cái tên khác nữa, mãi mãi không thể xóa nhòa trong tim những người lính 273.
Cựu chiến binh Phạm Gia Vĩnh, nguyên Trưởng ban Tác chiến của trung đoàn bùi ngùi: Có ngày hôm nay chúng ta phải mất bao nhiêu máu xương của đồng đội, bao nhiêu đồng chí đã nằm lại ở những nẻo đường thân yêu của đất nước. Và thay cho tình cảm những người đồng đội, ông Vĩnh nhờ hương trời, gió biển gửi tới những người lính đã nằm lại những dòng thơ nghẹn ngào:
“Tôi đi tìm anh
Đến tìm anh sau giờ chiến thắng
Nỗi đau thương
Bên xác pháo nghi ngút
Nghi ngút bóng đất trời có bóng hình ai
Anh ơi, ánh thép rực hồng
Đưa anh về với núi sông quê nhà".

Chứng kiến cuộc gặp gỡ đầy cảm động này, tôi hiểu, đối với người lính, không phải thời gian trong quân đội là vài tháng hay cả cuộc đời mà một khi đã khoác lên mình màu áo lính, họ đã coi nhau như ruột thịt, không thể xóa nhòa. Dù cho, khi chiến tranh đã đi qua, có thể hạnh phúc thật nhỏ nhoi như khi người mẹ cầm được nắm xương con, người vợ thắp được nén nhang nơi anh đã ngã xuống, và đồng đội tìm được mộ phần bạn mình để nghẹn ngào gọi: “Quê ơi".

Uyên Na


Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Thưởng - nguyên Chính trị viên Lữ đoàn 273 nghẹn ngào: “Những địa danh Đắc Tô, Tân Cảnh, Kon Tum, Cheo Reo, Phú Đồn… đã là người lính 273 không ai không nhớ những chặng đường của một thời oanh liệt, những trận đánh đã đi vào sử sách. Đó là Đại đội trưởng Đại đội 9 Trương Công Đạo mở màn ở trận Cầu Bông đã dùng xe tăng E41 nghi binh để mở đường cho đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong ngày 30/4 lịch sử. Và trong những giờ phút ác liệt ấy tôi không thể quên có 7 xe tăng đã bốc cháy cùng mấy chục đồng đội đã hy sinh trong những giờ phút cuối cùng trước giờ chiến thắng”.

Uyên Na


Báo Pháp luật Việt Nam điện tử - Thứ Ba, 22/3/2011 08:51.

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Viếng mộ bạn Liệt Sỹ Nguyễn Đức Thảo





Sáng hôm nay, Chủ nhật 4/12/2016, nhằm "Một ngày đẹp trời nắng Đông bừng lên, không gợn bóng mây". Anh em chúng tôi, hơn chục thằng K7 TSQ - NVT đã làm chuyến vi hành về Đại Từ, thăm Gia đình bạn Ngọc Văn. Trên đường đi, chúng tôi đã vào thăm Gia đình Vợ Chồng Thầy Phảng, Cô Quỳnh. Thầy Phảng nguyên là Cán bộ phụ trách chung thân B4 từ khi thành lập cho tới ngày giải tán. (Sau Thầy về Trường VH Lạng Sơn). Cô Quỳnh là Chị nuôi K6, khi sang Quế Lâm - TQ, Cô về bộ phận Tiếp phẩm của Trường. Ngoài ra còn vào thăm bạn Dương Bằng Hà (Con Bác Dương Đại Lâm). Hiện cũng sống tại Thái Nguyên.

Trên đường đi, các bạn K7 đã vào nghĩa trang Liệt sỹ TP Thái Nguyên viếng mộ & thắp hương cho bạn: LS Nguyễn Đức Thảo (Thảo "bự", B5), hy sinh tại mặt trận Cam Pu Chia, sau được GĐ đem về an táng tại quê nhà.

