Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020

Những kỷ vật của Anh hùng, Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi hiện lưu giữ tại BTLSQG

Lê Thúy Hoàn

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, ai cũng biết đến tấm gương của liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi và những câu nói bất hủ của anh trước pháp trường.

Tấm gương chiến đấu, hy sinh dũng cảm của liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi những lời ngợi khen dưới tấm ảnh chụp trước khi anh bị xử bắn:
"Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng.

Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là 1 tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!

Bác Hồ"

Anh hùng,Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trước giờ xử bắn tại pháp trường Sài Gòn, ngày 15-10-1964.

Gương hy sinh dũng cảm của liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã được nêu rõ trong tác phẩm "Sống như anh" do Nhà Xuất bản Thanh niên xuất bản. Cuốn sách đã thu hút đông đảo người đọc đặc biệt là thanh niên.

Anh Trỗi hy sinh anh dũng đã 53 năm qua (năm 1964), nhưng những bài viết ca ngợi anh - một con người đầy lòng nhân ái và vô cùng dũng cảm vẫn xuất hiện thường xuyên trên rất nhiều báo chí. Hàng năm đến ngày giỗ của anh, khắp nơi vẫn vang vọng bài hát ca ngợi anh. Tất cả những điều đó đã chứng minh cho nhận định của Nhà thơ Tố Hữu:
"Có cái chết hoá thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có những con người do chân lý sinh ra
Nguyễn Văn Trỗi
Anh đã chết rồi
Anh còn sống mãi
Chết như sống anh hùng vĩ đại…"
Gắn bó với cuộc đời anh là chị Phan Thị Quyên - người vợ trẻ đã chung sống hạnh phúc với anh trong thời gian ngắn ngủi chỉ nửa năm trước khi anh hy sinh. Nhưng quãng thời gian ngắn ngủi 6 tháng gắn bó với anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã để lại trong chị vô vàn kỷ niệm thân thương đầy xúc động. Chính chị là người đã lưu giữ những kỷ vật của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ, để sau đó tất cả những kỷ vật đó được đưa về Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), trở thành những hiện vật quý của Bảo tàng.

Nhóm kỷ vật của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi gồm 12 hiện vật, gồm: 01 cây đàn măngđôlin, 01 chiếc khăn tay do chị Phan Thị Quyên thêu tặng chồng trong thời gian anh bị giam giữ tại nhà lao Chí Hoà và 10 bức thư do anh Trỗi viết từ nhà lao gửi ra cho vợ và người thân.

Thư, Anh hùng, Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi gửi từ trong nhà giam về cho vợ là Phan Thị Quyên và gia đình, năm 1964.

Nhóm kỷ vật này được đưa đến Bảo tàng không cùng một thời điểm mà thông qua những con người khác nhau, ở những thời điểm khác nhau.

Năm 1965, gần một năm sau ngày anh Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, chị Phan Thị Quyên đã giao cho đồng chí Tư Lâm - người phụ trách Ban Tuyên huấn của vùng giải phóng 01 chiếc khăn tay và 10 bức thư của liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi. Sau đó đồng chí Tư Lâm đã nhờ nhà thơ Bảo Định Giang ra miền Bắc công tác, đem đến tặng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam toàn bộ số kỷ vật trên. Thay mặt cho Bảo tàng, Phó Giám đốc Trần Văn Trinh đã đích thân tiếp nhận. 10 bức thư có nội dung ngắn gọn nhưng không chỉ thể hiện tình cảm sâu sắc của anh Trỗi đối với vợ và người thân mà còn thể hiện tình cảm và trách nhiệm của anh đối với vận mệnh của nước nhà. Riêng chiếc khăn tay là kỷ vật quý giá gắn bó với anh chị trong những ngày gia đình bị chia cách trong cảnh tù đày. Sau sự kiện cầu Công Lý, địch bắt giam anh Trỗi tại nhà lao Chí Hoà, chị Quyên đã làm chiếc khăn này để gửi vào nhà lao nhằm động viên và hứa hẹn với anh. Chiếc khăn thêu 4 câu thơ:

Dù cho sóng gió bão bùng
Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn
Cầu mong anh được bình an
Nước nhà thống nhất, vinh quang anh về
Anh Trỗi nhận được khăn, xem xong, thuộc bài thơ rồi anh gửi tặng lại chị chiếc khăn vì anh nghĩ nếu anh hy sinh sẽ không giữ được.
Khăn tay, kỷ vật của Anh hùng, Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi.

Còn chiếc đàn măngđôlin - một nhạc cụ mà anh Nguyễn Văn Trỗi dùng từ thời thanh niên được phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Bắc trao tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tháng 10-1967. Lúc đó, chiếc đàn bị hỏng nặng do giặc Mỹ đập phá khi chúng đến khám nhà của anh sau sự kiện cầu Công Lý. Đây là kỷ vật mà chị Phan Thị Quyên đã gửi được lên căn cứ, và từ căn cứ cây đàn được chuyển ra cho phái đoàn đại diện thường trực Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Bắc. Sau cả một chặng đường dài trong khói lửa chiến tranh, cây đàn đã đến đúng địa chỉ là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vào ngày 14/10/1967.

Đàn măngđôlin, kỷ vật của Anh hùng, Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi.

Ngay sau khi nhận được một hiện vật quý giá như vậy, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã có công văn gửi Xưởng Nhạc cụ Việt Nam thuộc Bộ Văn hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đề nghị giúp Bảo tàng tu sửa cây đàn. Xác định đây là một nhiệm vụ thiêng liêng, Xưởng Nhạc cụ Việt Nam đã cố gắng phục dựng cây đàn theo đúng thiết kế ban đầu của nó và hoàn thành vào ngày 19/12/1967 để kỷ niệm ngày Toàn quốc kháng chiến. Trong hồ sơ của nhóm hiện vật của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi, hiện còn lưu bản Báo cáo của Xưởng Nhạc cụ Việt Nam về việc tu sửa cây đàn.

