Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Kỷ niệm về 2 Liệt sỹ Y Hòa K7 (Mlo dzuon dzu) và Ngô Tất Thắng K7 - Ngô Thái Hòa



Kỷ niệm về 2 Liệt sỹ
Y Hòa K7 (Mlo dzuon dzu) và Ngô Tất Thắng K7

Ngô Thái Hòa 

Kỷ niệm không thể nào quên với những lính Trỗi anh hùng như Liệt sỹ Y Hòa (Mlo dzuon dzu) K7 và Liệt sỹ Ngô Tất Thắng K7.



Ngày 06.01.1972 học sinh, sinh viên Hà Nội chúng tôi nhập ngũ một lúc 25 tiểu đoàn bộ binh,sau khi chúng tôi nghe lời kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc ở núi Nùng, Bách Thảo, Hà Nội. Lớp trẻ Thủ đô ngày đó sục sôi bầu nhiệt huyết muốn đem sức trẻ phụng sự Tổ quốc và công cuộc giải phóng dân tộc nên hầu hết chúng tôi đều viết đơn tình nguyện nhập ngũ,nhiều bạn còn viết đơn bằng máu của chính mình thể hiện quyết tâm đi giải phóng miền nam như Y Hòa, Vũ Trung, Ngô Tất Thắng...
Tôi được biên chế vào Đại đội 42, tiểu đoàn 54, trung đoàn 59 quân tăng cường cho mặt trận Quảng Trị của Bộ tư lệnh Quân khu Thủ Đô. Đại đội tôi có những học sinh trường Trỗi như Y Hòa K7(em của Y Nguyên K5, GS-TS hiệu phó Trường Đại học Tây Nguyên, nay về hưu, đang tu tập Phật học và võ công ở Trúc Lâm thiền viện, Quảng Ninh), Ngô Thái Hòa K6+7, Ngô Tất Thắng K7, Vũ Trung K8, Hồ Phương Bình K7, Phan (xy) K7, Nguyễn Trường Vỹ (gỗ) K7,...Chúng tôi tập trung ở Tây Mỗ và Đại Mỗ Hà Nội khám sức khỏe lần cuối và phát toàn trang thiết bị súng ống đạn dược sau đó đi bộ 70km lên Bãi Nai, Lương Sơn, Hòa Bình. Y Hòa do bi viêm cầu thận cấp, có biểu hiện áp huyết rất cao, được nữ bác sỹ K.Ny (V 108) khám và quyết định trả về đi học tiếp, nhưng Y Hòa kiên quyết xin được nhập ngũ để được đi miền Nam chiến đấu.

Sau hai ngày đi bộ lên đến nơi là bãi đất trống, chúng tôi hạ ba lô là vác xẻng quân dụng vào rừng chặt cây, tre, nứa về dựng lán trại, sau đó là những tháng ngày luyện tập kỹ chiến thuật đáp ứng cho chiến trường phía nam. Y Hòa và Ngô Tất Thắng luôn luôn là những chiến sỹ gương mẫu trong rèn luyện,  nắm vững kỹ chiến thuật, thương yêu đùm bọc đồng đội, nhất là những đồng đội là bạn Trỗi thời thơ ấu. Trong đợt bắn đạn thật bia số 4 cự ly 100 mét và bia số 7 cự ly 200 mét ( bắn đêm), Y Hòa và Ngô Tất Thắng đều đạt thành tích xuất sắc, được biểu dương toàn tiểu đoàn .Hồi đó Y Hòa đã có người thương là Hoàng Dung, cô bạn cùng lớp 10G trường PTTH Nguyễn Trãi, Ba Đình, Hà Nội, nhưng Y Hòa rất kiên định và không bao giờ tỏ ra yếu đuối và biểu lộ sự nhớ nhung thái quá ra ngoài. Ngô Tất Thắng thì sôi nổi và mơ mộng hơn, bận thì thôi, rảnh là Thắng viết nhật ký hay viết thư, hành quân mệt đến đâu, nhưng hạ ba lô là thấy Thắng hý hoáy viết hay ghi chép rồi. Người nhận thư nhiều nhất đơn vị là Ngô Tất Thắng, vì ngày nào Thắng cũng viết thư và nhận thư của Tg BH K7, học sinh của trường PTTH Chu Văn An, Ba Đình, Hà Nội và bạn bè gần xa. Trong đại đội 42 Vũ Trung là người đẹp trai nhất, có tài dạy chó, bất cứ con chó nào của dân bản hay của đơn vị đều quấn quýt và nghe lệnh của Vũ Trung răm rắp. Nhưng người lính đào hoa nhất đại đội là Hồ Phương Bình, thứ bảy hay chủ nhật nào Hồ Phương Bình cũng có vài bóng hồng từ Hà Nội lên thăm hỏi động viên. Mình và Nguyễn Trường Vỹ không có ai thăm hỏi nên thường hay ra bờ suối gần đơn vị tâm sự nhớ về những bạn bè trường Trỗi và PTTH ở Hà Nội mà cả hai cùng có nhiều kỷ niệm chung thời thơ ấu. Sau bảy tháng huấn luyện tích cực và căng thẳng ở Bãi Nai, Lương Sơn và Tân Lạc, Hòa Bình, chúng tôi lên đường bổ xung cho mặt trận Quảng Trị.