Cùng đi với AE K7 còn có anh Bùi Vinh, Trưởng BLL Trường, các bạn K9. Đặc biệt có cả các anh nguyên là & hiện nay đang là BT, CT xã Yên Mỹ nơi Trường NVT đã sống & học tập.

Xin Cám ơn sự đón tiếp nồng hậu, nhiệt tình của Vợ Chồng bạn Ngọc Văn & của Gia đình Thầy Phảng - Cô Quỳnh. Xin hẹn gặp lại.






Ha Quangvu
Từ trái qua phải,
- Hàng ngồi: Đại diện ĐY & CQ Xã Mỹ Yên, Vũ "Xồm", Ngọc Văn, Tráng "Mèo", Thanh Sơn, Minh "Thép" & Đoàn "Điếu".
- Hàng đứng: Thắng "Hói", Vợ Ngọc Văn, Cô Quỳnh (Vợ Thầy Phảng), Bằng Hà, đại diện ĐY & CQ xã, Thầy Phảng, Tạ Chiến, a.Quang (Nguyên BT ĐY xã), Trần Đào Điện Biên, a.Bùi Vinh (BLL Trường), Thanh "Loe" & Thái "Lẹo".



Nguồn: FB Ha Quangvu, 4 Tháng 12 lúc 16:56

Ha Quangvu 5 Tháng 12 2016

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Trịnh Thúc Doanh trong hồi ức của "Lính Sinh Viên"


Dựng nước - Giữ nước > Máu và Hoa > Một thời máu và hoa (Các quản trị: quansuvn, binhyen1960) > Lính vệ binh


linh71 Thành viên
27 Tháng Sáu, 2012, 11:44:31 AM

Tháng 8 năm 1971, vừa nghỉ hè năm thứ nhất quay lên trường thì nhận được giấy báo khám NVQS từ tay bà Định giáo vụ khoa. Thế là cả lũ con trai của khoa và của cả trường ùn ùn xuống trạm xá nhà trường khám tuyển. Sau khi nhận được tờ kết luận "sức khỏe B1" tôi linh cảm mình sẽ trở thành người lính. Thế là tôi cùng với Vũ Hồng Phong, Hoàng Đình Giang - 3 anh em cùng khóa K15 VTĐ ĐHBK cùng quê HP nhảy tàu hỏa trốn về nhà.
[...]