Hành trình của những kỷ vật trên diễn ra trong thời kỳ chiến tranh vô cùng ác liệt, khi mà chị Phan Thị Quyên đang hăng say hoạt động trên chiến trường R, do vậy chị không hề có thông tin gì về những kỷ vật của mình và anh Trỗi. Cho đến khi báo Lao động số ra ngày 6/7/2005 đăng bài "Chim Quyên trỗi giọng", trong đó chị Quyên bày tỏ niềm băn khoăn của mình về những kỷ vật của anh, chị. Các cán bộ làm công táckiểm kê-bảo quản, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã gửi thư tới Quý báo để thông báo về địa chỉ lưu giữ, bảo quản, trưng bày những hiện vật quý này.

Trong dịp ra thủ đô Hà Nội để trao học bổng mang tên Nguyễn Văn Trỗi, vào ngày 16/11/2005, chị Phan Thị Quyên đã đến Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Tại đây đã diễn ra một cuộc gặp mặt đầy cảm động giữa chị và Ban Giám đốc, các cán bộ chuyên môn của Bảo tàng. Trong niềm xúc động, chị Phan Thị Quyên đã kể lại những kỷ niệm sâu sắc giữa chị và anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Theo lời kể của chị, anh Trỗi và chị mới cưới nhau được 19 ngày thì anh bị bắt. Trong một lần chị vào thăm anh ở trong nhà tù, anh đã kể cho chị nghe về việc anh nhận nhiệm vụ giết MacNamara. Chính những ngày anh, chị chuẩn bị làm đám cưới cũng là những ngày anh đang chuẩn bị cho kế hoạch thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm này. Nhưng những người thân của anh trong đó có cả chị đã không thể biết được nhiệm vụ nặng nề mà anh được cấp trên tin tưởng giao phó.

Chị Quyên đã tham quan hệ thống trưng bày của bảo tàng, chiêm ngưỡng lại cây đàn măngđôlin của anh và chiếc khăn tay chị thêu tặng anh, giành thời gian để đọc lại toàn bộ những lá thư mà anh đã viết cho chị và người thân trong thời gian anh bị giam giữ trong nhà tù. Chị Quyên rất vui mừng, tin tưởng vào Bảo tàng vì những kỷ vật của anh chị đã được Bảo tàng trưng bày, lưu giữ cẩn trọng, mang lại nhiều ấn tượng sâu sắc đối với khách tham quan về chí khí cách mạng, tinh thần chiến đấu của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi.
Thiếp cưới của anh Nguyễn Văn Trỗi và chị Phan Thị Quyên, năm 1964.

Chỉ 10 ngày sau khi chị Phan Thị Quyên trở về thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã nhận được 05 bức ảnh chụp đám cưới và tấm thiếp mời đám cưới của anh chị do chị gửi ra. Chị cũng hứa sẽ tiếp tục trao tặng cho Bảo tàng những bức thư của bạn bè trong nước và quốc tế gửi tới chị, ca ngợi tấm gương hy sinh của anh Trỗi và chia sẻ, động viên chị sau khi anh Trỗi đã hy sinh.

Hy vọng sưu tập hiện vật về liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi sẽ ngày càng phong phú, tiếp tục phát huy giá trị để chí khí cách mạng của những người cộng sản như Anh mãi mãi bất tử./.

Lê Thúy Hoàn

(BBT giới thiệu)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Nguồn: BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA - 23/07/2017

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2020

Tiếng vọng hòa bình

Tiếng vọng hòa bình

Mai Thị Huyền,
phòng Giáo dục - Truyền thông,
tổng hợp và biên soạn
Cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc xâm lược của nhân dân Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, trong đó có đất nước Venezuela. Hai quốc gia cách nhau nửa vòng trái đất nhưng lại có sự “chia lửa” trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, tự do. Ngày 9/10/1964, du kích quân Thủ đô Caracas (Venezuela) đã bắt cóc Trung tá Michael Smolen, Phó chỉ huy Lực lượng bảo vệ phái bộ Mỹ tại Caracas để đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn trả tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi. Hành động này đã thể hiện tình hữu nghị lớn lao của nhân dân hai nước.

“Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Trỗi
Người công nhân Thành phố Sài Gòn
Mà lời anh trước súng giặc thù, vẫn cháy lửa chiến đấu.
Ôi tên anh truyền khắp hoàn cầu, vọng về Venezuela,
Cuồn cuộn sôi trong muôn con tim, người du kích châu Mỹ Latinh...”
.
Trích bài hát “Lời anh vọng mãi ngàn năm”, Vũ Thanh


Vào những năm 60 của thế kỷ trước, nhân dân Venezuela rên xiết dưới sự cai trị của chế độ độc tài thân Mỹ, thời Tổng thống Raul Leoni. Chính vì thế phong trào đấu tranh du kích phát triển khắp mọi nơi. Toàn bộ lực lượng du kích đều trực thuộc tổ chức các lực lượng Vũ trang giải phóng Quốc gia (FALN). Với nhân dân Venezuela, đặc biệt là những du kích quân, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam có sức khích lệ, cổ vũ họ rất nhiều.
Ngày 02/5/1964, anh Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ đánh bom tại cầu Công Lý (nối giữa quận Phú Nhuận và Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) nhằm ám sát người dẫn đầu phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara khi đến Sài Gòn để hoạch định sách lược chiến tranh ở Việt Nam. Sự việc bất thành. Anh bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam và kết án tử hình.