Trên đường vào Nam, tôi được lệnh chuyển đơn vị gấp theo sự điều động của cấp trên. Không kịp chia tay với những anh em Trỗi khác, chỉ kịp gặp và chia cho Y Hòa, Chấn Hưng, Thanh Sơn thuốc tăng lực và sâm Cao Ly, đồng thời hẹn gặp lại các bạn khi chiến tranh kết thúc, khi giải phóng miền nam. Thật không ngờ đấy là lần gặp mặt cuối cùng với Y Hòa và Chấn Hưng, hai bạn đã anh dũng hy sinh và vĩnh viễn nằm lại Quảng Trị. Báo của sư đoàn 312 sau đó có đăng tin biểu dương gương chiến đấu vô cùng dũng cảm và kiên định của Y Hòa, trung đội trưởng trung đội hỏa lực 12 ly 7 đã quyết tử khi chốt chận trên Đồi Cháy gần thành cổ Quảng Trị,hy sinh ngày 15 tháng 10 năm 1972. Đối với Ngô Tất Thắng, sau khi giải phóng miền nam, Thắng theo học lớp Báo chí khóa 2 của khoa Báo chí trường Nguyễn Ái Quốc TƯ, rồi về làm phóng viên của báo Quân đội nhân dân. Bạn đọc trong cả nước và bạn bè gần xa háo hức chờ đợi những tác phẩm tiếp theo của Thắng sau khi nhà văn trẻ cho ra mắt tác phẩm "Sau cành Violet", tiểu thuyết trinh thám ái tình rất ăn khách trong thập kỷ 80, báo hiệu một ngôi sao đang dần tỏa sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Một buổi chiều cuối thu năm 1978 Thắng đến thăm và chia tay tôi ở 71 Hàng Trống, Hà Nội, để chuẩn bị lên đường đi chiến trường Cam Pu Chia. Khi đó tôi là thư ký tổng hợp kiêm biên tập viên Ban Nhà nước và Quốc phòng của Báo Nhân dân. Tôi tặng Thắng một cây bút bi Anh Hùng và động viên Thắng lên đường may mắn và mong bạn có nhiều phóng sự hay và nóng bỏng gửi về từ chiến trường. Sau đó nhiều bài vở và phim ảnh nóng bỏng khói súng của Thắng từ chiến trường tới tấp gửi về được báo QĐND, Nhân dân và nhiều báo đăng tải. Ngày 7 tháng 1 năm 1979 trong không khí cả nước vui mừng đón tin thắng trận từ mặt trận phía tây nam và Cam Pu Chia, thì trong buổi giao ban Quân ủy Trung ương, cả phòng họp lặng đi chia xẻ với đại tá Ngô Từ Vân, Cục trưởng Cục Xuất bản quân đội, (Thân sinh của Ngô Tất Thắng) khi nghe tin nhà văn, nhà báo Ngô Tất Thắng đã anh dũng hy sinh khi đang thao tác nghiệp vụ của người phóng viên chiến trường trên tháp pháo của chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào giải phóng thủ đô Phnôm Pênh của Cam Pu Chia, thành lũy cuối cùng của bọn diệt chủng Khơ me đỏ.
Từ đó đến mãi mãi về sau những bạn Trỗi liệt sỹ nói chung và hai bạn Y Hòa và Ngô Tất Thắng vẫn sống mãi trong tâm tưởng của anh chị em Trỗi chúng ta. Riêng tôi thì không thể nào quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở trường Trỗi và ở trong quân ngũ với hai bạn Y Hòa và Ngô Tất Thắng.