Tối ngày 5-9 trường tổ chức liên hoan tiễn chân các SV lên đường nhập ngũ. Bí thư ĐU trường Bùi Nguyên Cát phát biểu "... chúc các đồng chí lên đường... Nhà trường sẽ rải thảm đỏ đón các đồng chí trở về..." Ăn xong nháo nhào chạy lên nhà B5 (KTX nữ) tìm cô bạn gái mà không gặp! Nó là cái điềm "không xong rồi"! Sáng hôm sau tập trung ở sân C2 để lên đừng. Hàng chục xe Hải âu đã chờ sẵn. Sân trường đông nghịt người. Người đi. Người đi tiễn. Tôi lên xe, thẫn thờ nhìn biển người loang loáng trước mắt... Xe nổ máy chuẩn bị chuyển bánh thì cô bạn tôi nhào tới, chỉ nói mỗi câu "Hùng ơi", dúi vào tay tôi chiếc phong bì nhỏ rồi rũ ra khóc... Xe lăn bánh và nước mắt tôi chảy dài trên má.
Đoàn xe chia về các ngả. Chúng tôi được đưa về thôn Vĩnh ninh, xã Vĩnh quỳnh Văn Điển và được phiên chế vào C4 K4 E95 F325. Nhận quân trang, phân về A, B và chia về các nhà dân trong thôn. Tối giở phong bì ra xem thấy một khăn mùi soa trắng viền chỉ đỏ, thêu một bông hoa và một con chim (có 1 con thôi, buồn nhỉ). Lặng lẽ đút vào túi.
Mấy hôm sau lên tàu ở ga VĐ. Tàu qua cầu Long Biên, nước ngập mênh mông mà lòng trống rỗng. Tối tàu tới ga Việt Yên. Lính xuống tàu hành quân bộ đến nơi đóng quân. Trời đêm, bờ tre tường nhà còn ngấn nước trận lũ 71. Các mẹ nấu nước che gánh ra ven đường cho bộ đội uống. Các cô dân quân đẩy xe cải tiến chở đơc ba lô cho các chàng lính cậu... Mờ sáng thì tới nơi đóng quân. Mệt quá, tôi chúi đầu vào một đống rơm ngủ li bì. Sáng hôm sau các A trưởng nháo nhào tìm gọi thu quân. Đại đội 4 của tôi đóng tại thôn Xuân Lạn, cách phố Thắng khoảng 3 km. Tổ 3 người có tôi, Bích học cùng lớp người Nghệ an và Thi K14 Hóa ở cùng một nhà. Dũng bạc ôm cây RPD nên được gọi là Dung ba que (nay gọi lại là Dũng "tử tế") cùng A khác tổ.
Ba tháng rèn binh bắt đầu. Ngoài các bài cơ bản là rèn thể lực. Lính đi xin tre về đan sọt, đóng đất thành từng viên 10kg một, xếp dần vào sọt tập đeo. Một viên, hai viên rồi tới ba, bốn viên. Đôi vai sần lên rồi nhẵn bóng, lên sừng vì đeo nặng. Đại đội trưởng của tôi là trung úy Khúc Quang Xuyền người Vĩnh bảo HP. Ông đi lính từ 1951, người nhỏ thó, đen đúa, rất có "uy" rèn lính. C4 toàn lính Bách Khoa, gồm SV các khoa Động lực, VTĐ, CTM, LK và Hóa, con em miền Nam tập kết có, dân trường Trỗi có. Lại có cả mấy chàng con ông kễnh nữa. Hồi ấy có những chàng "quậy" khét tiếng như Đặng Mạnh (HSMN tập kết, LHS Cuba về học CTM BK), Sâm "trọc"... nhưng ông Xuyền đều "trị" được hết. Phải nói là, sau thời gian huấn luyện, cả C đều "phục" C trưởng KQX. Đến nỗi sau này gặp nhau đều "khoe" tao ở C Xuyền đây.
Lính tập luyện nhiều, bị bệnh ngoài da. Cứ buổi chiều, khoảng 4h30 là trực ban lại tuýt còi cho anh em bị bệnh ngoài da bề tập trung bôi thuốc. Lính bị bệnh nhiều đến nỗi, đại đội phải dựng một bờ rào bằng cót cao để thao tác không bị lộ hình. Khu bôi thuốc trước cửa nhà ăn. Lính đứng sắp hàng ngang sau tấm cót che. Y tá Hải tay cầm một chiếc đũa cả tự chế quấn đầy gạc, nhúng đẫm thuốc. Đi qua đứa nào, anh lại hô "chổng" rồi quệt cho một chữ X. Xót quá, có chàng cắm cổ xuống đầm nước ngay đấy cho đỡ xót... Viết tới đây lại tràn nước mát nhớ anh Hải. Anh tốt lắm, thương và chăm lo cho lũ lính trẻ chúng tôi như một người chị chăm em vậy. Mùa rét, anh lấy tỏi giã, lọc nước thấm bông vê thành từng viên tròn cho từng đứa nút mũi phòng cảm lạnh. Anh hy sinh trong Cổ thành trong khi cứu chữa thương binh.
[...]