Bộ trưởng Bộ quốc phòng McNamara và tướng Nguyễn Khánh ở Huế, tháng 3 năm 1964


Cầu Công Lý nơi anh Nguyễn Văn Trỗi tiến hành đặt bom nhằm ám sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara năm 1964

Để bày tỏ sự phản đối và ủng hộ nhân dân Việt Nam, ngày 9/10/1964, các du kích quân Thủ đô Caracas (Venezuela) đã bắt cóc Trung tá Michael Smolen, Phó chỉ huy lực lượng bảo vệ phái bộ Mỹ tại Caracas làm con tin, yêu cầu đổi tự do cho anh Trỗi. Sau khi bắt trung tá Smolen, đội du kích đưa vào giam trong một căn hầm bí mật ngay tại Caracas, bắt đầu thả những tờ rơi thông báo về sự kiện ấy. Đại sứ Mỹ tại Venezuela vô cùng hốt hoảng, tìm cách thương lượng với lực lượng du kích quân. Để đối phó, chính quyền thân Mỹ tại Venezuela thông báo cho lực lượng du kích rằng việc tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi đã được dừng lại. Giữ đúng lời hứa, du kích quân Caracas phóng thích trung tá Smolen. Nhưng ngay sau khi Smolen được thả, ngày 15/10/1964, Nguyễn Văn Trỗi đã bị chế độ Việt Nam Cộng hòa xử bắn. 12 du kích tham gia vụ bắt cóc Smolen, đều bị bắt và một người đã hy sinh.

Anh đã chết, Anh Trỗi ơi, có biết
Máu kêu máu, ở trên đời, tha thiết!
Du kích quân Caracas đã vì anh
Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành.

Trích bài thơ ‘‘Hãy nhớ lấy lời tôi’’, Tố Hữu, 23/10/1964



Trung tá Michael Smolen

Ông Carlos Argenis Martínez Villalta, cựu du kích quân Caracas từng tham gia chiến dịch bắt cóc Trung tá Michael Smolen, chia sẻ:
"Tôi rất buồn khi nghe tin Nguyễn Văn Trỗi bị tử hình, nhưng ông ấy không bao giờ chết. Ông ấy sống mãi. Khi biết tin ông ấy vẫn bị xử tử, tôi rất đau đớn vì thực sự chúng tôi đã hy vọng là có thể thay đổi được tình hình. Tất nhiên, nếu được làm lại tôi sẽ vẫn làm như vậy. Năm đó, tôi 20 tuổi, tôi có nghe về Việt Nam, về cuộc chiến của Việt Nam qua sách báo. Tôi tham gia du kích từ năm 1962, nhưng năm 1964 là năm đáng nhớ nhất”.


Ông Carlos Argenis Martínez Villalta, cựu du kích quân Caracas

Đánh giá về những đóng góp của các du kích Venezuela đối với cuộc cách mạng của Việt Nam khi tiến hành vụ bắt cóc sỹ quan quân sự Mỹ, ông Phạm Tiến Tư, Phó Chủ tịch thường trực Hội hữu nghị Việt Nam - Venezuela, cựu Đại sứ Việt Nam tại Venezuela cho biết: "Đây là hành động đã ghi dấu ấn rất đậm nét trong tình đoàn kết quốc tế đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Và đây cũng là một dấu mốc đánh dấu tình đoàn kết mạnh mẽ của nhân dân Venezuela nói chung và của Đảng Cộng sản Venezuela nói riêng với cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta".
Câu chuyện về tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Venezuela là nội dung được thể hiện trong trưng bày "Nhật ký hòa bình" tại Di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò. Câu chuyện đã thu hút sự quan tâm của nhiều du khách tham quan, là thông điệp hòa bình cần được lan tỏa.


Du khách tìm hiểu câu chuyện về sự ủng hộ của nhân dân Venezuela dành cho Việt Nam

Bài: Mai Thị Huyền, phòng Giáo dục - Truyền thông,
tổng hợp và biên soạn


Ảnh Anh hùng Nguyễn văn Trỗi trong bảo tàng Hỏa Lò.
Minh Thanh Bùi‎ >> BẠN NVT

Nguồn: Khu di tích lịch sử nhà tù Hỏa Lò - 11/9/2019

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2020

Hành hương tri ân 2018-2019

Tổng hợp







  • K2 về thăm quê Anh Trỗi - 01/08/2019 - tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam - - Ảnh: Nguyễn Nam Khánh K2

  • K2 về thăm quê Anh Trỗi - 01/08/2019 - tại nhà tưởng niệm và nhà thân sinh của AHLS Nguyễn Văn Trỗi. - - Ảnh: Nguyễn Nam Khánh K3

  • K8 Dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ Đường 20 - Quyết Thắng - Hang Tám Cô tại xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình - 29/6/2019 - tại Phù Điêu kể về Sự Hy sinh Anh hùng của các Cô Gái TNXH. - - Ảnh: Hoàng Minh Long K8

  • K8 Dâng hương, Viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - 28/6/2020 - tại Vũng Chùa - Đảo Yến. - - Ảnh: Hoàng Minh Long K8

  • Bạn Trỗi K5, K6 Thăm viếng Mộ Đại tướng - 16/4/2019 - tại Vũng Chùa - Đảo Yến. - - Ảnh: Nguyễn Kim Hồ

  • Bạn Trỗi K5, K6 Thăm viếng Mộ Đại tướng - 16/4/2019 - tại Vũng Chùa - Đảo Yến. - - Ảnh: Phạm Hồng Phương

  • Đoàn Bạn Trỗi K5 thăm Khu đài tưởng niệm Bến phà Gianh nơi AHLS Huỳnh Kim Trung hy sinh 20/8/1972 - 16/4/2019 - - - Ảnh: Ngô Thế Vinh