Ngô Thái Hòa

(Ảnh trên: Y Hòa, dưới: Ngô Tất Thắng)



Đăng lại bài viết của Ngô Thái Hòa (đã đăng tại Blog K8: Thứ hai, ngày 29 tháng ba năm 2010)





Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

K7: Thăm nhà bạn Liệt sĩ - Khắc Việt

Start:     Feb 6, '10
Location:     HN - TP HCM - Nam Định

Thăm gia đình Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ 6/2/2010 Thăm gia đình Liệt sĩ Đặng Đình Kỳ 6/2/2010

Thăm gia đình Liệt sĩ Nguyễn Đức Thảo 6/2/2010 Thăm gia đình Liệt sĩ Nguyễn Đức Thảo 6/2/2010



... Hôm qua anh em K7 lại rủ nhau đến thăm các gia đình liệt sĩ trong khóa. Cứ năm hết tết đến là đi , việc nghĩa việc tình nhắc nhau mà làm chứ chẳng có tổ chức nguyên tắc nào bắt cả ...

Khắc Việt

Xem:
1. Thăm nhà bạn Liệt sĩ. - Khắc Việt - 06/02/2010 – Blog K8.





Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

Thăm mẹ bạn Linh cố (năm 2003)




Mở máy tính ra thấy những files ảnh, tuy chưa gọi là cổ, những cũng đã nhuốm màu thời gian. Những ảnh này chụp hôm khóa 6 HCM, đến thăm gia đình bạn Linh, hôm bạn được truy tặng huân chương sau nhiều chục năm chiến tranh đã trôi qua. Mới đây mà đã 6 năm trôi qua. Lúc đó bạn Tâm trông còn phong độ, trẻ trung, thế mà hôm rồi ra bắc dự đám cưới con bạn Minh Chính, chân đã cà nhắc, cà nhắc.
Thể mới biết không gì thắng nổi thời gian, chỉ rượu, bia mới làm quên được thời gian.

Xem ảnh: Thăm mẹ bạn Linh cố (năm 2003)







HTML Hit Counter
HTML Hit Counter

Thăm mẹ bạn Linh cố (năm 2003) - AM



Mở máy tính ra thấy những files ảnh, tuy chưa gọi là cổ, những cũng đã nhuốm màu thời gian. Những ảnh này chụp hôm khóa 6 HCM, đến thăm gia đình bạn Linh, hôm bạn được truy tặng huân chương sau nhiều chục năm chiến tranh đã trôi qua. Mới đây mà đã 6 năm trôi qua. Lúc đó bạn Tâm trông còn phong độ, trẻ trung, thế mà hôm rồi ra bắc dự đám cưới con bạn Minh Chính, chân đã cà nhắc, cà nhắc. Thể mới biết không gì thắng nổi thời gian, chỉ rượu, bia mới làm quên được thời gian.




















Free Web Counter
Free Web Counter

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009

Nhớ mãi anh Trỗi

http://baobinhdinh.com.vn/nguyetsan/2009/11/83139/
KỶ NIỆM 45 NĂM, NGÀY ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI HY SINH (15.10.1964 - 15.10.2009)
Nhớ mãi anh Trỗi
9:52', 5/11/ 2009 (GMT+7)

Cách đây 45 năm, ngày 15.10.1964, anh Nguyễn Văn Trỗi đã hy sinh vô cùng lẫm liệt giữa pháp trường Sài Gòn. Khí phách của người thợ điện 24 tuổi ấy đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Còn đối với nhân dân ta, nhất là lớp người trẻ tuổi, thì tiếng hô của người anh hùng là tiếng trống gọi lên đường.

Chúng tôi về thôn Thanh Quít, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam thăm nhà anh Trỗi. Ba gian thờ nghi ngút khói hương. Trên bàn thờ ngoài cùng là di ảnh người thanh niên có gương mặt thư sinh với 9 phút làm nên lịch sử. Bức tượng bán thân bằng đồng đặt trang trọng bên cạnh. 45 năm đã trôi qua, nhưng trong tâm tưởng mọi người, anh vẫn trẻ mãi như bức ảnh này.

Anh Trỗi và chị Quyên ngày cưới. Ảnh: Hồng Vân (Sưu tầm và chụp lại)