Thời gian huấn luyện đã hết.Toàn bộ trung đoàn sinh viên, một số được chia xẻ cho các binh chủng, các sư đoàn khác. Số còn lại được chia thành các đơn vị của chính E95. Lúc này, toàn sư đoàn cũng chuyển nhiệm vụ từ tăng cường sang cơ động. Tiểu đội tôi cũng tan đàn xẻ nghé. Dũng ba que, Thái bọ và một số lính SV có "căn cốt" VTĐ được phân về D18 TT cùa, C18 của E và các B TT của 3 tiểu đoàn 4,5 và 6. Mỗi ngày vài đứa đi, đại đội cứ vơi dần. Khi đã đi quá nửa quân số, C4 lại chuyển vị trí đóng quân sang làng khác, cách Xuân Lạn hơn 2 km. Về nơi ở mới, không luyện tập gì. Tôi được điều xuống nhà bếp với nhiệm vụ nuôi đàn lợn của dv gần chục con. Buồn chán quá, suốt ngày đánh lợn. Rồi một hôm, đang rửa chuồng lợn thì liên lạc xuống bảo lên C bộ. Lên C bộ thì thấy có 2 lính nữa là Lục Văn Long và Trịnh Thúc Doanh cùng có mặt, cùng với một ông cán bộ rất đẹp trai (sau này mới biết đó là trợ lý quân lưc E). Ba chúng tôi được giao nhiệm vụ theo chàng trợ lý này về E bộ. Thế là chúng tôi về E bộ, trở thành "lính trung đoàn là quan...". Lúc đó đã cuối tháng 12 năm 71. Về E bộ, Long được phân công làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân vì hắn có thân hình cao to lừng lững. Tôi và Doanh về trung đội vệ binh. E bộ đóng ở thôn Nếnh, cách ga Việt Yên không xa. Khoảng nửa tháng sau, B vệ binh được bổ sung thêm một số lính Nam Định (F338) và một số lính Hải Hưng nhập ngũ 10-71. B vệ binh có 3 tiểu đội, mỗi A 7 chú đúng phiên chế chiến đấu hồi đó. Lính được trang bị toàn AK báng gấp loại dành cho lính nhảy dù của LX trông oách lắm.
Trung đội vệ binh đóng trong ngôi nhà ngang của đình làng Nếnh, cạnh đấy là bếp ăn của E bộ. Ngôi đình chính làm hội trường E bộ. Đời lính vệ binh bắt đầu bằng các bài tập võ thuật, các bài bắn súng. Đặc biệt, mỗi sáng thứ Hai hàng tuần thì lính vệ binh luân phiên nhau đọc 10 Lời thề và 12 Điều kỷ luật dưới cờ. Cho đến bây giờ vẫn còn nhớ "Chúng tôi, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc xin thề..."
Công việc của lính vệ binh là bảo vệ, canh gác doanh trại, và đi làm KSQN tại khu vực ga Việt Yên và thị trấn Đáp Cầu. Một lần tôi cùng với Khóa, một chiến sĩ VB đi làm nhiệm vụ KSQN tại khu vực ga Việt Yên, băng đỏ KSQN đeo trên ống tay, AK báng gấp máng bên sườn trông oách lắm. Đi qua khu vục ga, thấy mấy cô em xinh đẹp đang cong m...đẩy xe cải tiến chở gạo, chú Khoa nhà ta ngứa mồm trêu một câu. Không ngờ các cô em xổ lại một tràng tiếng Nga. Chết bỏ mẹ! Chú Khóa nhà ta mặt tuỗn ra, hỏi Hùng ơi, chúng nó nói gì đấy. Tôi bảo Khóa mày để tao. Thế rồi cũng xổ ra một tràng ZDrachtvuiche,maia yvuska. Thế là các cô nàng đỏ mặt cười rũ rượi. Sau một hồi làm quen biết các cô nàng là sinh viên ĐHNN sơ tán ở Việt Yên.
[...]