  • Bạn Trỗi K5, K6 Thăm viếng Hang Tám Cô - 17/4/2019 - Đoàn K5 tại Phù Điêu kể về Sự Hy sinh Anh hùng của các Cô Gái TNXH. - - Ảnh: Ngô Thế Vinh

  • Bạn Trỗi K5, K6 Thăm viếng Hang Tám Cô - 16/4/2019 - Đoàn K6 Dâng hương tại Đền Thờ tưởng niệm các Anh Hùng Liệt Sỹ đường 20 - Quyết Thắng và Di tích Lịch sử hang Tám Cô thuộc xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình - - Ảnh: Sử Thanh Bình

  • Đoàn K6 thăm viếng Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc Gia Đường 9 - 16/4/2019 - tại Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc Gia Đường 9 - - Ảnh: Phạm Hoàng Hưng

  • Đoàn K6 viếng bạn LS Nguyễn Mạnh Minh tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - 16/4/2019 - tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - - Ảnh: Phạm Hoàng Hưng

  • Đoàn K6 Thăm viếng Bến sông Thạch Hãn - Thành cổ Quảng Trị - 17/4/2019 - tại Bến sông Thạch Hãn - - Ảnh: Sử Thanh Bình

  • Đoàn K6 Thăm viếng Bến sông Thạch Hãn - Thành cổ Quảng Trị - 17/4/2019 - tại Thành cổ Quảng Trị - - Ảnh: Lưu Minh Sơn

  • Đoàn K6 thăm Cầu Hiền Lương - 17/4/2019 - tại Cầu Hiền Lương - - Ảnh: Anh Minh

  • Đoàn K6 thăm Địa Đạo Vịnh Mốc - 17/4/2019 - tại Địa Đạo Vịnh Mốc - - Ảnh: Nguyễn Kim Hồ

  • Đoàn K6 thăm Địa Đạo Vịnh Mốc - 17/4/2019 - tại Địa Đạo Vịnh Mốc - - Ảnh: Võ Kim Dung

  • K6 Hành hương tri ân, thăm đảo Cồn Cỏ 18-19/4/2019 - 18-19/4/2019 - tại Cổng chào đảo Cồn Cỏ - - Ảnh: Vũ Điện Biên

  • K6 Hành hương tri ân, thăm đảo Cồn Cỏ 18-19/4/2020 - 18-19/4/2019 - tại Cột Cờ trên đảo Cồn Cỏ - - Ảnh: Trần Vinh Quang

  • K6 Hành hương tri ân, thăm đảo Cồn Cỏ 18-19/4/2021 - 18-19/4/2019 - tại Đài tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ đảo Cồn Cỏ - - Ảnh: Vũ Điện Biên

  • Đoàn K2 viếng Anh Trỗi tại NTLS TPHCM - 01/8/2018 - tại NTLS TPHCM - - Ảnh: Trần Kiến Quốc





K2 về thăm quê Anh Trỗi

(làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam) - 01/8/2019
tại nhà thân sinh ...
... và nhà tưởng niệm của AHLS Nguyễn Văn Trỗi. Ảnh Nguyễn Nam Khánh K2

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2019

Dâng hương tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019) và 30 năm Ngày Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019), nhóm nhỏ Bạn Trỗi cùng gia đình đã đến dâng hương, viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam - tại Vũng Chùa, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.




191222VungChua - Album HữuThành.Nguyễn, 238 photos, Flickr.

Tại Nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Lệ Thuỷ - Quảng Bình.




Nguồn: Thanh Nguyen Huu >> BẠN NVT - 24/12/2019

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2019

Cảm xúc 22/12

Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)

Đỗ Hữu Hạnh
Chiến tranh, lỡ học, đời lính vất vả - ở đâu dân cũng cưu mang.
“Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi, xóm làng tôi còn nhớ mãi...”


Nguồn: Đỗ Hữu Hạnh - 21/12/2019


QUYẾT TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH !


Anh chết rồi em đợi mần chi !
Thương em, anh muốn em đi lấy chồng !

Vẽ để chia sẻ sự trân trọng, để mọi người nhớ chyện ngày xưa: "Đợi anh về"

Nguồn: Đỗ Hữu Hạnh - 19/12/2019




CÁNH VÕNG RU

Trần Quang Trung
Nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội, mời các bạn đọc lại bài thơ "Cánh võng ru". Bài thơ được viết từ cảm xúc khi đọc bài "CÁNH VÕNG XANH" của nhà thơ Lê Tam Hà. Chị Hà như rất nhiều những người phụ nữ VN khác trong chiến tranh đã yêu một người lính, anh đã không về, chị đã chờ đợi trong mỏi mòn, và đặc biệt cảm phục khi chị Tam Hà giờ này vẫn chờ đợi người lính ấy.
(Bạn đọc quan tâm có thể xem bài Thơ CÁNH VÕNG XANH tại: "Quán thơ Bạn Trỗi")

CÁNH VÕNG RU

Xưa, cánh võng nghe ru hời mẹ hát
khúc dân ca nuôi ta lớn thành người
Khi đất nước còn triền miên lửa đỏ
Cánh võng Trường sơn vẫn hát khúc ..à ơi!

Ngày hành quân qua lửa đạn ngút trời
Lính Thăng long vẫn nhớ về Hà nội
Cánh võng đung đưa giữa rừng mưa xối
nỗi nhớ về, lặng lẽ khúc ca dao

Nhớ về em, nỗi nhớ dâng trào
nỗi nhớ mầu xanh như mầu ta hy vọng
rồi một ngày, mầu xanh cách võng
khép hai đầu, đồng đội khóc đưa nhau.

Người không về nữa đâu
cánh võng xanh vẫn ru hoài đời lính
dưới nấm mộ hoang
giữa một miền vô định
mà vẫn hát mãi bài ca cánh võng - tựa lời ru.