May mắn là tại quê, chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Toàn, anh trai anh Trỗi. Kể về em trai mình, giọng ông đượm buồn:
“Từ nhỏ mấy chị em tôi sống với mẹ, còn cha phải lưu lạc ở Sài Gòn. Khoảng đầu năm 1947, khi giặc Pháp trở lại xâm lược Đà Nẵng, làng Thanh Quít chìm trong khói đạn. Mẹ tôi gồng gánh dắt díu 4 chị em tản cư. Tài sản đem theo chẳng có gì ngoài 4 người con nheo nhóc. Tôi còn nhớ mẹ tôi cho Trỗi và Đức ngồi vào 2 đầu thúng gánh đi, tôi và chị Hai Thoàng chạy lúp xúp theo chân mẹ. Gần một năm sau, khi trở về, xóm làng nhà cửa bị cướp phá. Cả gia đình phải đi ở nhờ người bà con. Tiếp đó là chuỗi ngày rất cơ cực và mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 37 vì đói và rét. Mẹ mất, cha đang ở Sài Gòn, mấy chị em dắt díu nhau qua ở nhờ nhà người bác ruột là Nguyễn Văn Mậu. Ở đây tôi và Trỗi được đi học. Tuy vậy cảnh nhà nghèo khó, nỗi đau xót mất mẹ, xa cha vẫn đè nặng lên tuổi thơ của chúng tôi. Lớn thêm một chút, tôi ra Đà Nẵng làm công cho một hãng bánh kẹo. Ít lâu sau, tôi kéo Trỗi cùng ra học nghề may. Không bao lâu thì Trỗi bỏ vào Sài Gòn. Tôi còn nhớ ngày đó bến sông Hàn có tàu Nam Việt đang chuẩn bị khởi hành. Trỗi đã lên tàu, sau khi để lại cho tôi một lá thư từ biệt. Tôi đi làm về đọc thư thì tàu đã rời bến. Tôi gọi em đến khô giọng nhưng tàu đã ra giữa dòng. Sau này, Trỗi về lại Đà Nẵng thăm tôi mấy lần. Tôi nghỉ việc đi chơi với em ở núi Non Nước và nhiều nơi khác. Tôi thấy Trỗi chững chạc rất nhiều, hay nói về cảnh mất nước, Mỹ nguỵ đàn áp nhân dân, hoặc kể về những chiến công của biệt động Sài Gòn với giọng rất háo hức. Tuy nhiên, tôi không hề biết việc em tham gia cách mạng. Ngày Trỗi tổ chức đám cưới với Quyên, tôi cùng cha tôi vào dự, cả nhà rất vui khi thấy hai vợ chồng hạnh phúc. Về chưa được nửa tháng thì nghe tin Trỗi bị bắt, cha con lại tức tốc vào. Tôi chạy luật sư, tìm người can thiệp nhưng không được. Sau khi Trỗi bị tử hình, bọn chúng chôn em tôi ở nghĩa trang của thành phố, thường xuyên cắt người theo dõi. 5 năm sau khi nghĩa trang giải tỏa, chúng thông báo cho dời hài cốt. Gia đình thím Quyên (lúc này Quyên đã đi ra Bắc) xin phép cha tôi đưa Trỗi về nơi chôn cốt của dòng họ, nay là khu Phú Hữu, quận 9. Sau ngày giải phóng, gia đình nhiều lần muốn dời mộ về quê. Nhưng theo ý nguyện của thím Quyên, cha tôi đã đồng ý để chú ấy ở trong đó. Có dịp, chúng tôi lại vào thắp hương vào ngày giỗ Trỗi, 10.9 âm lịch”.

Khi được hỏi, anh Trỗi mất, bọn chúng có làm khó dễ gia đình không, ông Toàn, chỉ vào 2 ngón chân của bàn chân trái bị chặt cụt của mình:
“Chúng hành dữ lắm, bắt bớ đánh đập liên tục. Biết không thể thoát đi quân dịch, tôi chặt ngón chân. Hai đứa em là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Văn Dũng đang đi học cũng thoát ly theo cách mạng. Đức đi công an, được đưa ra Bắc học tập nhưng cứ nằng nặc đòi về quê hương chiến đấu trả thù cho anh trai, rồi hy sinh vào năm 1972 ngay tại Bồ Mưng, xác chúng quăng trên đường cái. Cha tôi kiên cường lắm. Bị đánh, tra khảo, theo dõi thường xuyên vậy mà ông vẫn đào 3 công sự trong vườn nhà, nuôi giấu hàng chục du kích, nhiều lần bình tĩnh cản địch, cứu anh em thoát chết. Ông là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ ở vùng yên tâm đi về hoạt động. Ông mất đã 14 năm, ngôi nhà ni bây giờ không còn ai ở. Tôi và Dũng cùng chị Hai Thoàng đều ở Đà Nẵng. Chỉ có mấy đứa cháu trong họ hàng ngày đến mở cửa thắp hương, đón tiếp các đoàn đến thăm. Cách đây mấy năm, tôi và thím Quyên cùng sửa lại ngôi nhà, để nơi thờ phụng khang trang hơn. Bức tượng bằng đồng cũng là của thím ấy mang từ Sài Gòn về đặt…”.