Ra ngoài tết, tôi được gọi lên ban quân lực mấy ngày. Công việc là lập sổ quân lực mới cho toàn trung đoàn.Mỗi người được trói gọn trong một dòng, bắt đầu là họ và tên, kết thúc là ”Khi cần báo tin cho ai”. Linh tính mách bảo sắp đi B. Hoàn thành xong công việc toàn trung đoàn hành quân rời Việt Yên lên đóng quân tại Bố Hạ. E bộ đóng quân ven Đầm Mây trên một khu đồi lúp xúp đầy sim mua xen lẫn bạch đàn. Lính công binh của C17 dựng nhà bạt cho các thủ trưởng và ban Tham mưu. Còn cánh vệ binh mắc võng nằm ở vạt bạch đàn. Được mấy hôm thấy Công binh dựng thêm một lều bạt cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân. Các tham mưu con nhỏ to... Tôi gặp trưởng ban 5 và hỏi thì biết là vợ của thủ trưởng sẽ xuống thăm thủ trưởng vài ngày. Thủ trưởng tôi người dân tộc Tày, đi lính từ hồi chống Pháp khi mới mười mấy tuổi. Thủ trưởng đã có một người vợ nhưng không có con. Thủ trưởng đi chiến trường, bà ở nhà cưới cho ông một bà vợ khác để mong có con. Biết được như vậy, cánh vệ binh chúng tôi lặng người. Trung đoàn trưởng của chúng tôi là một người rất đặc biệt. Rất thương lính. Và nóng tính như lửa. Lúc nóng lên ông quát cấp dưới ầm ầm. Cái lều đã dựng xong. Hôm sau vợ thủ trưởng xuống. Một hôm gặp thủ trưởng tôi đánh bạo xin bố ơi, cho con về thăm nhà mấy hôm nhé. Cụ chỉ cười không nói. Chợt một hôm một chiếc commăngca chạy vào E bộ đón vợ thủ trưởng đi. Chúng tôi biết ngay là đi rồi. Hai hôm sau hành quân ra ga Kép lên tàu xuôi. Qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng một lúc lâu. Vệ binh chúng tôi được lệnh làm nhiệm vụ KSQN. Không biết bao nhiêu lá thư được viết vội, được đưa vội vào tay những công nhân đường sắt, vào tay tất cả những ai có mặt trên sân ga lúc đó. Rồi tàu chuyển bánh. Qua đường Nam bộ, những lá thư viết vội vẫn tới tấp bay xuống mặt đường với những lời nhắn nhủ... Tàu chạy ngang qua trường Bách khoa. Tôi nhìn lên giảng đường C9 với chiếc cầu thang ngoài lồi ra phía đường Nam bộ thấp thoáng bóng người. Rồi tất cả ở lại phía sau. Xẩm tối tàu đến ga Gôi Ninh Bình, rẽ vào đoạn đường tránh. Ở đấy đã có một binh trạm tiếp đón. Chúng tôi xuống tàu lấy cơm. Lấy cơm xong tàu chuyển bánh ngay. Mờ sáng tới ga Quán Hành. Lính xuống tàu hành quân vào trong xóm. Tản ra các nhà dân. Chiều, xe ô tô vào chở lính đi tiếp. Các đơn vị thì cưỡi xe Giải phóng, còn lính E bộ lại cưỡi Hải âu. Đúng là “lính trung đoàn là quan...”. Vượt phà Bến Thủy khi chiều gần tắt nắng. Xe chạy gần tới Đèo Ngang thì dừng nghỉ. Các mẹ các chị ào ra mang nước chè tươi, mang trứng luộc ra cho bộ đội. Hết trứng luộc thì mang trứng sống. Tôi vớ được một quả trứng sống. Khoảng 4 giờ sáng xe tới vị trí tập kết. Đó là một thôn nhỏ thuộc xã Quảng Châu huyện Quảng trạch. B vệ binh chúng tôi vào trú tạm ở một trường học. Nhào vào một phòng học, kéo 2 cái bàn khít lại thế là ngủ thiếp đi. Sáng ra lại tiếp tục hành quân bộ đến vị trí đóng quân. E bộ đóng quân tại thôn Thủy Vực xã Quảng Hợp huyện Quảng trạch.
Thôn này có địa thế rất đẹp. Rìa làng có một con suối uốn quanh, sau lưng là dãy núi. Tiểu đội tôi đóng trong nhà một bà mẹ có 2 con trai đang ở chiến trường. Ông bọ đi thuyền đánh cá dưới Quảng Phú, vài hôm mới về nhà một lần. Mẹ thương chúng tôi lắm. Mẹ bảo các con mang cơm về ăn với mẹ. Ăn cơm với mẹ có cá nục kho, có mít non luộc xé nhỏ bóp mắm ruốc...