TQT: Blog TQTrung


Nguồn: Trung Tranquang - 21/12/2019

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2019

70 năm thế hệ Thiếu sinh quân Việt Nam

70 năm thế hệ Thiếu sinh quân Việt Nam

Nguyễn Sỹ Ẩn - Trần Kiến Quốc


Nhân 60 năm ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh thống nhất các nhà trường TSQ (10/11/1948 – 10/11/2008), BLL TSQ VN đến chúc mừng Đại tướng tại Khu biệt thự Hồ Tây.

Trưởng thành từ mái trường TSQ

Tiếp bước người anh hùng nhỏ tuổi Kim Đồng, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, tiếp đến Nam bộ kháng chiến (23-9-1945), Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), theo lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu, cả nước đã dấy lên phong trào tòng quân giết giặc. Cùng với hàng triệu nam, nữ thanh niên tình nguyện tham gia các đội Cảm tử quân, Quyết tử quân, Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, còn có hàng nghìn em nhỏ 10-15 tuổi xung phong vào bộ đội làm giao liên, trinh sát, tiếp đạn, văn thư, quân giới, sát cánh cùng các anh bộ đội trên các chiến hào từ Nam chí Bắc. Từ những em bé dũng cảm đốt cháy kho xăng, đồn giặc ở mặt trận Thị Nghè, Sài Gòn - Gia Định năm 1945, đến các em bé băng qua lửa đạn đưa thư của Ban chỉ huy Mặt trận Thủ đô Hà Nội đến các chiến hào giữa đêm Thủ đô kháng chiến 19/12/1946 mịt mù khói lửa; và đến hàng nghìn chiến sĩ nhỏ ở các đơn vị chiến đấu, trong các xưởng công binh quân giới khắp mọi miền Tổ quốc.
Đầu năm 1947, báo “Vệ Quốc Đoàn” đăng “lá thư” của một TSQ gửi lên Bác Hồ kính yêu:

Cháu là em bé phương xa,
Theo anh bộ đội xa nhà từ lâu.
Cháu qua sông Đuống, sông Cầu,
Phủ Thông, Đèo Khách,
An Châu, Lũng Vài...

Cố giáo sư, bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ đã kể trong một bài đăng trên báo “Vệ Quốc Đoàn” những năm đầu kháng chiến chống Pháp: Khi ở trạm quân y tiền phương ông đã không cầm được nước mắt khi phải cưa cụt một cánh tay của em Ngọc, một liên lạc viên 12 tuổi bị thương từ mặt trận chuyển về. (Ngọc chính là Nguyễn Văn Trình, nay đã quá tuổi “cổ lai hy”, một nhà văn chuyên viết truyện cho thiếu nhi, đang sống ở Hà Nội).

Với tấm lòng của người Ông, người Cha, Bác Hồ đã nói với Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Các cháu còn nhỏ, không nên để các cháu đi chiến đấu, chết uổng lắm. Tuổi các cháu là phải được học hành”. Từ ý tưởng đó, các trường TSQ đã mọc lên từ miền Đông, miền Tây Nam bộ, đến Liên khu 5, Liên khu 4, Liên khu 3, Khu 10, Việt Bắc, tập trung mỗi trường ít thì 5, 7 chục, một vài trăm, nhiều thì hàng nghìn chú bé liên lạc, trinh sát từ khắp các chiến trường về học tập.

Ngày 10/11/1948, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký nghị định số 425/TCH thành lập trường TSQ VN do Thiếu tướng Lê Thiết Hùng - Cục trưởng Cục Tuyên huấn, trực tiếp làm Hiệu trưởng. Vì hoàn cảnh chiến tranh, các trường TSQ từ Liên khu 4 trở vào Nam không có điều kiện về sáp nhập, còn lại các trường TSQ Liên khu 3, Khu 10, Việt Bắc và TSQ các Đại đoàn 308, 304, Cục Tổ chức (Tổng cục Chính trị), Bộ Tổng Tham mưu, đều hành quân về Thái Nguyên, hình thành trường TSQ VN với quy mô lớn: 3 tổng đội, 12 đại đội, quân số hơn 1.000 học viên.

Cuối năm 1951, thành phần học viên trường TSQ VN được bổ sung thêm con em các cán bộ cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, quân đội và các ngành ở Trung ương và địa phương: con gái nhà cách mạng Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai; con gái Tổng bí thư Trường Chinh…

Trung tá Thanh Hưng, Chính ủy Trung đoàn Sông Lô nổi tiếng và hàng chục sĩ quan trẻ mới tốt nghiệp Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trong đó có nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhạc sĩ Huy Du… được điều về làm giáo viên trường TSQ VN.

Năm 1960, ở Trường Văn hóa Quân đội Lạng Sơn thành lập “Tiểu đoàn con em” D1 TSQ. Và 5 năm sau, ngày 15-10-1965, Bộ Quốc phòng cho thành lập Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi, nuôi nấng, đào tạo con em các cán bộ, sĩ quan đang chiến đấu ở chiến trường và gia đình có công. Con các đồng chí lãnh đạo như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Văn Tiến Dũng và nhiều tướng lĩnh, bộ trưởng, thứ trưởng đã vào học tại đây.

Trong thời kỳ đổi mới có các trường TSQ Quân khu Việt Bắc, Quân khu 9, Quân khu 5, TP HCM…

Từ mái trường TSQ, được Bác Hồ, Đảng, quân đội rèn luyện, đào tạo, lớp lớp thanh niên đã trưởng thành, trở thành lực lượng bổ sung quan trọng cho quân đội và các ngành kinh tế, văn hóa trong cả nước. Các cựu TSQ sau này giữ các cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước, như: Lê Xuân Tùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; Vũ Khoan, nguyên Bí thư TƯ Đảng, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ; Vũ Mão, nguyên Ủy viên TƯ Đảng, nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội... Cựu TSQ trường Nguyễn Văn Trỗi thời kỳ chống Mỹ Nguyễn Thiện Nhân hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM.

Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật có NSND, đạo diễn điện ảnh Đặng Nhật Minh, cùng các NSƯT, nhạc sĩ: Cao Việt Bách, Lê Lan, Phan Phúc, Dương Minh Đức; các họa sĩ Trần Quân Ngọc, Cát Lâm Mậu; nhà văn Ma Văn Kháng, các nhà báo Như Đàm, Trần Thọ, Sĩ Ẩn và các nhà khoa học như giáo sư, tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên, Trần Tiến Nguyên, Vũ Trọng Hùng... đều từng là các TSQ.

Người được báo chí nước ngoài tặng danh hiệu “tỷ phú đỏ” là Lê Minh Ngọc, nguyên TSQ Liên khu 4, nguyên Phó viện trưởng Viện KHXH và NV TPHCM. Thiếu tướng Cao Long Hỷ - trưởng ban liên lạc truyền thống TSQ VN TPHCM là cựu TSQ Miền Đông Nam bộ; và Thiếu tướng Nguyễn Việt Quân - Ủy viên T.Ư Đảng, Chính ủy Quân khu 9; Thiếu tướng Phan Tấn Tài - Phó tư lệnh Quân khu 7… là TSQ thời chống Mỹ.
(Nhà báo Nguyễn Sĩ Ẩn)

Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi thời kì chống Mỹ

Ngày 5/8/1964, giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc XHCN. Ngày 15/10/1964, lật lọng trong vụ trao đổi trung tá Michael Smolen với du kích quân Caracat (Venezuela), Mỹ đã bật đèn xanh cho chính quyền Sài Gòn hèn hạ xử bắn chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi.

Tháng 3/1965, Trường Văn hóa Quân đội tạm dừng nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức văn hóa cho cán bộ quân đội mà chuyển sang tiếp nhận nuôi dưỡng, giảng dạy cho con em cán bộ sĩ quan các cơ quan bộ đang chiến đấu ở chiến trường B, C, K và gia đình có công. Ngày 15/10/1965, đúng một năm sau ngày anh Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, Bộ Quốc phòng ký quyết định 171/QĐQP thành lập Trường TSQ mang tên anh. Lễ khai giảng chính thức được tổ chức ở cửa rừng sườn đông dãy Tam Đảo, thuộc xã An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) – ATK kháng chiến chống Pháp năm xưa.

Chỉ tồn tại 5 năm (1965–1970), đào tạo 1.200 học sinh với 8 khóa (từ lớp 5 đến lớp 10) nhưng đã cung cấp cho quân đội gần 900 chiến sĩ trẻ để đào tạo thành sĩ quan, hơn 1.000 học sinh trở thành kỹ sư, bác sĩ, cử nhân, sĩ quan chỉ huy… hơn 100 giáo sư, tiến sĩ. Trong quân đội và CAND có 4 trung tướng và 16 thiếu tướng cùng hàng trăm cán bộ cao cấp đảm nhận các vị trí trọng trách trong và ngoài quân đội là cựu học sinh TSQ Nguyễn Văn Trỗi.

Tô thắm thêm truyền thống đỏ của nhà trường còn là danh sách 2 thầy giáo và 28 học sinh tuổi mười tám đôi mươi, đã anh dũng hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, trong chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc. Họ là Nguyễn Lâm – con trai cụ Hoàng Hữu Kháng (có tên trong đội bảo vệ thân cận của Bác Hồ thời chống Pháp: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ…), là Võ Dũng – con trai Thủ tướng Võ Văn Kiệt, là Y Hòa – con trai cụ Y Wang Phó trưởng ban Dân tộc Quốc hội; là Nguyễn Tiến Quân – con trai Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên…

Xin được kể về LS Huỳnh Kim Trung, học sinh khóa 5, được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1973.


Chân dung Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.

Về AHLS tuổi 20 Huỳnh Kim Trung

Thành tích chiến đấu

… Sinh ra ở Thủ Dầu Một năm 1952, Trung theo ba - bác Huỳnh Kim Trương, nguyên Tham mưu trưởng Khu 7 của trung tướng Nguyễn Bình - tập kết ra Bắc năm 1954. Năm 1965: nhập trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi, năm 1970: tốt nghiệp. Tháng 12/1970: xung phong nhập ngũ vào lực lượng CAND. Tháng 4/1972, Trung xung phong vào tuyến lửa Quảng Bình, làm công an tập sự giải tỏa ách tắc phà sông Gianh, nối thông huyết mạch chi viện cho chiến trường…

Trong bản báo cáo thành tích đề nghị Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Huỳnh Kim Trung có ghi:

16/4/1972: Giải phóng đoàn xe từ phía nam ra bị tắc, trong khi máy bay Mỹ đánh phá.

29/4/1972: Dập tắt lửa trên xe chở đạn bị máy bay địch bắn cháy, đưa lái xe bị thương đi cấp cứu. Cõng một công nhân bến phà đi cấp cứu trong khi máy bay Mỹ bắn phá.

12/6/1972: Vận động và cùng bà con cứu xe hàng của Đoàn 559 đang đi trên phà bị máy bay Mỹ bắn chìm. Ngay chiều đó, cùng đồng đội vớt và cứu một số đồng chí bộ đội đi dò thủy lôi bị nổ (1 đồng chí được cứu sống, số còn lại hy sinh).

20/8/1972: Trong khi máy bay Mỹ đánh phá, cùng dân cứu kho đạn 37 mm và 85 mm. Đồng chí Trung vác đến hòm thứ 50 thì đạn nổ và bị thương nặng. Khi được cấp cứu, biết không sống được đã yêu cầu cứu chữa người khác nhẹ hơn.