Ông Nguyễn Hữu Tê ở thôn Thanh Quít, nguyên trưởng Công an xã Điện Thắng, khi nhắc đến anh Trỗi vẫn còn nhớ rất rõ:
“Ngày anh Trỗi hy sinh do chị Phan Thị Điền, bạn anh Trỗi báo về làm bà con vô cùng sửng sốt. Ai cũng tiếc thương và vô cùng căm thù giặc Mỹ và bọn tay sai. Làm tuần 14 ngày của anh, lúc đó chị Quyên cũng về, mặc dù bọn hội đồng theo dõi chặt, nhưng Đảng ủy, du kích và nhân dân vẫn đến thắp hương, thăm hỏi động viên chị Quyên và gia đình khá đông. Xã phát động đợt tòng quân theo gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chiến đấu giải phóng quê hương. Hơn 30 thanh niên đã thoát ly vào bộ đội chủ lực hoặc tham gia du kích ở địa phương. Có thể nói, cả xã ai cũng là du kích, ai cũng là cơ sở cách mạng khiến cho địch rất khiếp sợ. Sau ngày giải phóng, xã luôn tự hào là quê hương anh Trỗi, thường xuyên giáo dục cho các em biết về cuộc đời của người anh hùng. Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi do Tỉnh đoàn Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) phát động đoàn viên thanh niên đóng góp xây dựng ngay tại xã Điện Thắng quê hương anh, trưng bày những hình ảnh, kỷ vật về anh, đã thực sự là “địa chỉ đỏ” của thanh thiếu niên trong xã và tuổi trẻ cả nước. Tôi còn nhớ, có nhiều buổi sáng sớm, trước hiên Nhà lưu niệm có rất nhiều bó hoa tươi của hành khách từ những chuyến xe khách bắc nam đi ngang qua. Xe đi vội vã nên họ đã không kịp chờ Nhà lưu niệm mở cửa. Năm ngoái thi hoa hậu tại Hội An, các người đẹp cũng đã vào thắp hương tại Nhà lưu niệm, ai nấy đều rất xúc động…”.

Cùng chiến đấu, cùng bị bắt với anh Trỗi ngày đó có anh Nguyễn Hữu Lời, hiện là Thượng tá Công an đang nghỉ hưu ở 98 Đề Thám, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Anh đã kể về những kỷ niệm của mình với anh Trỗi trong niềm xúc động nghẹn ngào.
“Tôi và anh Trỗi cùng là đồng hương xã Điện Thắng. Vì hoàn cảnh nhà nghèo, nên phải đi kiếm ăn ở nơi khác. Anh Trỗi vào Sài Gòn trước, còn tôi vào sau. Chúng tôi gặp nhau tình cờ và coi nhau như ruột thịt. Bà dì tôi là cơ sở cách mạng, thấy chúng tôi tuy là những thanh niên mới lớn, nhưng có lòng căm thù bè lũ tay sai bán nước, nên đã giác ngộ và chúng tôi được kết nạp vào đội 65 “Quyết tử thành”. Mục tiêu của đội là nhằm ám sát các nhân vật hung hăng, hiếu chiến của bộ máy chiến tranh xâm lược Việt Nam như Tay-lo, Ca-bốt-lốt. Giữa lúc anh em đang vạch kế hoạch xử lý các mục tiêu này thì cấp trên cho hoãn lại và chuyển sang mục tiêu quan trọng hơn đó là Mác Namara- Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Chúng tôi chọn phương án đặt bom ở cầu Công Lý. Anh Trỗi mới cưới vợ nên tổ chức không cho anh tham gia đánh trận này, nhưng anh nhất quyết xin đi cho bằng được. Anh trao cho tôi chiếc nhẫn vàng bảo đến tiệm vàng bán đi rồi mua vài trăm mét dây điện. Về sau này tôi mới biết đó là chiếc nhẫn cưới của anh. Theo các tin tức tình báo thì Mc Namara sẽ đến Sài Gòn vào lúc 9 giờ ngày 10.5.1964, nên chúng tôi khẩn trương hoàn thành công việc trong đêm. Vì anh Trỗi là thợ điện, nên anh đã xung phong đặt khối thuốc nổ ở mé cầu Công Lý. Còn tôi được anh giao nhiệm vụ đi rải dây. Vừa làm xong phần việc của mình thì tôi nghe tiếng lao xao, tiếng chân rậm rịch trên cầu. Vậy là kế hoạch bị lộ. Bọn giặc đã tìm thấy toàn bộ dụng cụ điện và mìn đánh cầu. Anh Trỗi đã nhận tất cả những thứ này là của anh. Còn tôi chỉ là người được anh thuê rải dây điện. Đầu tháng 8.1968, tôi và anh cùng bị giam ở Tổng nha cảnh sát. Sau vụ nhảy lầu bị bắt lại, anh Trỗi phải quấn băng từ chân tới ngực. Anh ôm lấy tôi, nói nhanh :

- Em khai sao? Em không được nhận gì cả. Để anh nhận hết. Nếu em cũng khai thì cả hai đều nhận án tử hình. Cách mạng sẽ mất thêm một người, uổng lắm.