Ở cùng địa bàn với chúng tôi còn có trạm quân y 201 (không nhớ có phải là bệnh viện dã chiến của V108 hay V103). Tôi làm quen được với một cô anh nuôi, thỉnh thoảng vác bát sang xin em tí mỡ về cải thiện. Đơn vị bắt đầu ăn chuyển cấp từ 7 hào lên một đồng. Bữa cơm toàn lòng lợn xào bí ngô. Một hôm tôi và một người nữa đi ra HTX mua bán của xã mua mấy thứ lặt vặt, về đến đầu làng thì máy bay bổ đến đánh bom đúng vào vị trí đóng quân. Một cán bộ trợ lý quân lực trúng bom tan nát cả. Hai thằng bọn tôi về đến nơi thì máy bay Mỹ đã đi. Lao vào dọn dẹp. Đi nhặt từng mảnh thịt lẫn đất còn khét mùi khói bom. Một đoạn ruột vắt ngang cành tre... Mấy hôm sau ăn cơm cứ nhìn thấy ruột lợn trắng ởn trên đĩa thức ăn là kinh.
Chiến dịch Quảng Trị 1972 bắt đầu. E18 là đơn vị đầu tiên của F325 lên đường vào QT. Trong khi E 18 lặng lẽ vào, E95 bắt đầu cuộc diễn tập chống đổ bộ ở khu vực Đèo Ngang. Cuối tháng Sáu, đơn vị bổ sung quân trang chuẩn bị vào QT. Gạo nửa tháng đổ đầy ruột tượng, đạn 200 viên, cuốc xẻng, dao tông, cưa tay cấp phát túi bụi. Vào một chiều cuối tháng, đơn vị rời Quảng Hợp, hành quân đến bến đò xã Quảng Liên, xuống xà lan đi dọc sông, bắt đầu chặng đường vào QT. Chặng đi xe, chặng đi bộ. Vào tới Bãi Hà nghỉ dừng chân 1 hôm. Ở đây chúng tôi gặp một đoàn các cháu con em cán bộ miền Nam được đưa ra Bắc học tập. Trên đường từ Bãi Hà vào sông Bến Hải chúng tôi gặp các đoàn dân công hỏa tuyến tải thương binh ra. Bộ đội vượt sông Bến Hải tại ngầm Bến Tắt(hay Bến Than gì đấy). Sông Bến Hải mùa khô, nước cạn lòng sông lởm chởm đá trơn nhẫy, có mấy sợi dây song to bắt ngang sông để bộ đội bám vượt sông. Đến giữa sông, không ai bảo ai mấy mọi người bỏ mũ múc một mũ nước sông, uống tạm biệt miền Bắc. Qua sông, cả đoàn quân chìm ngập trong rừng cỏ tranh. Quảng Trị đang mùa khô, nóng hầm hập. Trên đầu máy bay OV10 lượn vè vè, tiếng bom tiếng pháo từ xa vọng về. Đơn vị dừng chân nghỉ tạm một đêm tại một làng ven sông Cam Lộ. Hôm sau hành quân tiếp. Địa điểm dừng chân tiếp của đơn vị là xá Triệu Ái. E bộ đóng tạm tại thôn Tả Kiên, ở lẫn trong dân. Đến đây hôm trước, hôm sau chúng tôi vào căn cứ Ái Tử lấy tôn vòm về làm hầm. Ở Tả Kiên được vài hôm, E bộ chuyển vào đóng tại thôn Tân Vĩnh ở bờ nam sông Vĩnh phước. Đây là thôn đã bị địch dồn dân bỏ hoang từ lâu rồi, không còn nhà cửa, ruộng mọc toàn cỏ tranh. Ven bờ sông mọc dầy các bụi tre gai, lác đác vài gốc mít. Tiểu đội tôi bố trí ngoài cùng, cùng với hầm anh nuôi và một hầm trực thông tin hữu tuyến. Đêm ngủ hầm đầu tiên ở Quảng trị, đến nửa đêm bị bom B52. Ba đứa ôm nhau trong hầm. Khói bom sặc sụa, hầm rung bần bật. Hết bom, nghe bắn súng báo cứu thương cả lũ cầm cuốc xẻng lao về cuối đơn vị. Đến nơi hối hả bới hầm sập, cứu được một vệ binh sư đoàn đi cùng thủ trưởng TM Sư xuống 95, còn một người khác thì hy sinh. Cùng trận bom B52 đó còn 1 lái xe của E phòng không đóng cùng địa bàn hy sinh. Đóng quân bên cạnh E bộ là C18 TT, bên bờ bắc sông Vĩnh Phước là C24 quân y và một trận địa DKB của E84. Quảng Trị lúc này đã biến thành chảo lửa, mà tâm điểm là thị xã QT. Tiếng bom tiếng pháo ngày đêm không ngớt. Ban ngày, bầu trời xẻ ngang xẻ dọc bởi các vệt khói B52 và pháo tăng tốc từ biển bắn vào, ban đêm từng quầng lửa bùng lên phía sông Thạch Hãn... Mới đầu, cũng sợ lắm, sau quen dần. Chính lúc không gian yên tĩnh nhất lại là lúc cái chết bất chợt đổ ập xuống.