Trạm Công an Giao thông phà sông Gianh, Uỷ ban Hành chính, Xã đội xã Quảng Thuận (Quảng Bình) và Bộ Công an đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVTND và truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Nhật ký chiến trường

… Sau khi anh mất, đơn vị đã bàn giao lại cho gia đình nhiều kỉ vật, trong đó có cuốn nhật ký chiến trường. Hãy cùng xem lại những dòng nhật ký nóng bỏng ấy.

Ngoài bìa là hình ảnh cây thông non đang đứng hiên ngang trước bão táp; phía xa bình mình đang lên cùng những cánh chim hải âu; phía trên có mấy dòng thơ:

“Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vào đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn sung sướng
Vấp ngã – sợ gì, rèn luyện ắt thành công!”.

“Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy?”

26/6/1972

Như vậy là sắp hết 3 tháng thực tập tại Quảng Bình. Đáng lẽ hôm nay mình và các bạn chuẩn bị đồ đạc, tổng kết để trở về Thủ đô Hà Nội yêu dấu. Thế nhưng, đùng một cái, có lệnh ở lại công tác thêm một thời gian nữa. Thầy Chi – phụ trách tụi mình – đã có giấy gọi về trường.

Đêm hôm chia tay thật là bùi ngùi, lưu luyến. Kể ra thì có buồn thật, nhớ nhà và bà con cô bác, nhớ H., nhớ Hà Nội… Bao nhiêu tình cảm vui buồn lẫn lộn… Thế nhưng biết làm thế nào được, đây là nhiệm vụ của cách mạng, của Đảng giao, ta phải phục tùng và làm tròn. Nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy mình còn thua xa những chiến sĩ vô Nam đã hàng chục năm nay, hoặc nhiều đồng chí công tác trong này từ 1966…

Biết đến bao giờ mình được ghé thăm nhà, dù chỉ một lần thôi, rồi đi bất cứ đâu cũng được; vì hôm vô đây đâu có kịp ghé qua nhà! Như vậy, bắt đầu từ nay, mình đã thực sự bước vào đời! Một cuộc sống mới đang mở ra trước mắt mình với đầy gian nan, vất vả, nhưng đầy vinh quang.
30/6/1972

Mấy ngày nay địch đánh ngày càng căng, do chiến trường ta đang thắng lớn, địch như con thú dữ cùng đường đâm cắn càn. B52 của chúng ngày nào cũng rải thảm, đã 10 ngày nay rồi đất Quảng Bình luôn hứng bom B52. Có lần, mình cùng anh Vân đi đào hầm ở nhà anh ấy. B52 rải thảm cách đấy có 1 km. Bom nổ xé trời, đất rung chuyển như muốn sập xuống và như muốn tung lên tất cả. Nghe nó rền rĩ, àm ào như bão tố; thế mà hai anh em cứ nhìn nhau cười, vì hầm mới đào ngang đầu gối. Nguy hiểm thật!

Suốt 15 ngày qua, đêm nào cũng mất ngủ, thật là vất vả. Ngày dỡ nhà cũ, dựng nhà mới ở chỗ khác, rồi đào hầm, đắp hầm… đêm lại trực. Một ngày ngủ nhiều nhất có 2-3 tiếng đồng hồ. Người đen thui, hốc hác, hai hố mắt trũng sâu. Thế nhưng vẫn ca hát, vui cười. Giá có cái đài nghe ca nhạc thì vui biết mấy, hoặc có cây ghi-ta cũng được. Kỷ niệm về những đêm ca nhạc hay chiếu phim ở Hà Nội mãi mãi sống trong lòng tôi. Hà Nội yêu dấu của tôi đang chiến thắng giòn giã. Hà Nội, quê hương thứ hai của tôi ơi! Sẽ có ngày tôi trở về với chiến công chói lọi từ tuyến lửa anh hùng.

8/7/1972

Trưa nay nằm trong hầm, tôi lại giở sổ tay viết vội vài dòng cho khuây khỏa. Suốt 2 tháng trời không được tin nhà, khiến lòng tôi xao xuyến lo âu. Về bản thân cá nhân, tôi không lo cho tính mạng của mình, mà lo cho cha mẹ già và bà chị đau ốm với đứa cháu gái ngây thơ, nhỏ dại, lo cho những người thân của tôi. Không có đài nên tin tức chiến sự cũng mù tịt, chẳng biết gì cả. Buồn thật! B52 với chúng tôi bây giờ như cơm bữa. Hôm nay, chúng tôi lại vừa hoàn thành một cái nhà và một hầm lớn mới.

Các o gái ở đây cứ gặp mình là lại trêu chọc, (thật khổ cho chàng trai chưa vợ), và cũng nhiều lúc họ muốn ngỏ tình chi đây? Thế nhưng, mình cũng ít nói chuyện, mà chỉ cười trừ thôi. Bởi vì tôi còn đợi chờ một hy vọng to lớn, cao đẹp hơn, đó là thống nhất đất nước. Lúc đó tôi mới có thời gian lo nghĩ tới chuyện “kia”. Quê huơng sẽ giang cánh tay đón tôi trở về.


Nhật ký chiến trường của Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.

6/8/1972

Hôm nay, cùng một lúc nhận được 3 bức thư: của gia đình, của Mạnh Chiến và Công Trường (những thằng bạn chí thân). Thật khó mà nói hết nỗi vui mừng của mình.