Thấy tôi băn khoăn chuyện ảnh mới cưới chị Quyên, anh lại cương quyết :

- Đừng lo cho anh. Anh chỉ tiếc là chưa làm được gì đã bị bắt!

Tại phiên tòa đại hình, anh Trỗi bị kết án mức cao nhất. Ngày anh bị tử hình, tôi bị đày ra Côn Đảo với mức án 20 năm nhưng chỉ 10 năm sau (1974) tôi đã được trao trả”.

Hồng Vân

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Bài hát không quên về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi

BÁO THỂ THAO & VĂN HÓA - THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Thứ Ba, 13/10/2009 15:57

1. Những ngày gần giữa tháng 10 năm 1964, người miền Bắc luôn “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” có thêm một tiêu điểm thể hiện tình cảm, ý chí. Qua tin trên báo chí và Đài Tiếng nói Việt Nam, ai ai cũng chăm chú dõi theo sự sinh tử của anh biệt động Nguyễn Văn Trỗi đang ở khám Chí Hòa. Anh bị địch bắt khi đang mai phục để nổ mìn phá cầu Công Lý chờ xe chở Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mac Namara chạy qua. Và tòa án của chế độ Sài Gòn tuyên xử Anh chịu tử hình.

Nguyễn Văn Trỗi hy sinh lúc 9 giờ 45 phút ngày 15-10-1964 hưởng dương 24 tuổi.
Anh đã hy sinh vì Tổ quốc trong tư thế lẫm liệt với “Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi bài ca/ Có con người do chân lý sinh ra...” như nhà thơ Tố Hữu nói hộ cảm nhận của triệu triệu đồng bào - bạn hữu.

2. Khi đưa tin về “phút lịch sử” đó, các báo vẫn in tên Anh là “Trôi”, sau rồi mới sửa đúng là “Trỗi” được. Có sự thiếu dấu này, là bởi cách trở địa lý và khác biệt âm sắc chất giọng.

Hai ngày sau phút Anh ra đi, dòng tên “Nguyễn Văn Trôi” được ngân vang trong hàng trăm ngàn học sinh phổ thông ở Hà Nội. Giờ ra chơi, toàn thể học sinh trường cấp II Phương Liên (khu Đống Đa) của tôi được tập trung. Tôi và gần 400 bạn đều lấy dép làm “ghế” ngồi trên sân trường, hướng mắt lên cái bảng có những dòng viết to hơn bình thường. Thầy Hải - giáo viên môn Nhạc - nói vắn tắt về sự kiện đang chấn động thế giới, và cho biết là sáng nay các trường ở Thủ đô đều học bài hát về Người anh hùng. Hát mẫu xong, thầy dạy chúng tôi hát từng câu. Sao mà nhanh thuộc vậy chứ, chỉ 15 phút là chúng tôi đã hát đúng trường độ - cao độ... của mỗi đoạn lời ca.

“Tinh thần anh Nguyễn Văn Trôi,
ghi vào tâm trí của em đời đời
Hiên ngang trước quân thù dã man,
anh hô những khẩu hiệu yêu nước sáng ngời
Đế quốc Mỹ, hãy coi chừng,
nhân dân ta quyết đánh đến ngày thắng lợi
Tiếng của Anh đã vang vào sông núi
khơi bốc lên những ngọn lửa căm hờn sục sôi”.
Hết lời 1 đó, chúng tôi càng nhanh hát chuẩn lời 2, để nhiều ngày sau cứ mỗi 5 phút nghỉ giữa hai tiết học, lớp nào cũng
“Anh còn sống mãi Anh ơi, trong lòng đất nước Việt Nam mẹ hiền.

Nối tiếp bài hát (tiếc là tôi đã quên tên bài - tác giả) đó, những ngày sau còn gần chục bài nữa được Đài Tiếng nói Việt Nam thu băng, phát sóng. Đọng lại lâu nhất, là “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của nhạc sĩ Vũ Thanh. Đêm giao thừa vào xuân Ất Tỵ (1965), trước sân khấu ở Đài phun nước bên Hồ Gươm, nhiều nhiều khán giả cùng hát theo: “Nguyễn Văn Trôi, Nguyễn Văn Trôi, người công nhân thành phố Sài Gòn, mà lời Anh trước súng giặc thù, vẫn cháy lửa chiến đấu...” làm thêm ấm lòng người giữa khuya nối hai năm trời rét đậm.