Lính vệ binh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ cứ, bảo vệ thủ trưởng đi thị sát mặt trận hoặc lên Sư bộ họp còn làm tất cả những nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho E bộ và các công tác hỗ trợ khác như tải thương,v.v. Đêm đêm chia nhau canh gác và ra cầu Lai Phước cất giấu đạn dược lương thực do xe chở vào đổ ở bờ Bắc, ngày thì vào Ái Tử, Nham Biều tải thương binh về C24. Khu vực bờ sông Vĩnh Phước thường xuyên bị pháo địch bắn vào. Một hôm máy bay đến ném bom dữ dội vào khu vực C18 và trận địa DKB. Một bạn cùng lớp tôi là lính của E84 hy sinh trong trận bom này. Sau này được đưa vào NTLS xã Triệu Ái cùng với các liệt sĩ khác trong khu vực đóng quân. Cánh vệ binh chúng tôi “may mắn” hơn các đồng đội khác là không trực tiếp chiến đấu nhưng cũng có hy sinh. Anh Chiểu B trưởng vệ binh hy sinh trên đường vào Cổ thành. Trịnh Thúc Doanh hy sinh đêm 16 tháng chín 1972 trong khi vượt sông... Tôi cũng mấy lần thoát chết. Một lần, trong lúc đang làm hầm cho cứ phụ ở Xê Kim Tác thì B52 đánh vào Ái Tử. Bom nổ cách hầm vài chục mét. May là kịp chui vào hầm (hầm làm bằng tôn vòm lấy trong căn cứ Ái Tử. Lần khác đi cáng thương từ Nham Biều về, đi ngang qua trận địa DKB thì bị pháo bắn. May cho 3 anh em đi trên đường cao, quả pháo nổ cắm ngay mép đường dưới thấp nên không ai dính mảnh. Ông thương binh lao từ trên võng qua hố bom bên vệ đường, chúi vào bụi dứa dại, hai ông tải thương đứng như trời trồng giữa đường, rồi cũng lao xuống hố bom tránh pháo...