3. Rồi sau Giao thừa ấy, tại nhà máy xe lửa Gia Lâm khánh thành chiếc đầu tàu thứ nhất do Việt Nam sản xuất nhiều bộ phận và tự lắp ráp hoàn chỉnh. Nó được gọi là “Đầu máy Tự lực” mang số hiệu 231 - 215, có gắn phù điêu chân dung nhìn nghiêng anh hùng Trỗi phía trước đầu máy. Đầu máy đó đã đưa hình Anh - ý chí Anh... đến với quân dân vững vàng nhiều trọng điểm.

Ngày 18/12/1965, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị cắt băng khánh thành
đầu máy Tự Lực mang tên “Nguyễn Văn Trỗi”.

Giữa năm 1965, tác phẩm “Sống như Anh” của Trần Đình Vân (Thái Duy) được xuất bản, phim truyện Nguyễn Văn Trỗi được quay. Diễn viên Thanh Tùng vào vai anh Trỗi rất chân thực càng giúp người xem thấy rõ hơn sự cao đẹp trong Anh để gắng theo Anh.

Có thể chiếc đầu máy xe lửa mang tên Anh nay có thể đã hết niên hạn sử dụng. Nhưng, một “sức kéo Nguyễn Văn Trỗi” vẫn vượt 45 năm kể từ ngày đó, mãi song hành cùng bao động lực nay - mai...

Nguyễn Quang Vinh

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Tìm được mộ cha - Nhất Trung K5

Start:     Sep 2, '09
Location:     NTLS xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định


Thuỷ ' bều' k4, anh Khánh K2, cụ bà 88 tuổi, Nhất Trung K5 bên mộ cụ ông Nguyễn Bá Hối ở NTLS xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định
Sáng 2/9/2009 thời tiết Quy Nhơn thật đẹp không nắng gắt, tôi đón Thuỷ "bều" K4 trong trang phục đại tá rất chỉnh tề vì hôm nay chúng tôi có nhiệm vụ đưa anh Nguyễn Nam Khánh K2 (em là Nguyễn Nam Động K6) cùng cụ bà 88 tuổi từ Hà Nội vào gắn bia cho cụ ông là Nguyễn Bá Hối sinh 1920 hy sinh năm 1969 tại chiến trường Bình Định.

Trước khi tìm đươc mộ cha gia đình anh Khánh và một số bạn Trỗi nhất là anh Ấn K2 đã tốn bao nhiêu công sức, trèo đèo, lội suối...lên Tây Nguyên, xuống miền duyên hải Miền Trung...nơi nào có thông tin là anh Khánh đến...(Xem tiếp)

(Nhất Trung, 6/9/2009)



Trích đăng lại bài viết của Nhất Trung (đã đăng tại Blog "Bạn Trường Trỗi ”: Thứ bảy, 5 tháng 9, 2009)

Xem:


Free Counters

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

K7 tiếp tục tìm mộ Y Hòa

Start:     Oct 10, '08
End:     Oct 17, '08
Location:     Quảng Trị
K.Viet nói...
Sau khi ký hiệp định Pa Ri 1973, các sư đoàn 308, 320, 312 ra Bắc. Mặt trận B5 còn lại 304,325,324 và các trung đoàn, tiểu đoàn độc lập.
Năm 1974 thành lập QĐ2, các trung đoàn và tiểu đoàn độc lập về QK Trị Thiên. Trong năm 1974 các đơn vị trong QK Trị Thiên đã tổ chức những đội đi đến những nơi đơn vị đã chiến đấu thu gom các liệt sĩ hy sing trong các trận đánh về những nghĩa trang (cấp xã, nhưng tên, tuổi là rất chính xác). Tôi nghĩ các đơn sư đoàn chủ lực cũng sẽ làm như thế và còn tốt hơn.
- Tin ngoài luồng (đang kiểm chứng): Một người bạn tên Thành (học trg NTrãi), trước là lính F312 nói: Hình như là mộ các ls ở chốt ấy (YHòa) đã đc f312 tập kết về một nghĩa trang nhỏ ở xã hay huyện Hải Lăng...!
Tôi thấy thông tin của bạn tên Thành khớp với những gì tôi biết.
Những năm 1980, có một đợt qui tập nữa đưa các liệt sĩ về nghĩa trang huyện, nhưng tổ chức kém nên có liệt sĩ có danh lại trở thành vô danh: Nguyễn Hữu Dân sau khi đưa về nghĩa trang Hải Lăng thì trở thành Vô danh, thật đau sót.
Trường hợp của Y Hòa, nên lần tìm từ nguồn các liệt sĩ đưa từ đâu về ở các nghĩa trang LS huyện, Đơn vị nào đã làm nhiệm vụ qui tập ở khu vực đồi cháy, có bao nhiêu LS. Tích Tường, Như Lệ là nơi ta hy sinh rất nhiều (308 và 312) trong lúc đánh nhau có thể việc mai táng còn sơ sài. Nhưng khi ký hiệp định Pa Ri nếu nó vẫn là khu vực ta giữ được chắc chắn những LS không nằm ở đó nữa. Đồng đội đã qui về một NT nào đó ngăn nắp, rõ ràng hơn.