lexuantuong1972
19 Tháng Bảy, 2012, 08:56:23 AM

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thương binh liệt sĩ 27/7, hôm qua các đồng đội, bạn bè của Trịnh Thúc Doanh đã đến nhà để thắp hương cho bạn mình. Cùng đi có các cháu PV của TH kỹ thuật số VTC. Trước đấy mọi người cũng đã đến thắp hương cho Nguyễn Văn Ngọc ở Trần Khánh Dư.

Trịnh Thúc Doanh nguyên SV k15 Cơ khí của ĐHBK, nhập ngũ 6/9/1971, trước đó D là học sinh trường Trỗi với TTNL,PQ... Trịnh Thúc Doanh là lính vệ binh của e95/f325, Anh hy sinh ngày 16/9/1972 trong khi rút ra khỏi Thành. Bao nhiêu năm gia đình anh đi tìm mộ của anh mà không thấy. Tình cờ năm 2003, cô em dâu của Doanh chuyển về công tác cùng phòng với tôi, được biết tôi là lớp SV-CS QT, cô cho tôi biết tình hình. Mặc dù không biết Doanh nhưng cùng là lính SV nên có thể tìm ra thông tin về đồng đội mình. Từ đó tôi liên lạc với Dũng "tử tế", Minh "sứt", là SV k15 BK là lính của e95. Cuối cùng xác định được Doanh là vệ binh của e95 và cũng tìm ta được Toàn quê Hưng Yên (giờ là Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy Hưng Yên) cùng hầm với Doanh, là người chứng kiến phút cuối cùng của Doanh. Được lệnh rút, Doanh từ hầm sát bờ sông chui ra trước và 1 quả pháo nổ tung ngay chỗ Doanh vừa tụt xuống... Toàn ra sau không thấy bạn mình đâu nữa... Đồng đội đã đưa gia đình vào chính nơi ngày xưa Doanh đã hy sinh, bốc một nắm đất bên bờ Thạch Hãn đưa về NTLS quê nhà tại Định Công, Hà Nội.



linh71 Thành viên
19 Tháng Bảy, 2012, 05:18:55 PM

Nhớ về các bạn tôi


...Trịnh Thúc Doanh học K15 Luyện kim Đại học bách khoa, là con một gia đình quân nhân. Bố mẹ Doanh đều là cán bộ của quân y viện 108. Tháng 9-1971 Doanh nhập ngũ cùng với các bạn bè trường Bách khoa và các trường ĐH khác. Doanh và tôi cùng ở đại đội 4 huấn luyện. Doanh có vóc người hơi nhỏ so với các lính khác trong đại đội.
Hết thời gian huấn luyện bộ binh Doanh được điều về C16. Nhưng do có một tật nhỏ ở gót chân nên Doanh được điều về B vệ binh cùng với tôi. Cùng B nhưng khác tiểu đội. Doanh tính tình hiền lành như con gái, ít nói. Bạn bè trêu đùa chỉ tủm tỉm cười. Vào Quảng Trị, tiểu đội tôi được phân bảo vệ BTM, tiểu đội của Doanh bảo vệ Ban Chính trị. Khi chính ủy Hoàng Thiện vào thành thì một tổ vệ binh vào theo, trong đó có Doanh. Doanh ở trong thành đến ngày cuối cùng. Đêm 15-9-1972, Trịnh Thúc Doanh vượt sông Thạch Hãn cùng với Vũ Đức Toàn, một chiến sĩ vệ binh cùng tiểu đội. Đang vượt sông thì Doanh trúng mảnh pháo, hy sinh. Xác trôi theo dòng nước cùng với bao đồng đội khác...
Thả đèn trên sông Thạch Hãn




...Mỗi lần vào Quảng Trị, khi qua sông Thạch Hãn nhìn mặt sông gợn sóng tôi lại như nhìn thấy các bạn tôi, từng lớp từng lớp trôi dần xa. Lại thấy vẳng bên tai
...Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm ...

Các bạn tôi, người thịt xương tan vào đất cổ thành, người hóa thân thành con sóng Thạch Hãn, người nằm lại dọc đường giải phóng miền Nam... Mãi mãi không về. Mãi mãi còn sống trong lòng gia đình, đồng đội.