Xem:

1. Tin vắn - Nguyen Thi Thai - 12/10/2008, Blog K8.
2. Tin từ đồi Cháy, Quảng Trị - TranKienQuoc - 17/10/2008, Blog K8.

Xem bài cũ:
1. Cuộc hành quân đi tìm bạn xưa - liệt sĩ Y HOÀ K7 - Blog K6- 28/3/2008.



K7 thăm bạn Thái Nguyên ...

Start:     Nov 29, '08
Location:     Thái Nguyên
Viếng Thảo. Hai bạn Thái Nguyên nói :'Bây giờ mới biết mộ Thảo ở đây, từ nay bọn tớ sẽ đến thăm Thảo thường xuyên. Các cậu yên tâm'.
...K7 có bốn bạn ở Thái Nguyên là : Dương Bằng Hà, Tống Hòa, Văn Quốc Oai (Oai khơ) và Văn... đã mấy chục năm nay chưa gặp.
Nhân có Đắc Hòa từ SG ra chúng tôi mò lên" tiền trạm", kết hợp viếng mộ Thảo và thăm Hồ núi Cốc.
...Viếng Thảo xong, chúng tôi kéo nhau đến một quán nhỏ bên Hồ Núi Cốc chuyện đến chiều vẫn chưa muốn về...

(Khắc Việt)

Xem:

1. THĂM BẠN THÁI NGUYÊN - Khắc Việt - 29/11/2008 – Blog “ÚT TRỖI”.
2. Bổ sung - dachoak7 - 2/12/2008 – Blog “ÚT TRỖI”.


K7, K8 đi thăm chúc Tết các gia đình liệt sĩ

Start:     Jan 17, '09
Location:     HN, TP. HCM, Ban Mê Thuột
anh em K7 Sài Gòn cùng gia đình Y Hòa (Cụ bà, anh Y Nguyên K5 và cậu em Y Thắng)
...
Một việc nhỏ nhưng tình nghĩa, mong làm dịu nỗi đau của những bà mẹ, những người chị của các bạn mình, K7 đã phân công anh em đi thăm các gia đình liệt sĩ ở Hà Nội, được biết ngày mai Thắng (chích) xuống thăm gia đình Lại Xuân Lợi ở Nam Định. Cảm ơn BLL K7 đã không quên bạn mình. Mong phát huy mãi ...
(K.Viet - 19/1/2009)

...
Những ngày giáp Tết bận rộn nhưng anh em K7 Sài Gòn cũng bố trí được mấy ngày cuối tuần đi lên Ban Mê Thuột thăm chúc Tết gia đình Y Hòa- bạn liệt sỹ K7...Vũ Anh thay mặt cho anh em Trỗi tặng quà và chúc Tết gia đình...
...bà cụ và cả nhà cảm động mừng vui lắm...
(Đỗ Nghĩa, Đắc Hòa - 20/1/2009)

...
BLL K8 Hà nội thay mặt anh em thu xếp đến thăm mẹ của Thọ Tuyến và thắp hương cho Tuyến nhân dịp Tết nguyên đán.
Sức khỏe của cụ vẫn ổn định so với lần thăm trước. Thấy bạn của Tuyến đến thăm, cụ và gia đình rất phấn khởi...
(Út Trỗi - 22/1/2009)


Xem:

1. TẾT VỀ NHỚ BẠN - K.Viet - 19/1/2009 – Blog “ÚT TRỖI”.
2. Chuyến đi cuối năm - Đỗ Nghĩa, Đắc Hòa - 20/1/2009 – Blog “ÚT TRỖI”.
3. Thăm gia đình Thọ Tuyến - Út Trỗi - 22/1/2009 – Blog “ÚT TRỖI”.