Xem thư ba, thấy gia đình vẫn mạnh khỏe và đã đi sơ tán. Đó là điều ta lo lắng bấy lâu. Cháu Kim Sơn đã lớn khôn và ở với bà ngoại. Đứa cháu gái lên 2 bé bỏng xinh xinh chắc giờ này chẳng nhận ra cậu của nó nữa, vì cậu đã già và có râu như ông ngọai rồi (!). Mới vô Quảng Bình có 4 tháng mà mình đã già đi nhiều quá. Nhiều lúc nghĩ mà giật mình! Tội nghiệp con cháu mới sinh ra đã phải đi sơ tán theo bà, đến lúc mới chập chững biết đi đã phải nếm mùi bom đạn. Biết bao cháu bé trên đất nước này đã phải chịu bao cảnh tang tóc, mồ côi do chiến tranh gây nên. Không hiểu những bà mẹ có lương tri trên trái đất sẽ nghĩ gì về những cháu bé Việt Nam, những cháu bé vô tội, ngày chỉ biết bú no, ngủ ngon đã phải chịu đau thương, tang tóc như người lớn. Những bà mẹ Mỹ sẽ suy nghĩ gì về con cái họ, cũng từ những đứa nhỏ bập bẹ gọi ba, gọi má, mà giờ đây đã trở thành những con quỷ xa tăng ác thú hủy diệt những gì gọi là sự sống trên mảnh đất Việt Nam xa xôi này, chúng giết hại từ những bà mẹ tóc bạc phơ cho đến những cháu bé còn chưa kịp mở mắt trông thấy ánh sáng Tổ quốc mình. Họ sẽ nghĩ sao khi con cái họ đang gây tang tóc và mang những thứ văn hóa đồi trụy của nước Mỹ – mà chúng gọi là văn minh – sang xứ sở này, để từ đó, con cái giết lại mẹ cha, quên cả tình mẫu tử và gây nên những bệnh tình truyền nhiễm, cuối cùng chuốc lấy cái chết nhục nhã và sẽ nằm mãi trên mảnh đất xa nuớc Mỹ hàng vạn dặm này.

Thật đúng là, cha mẹ sinh con - trời sinh tính! Cũng là những đứa trẻ sơ sinh, nhưng ở hai chế độ khác nhau sẽ tạo nên những con người khác nhau. Một bên trở thành những con thú dữ chỉ lấy giết người làm thú tính, mang hình người mà lòng dạ dã thú. Một bên trở thành những con người biết yêu quê hương, yêu gia đình, yêu cuộc sống và con người. Phải chăng chế độ tươi đẹp sẽ tạo nên những con người tốt đẹp, chế độ thú vật sẽ tạo nên những con thú dữ xấu xa. Mà cái tốt đẹp bao giờ cũng có sức mạnh đập tan mọi xấu xa và bất công trong xã hội này. Cái mới bao giờ cũng thắng cái cũ, cái tiến bộ bao giờ cũng dẹp đi cái lạc hậu. Thế phát triển của xã hội bao giờ cũng đi lên, bánh xe lịch sử không bao giờ quay ngược… Mất con, bà mẹ nào chẳng đau khổ. Thế nhưng cái đau khổ đó cũng khác nhau. Cùng đau khổ vì mất đứa con mình đã mang nặng đẻ đau, nhưng sẽ đau khổ hơn, day dứt hơn, khi bị mang tiếng đời nguyền rủa vì đã sinh ra những đứa con ác thú. Một đằng đau khổ, nhưng tâm can được nhẹ bớt phần nào, được an ủi vì con ta đã ngã xuống tại mảnh đất ta sinh ra và lớn lên, vì mảnh đất đó mà con ta đã hy sinh, vì mảnh đất mà tổ tiên và dân tộc giao phó mà con ta hy sinh, vì bảo vệ cuộc sống hoà bình - hạnh phúc cho mọi người lương thiện mà con ta ngã xuống không một điều gì ân hận. Tổ quốc sẽ ghi công ơn, cả dân tộc sẽ đời đời nhớ mãi những người con quang vinh.

Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu từ thuở bé được sinh ra và lớn lên, để khoác súng lên đường đi khắp mọi miền đất nước, giết sạch những con ác thú mang hình người kia, để cứu lấy những bà mẹ già, những cháu bé vô tội.

Chúng con sẽ thực hiện lời Bác: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”. Quét sạch giặc rồi, lúc đó con sẽ về phụng sự má già, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác…

Những dòng nhật ký này dừng ở ngày 6/8/1972. Và đúng 2 tuần sau, ngày 20/8, Huỳnh Kim Trung đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 20.

Vỹ thanh!

… Gần nửa thế kỉ sau, em trai Huỳnh Kim Thành khi nhận được lá đơn tình nguyện đi chiến đấu của anh mình, đã kể: “Trong đời anh tôi đã 2 lần từ chối sự ưu đãi của nhà nước dành cho để lao vào cuộc chiến của dân tộc. Lần đầu là từ chối giấy gọi đi học Hàng hải ở Ba Lan để theo học ngành CA, gần với cơ hội ra chiến trường. Và lần sau là khi tốt nghiệp trường Cảnh sát, được giữ lại làm giáo viên thì anh lại làm lá đơn tình nguyện ra tuyến lửa Quảng Bình, đúng thời kỳ ác liệt nhất.

Chỉ sau khi viết là đơn này, được nhà trường chấp thuận, anh Huỳnh Kim Trung vào tuyến lửa tháng 5/1972, để rồi mấy tháng sau đi mãi, chưa trở về...”.

Hơn năm sau, ngày 31/12/1973, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định số 110-LCT, truy tặng anh hiệu Anh hùng LLVTND cho LS Huỳnh Kim Trung!

Huỳnh Kim Trung, bạn TSQ Nguyễn Văn Trỗi của chúng tôi, ra đi đến nay đã 47 năm. Năm nào cứ đúng ngày 20/8 dương lịch, bác Huỳnh Kim Trương cũng mời chúng tôi đến giỗ bạn; và năm nay, khi bác sắp tròn bách niên, vẫn thế…

Huỳnh Kim Trung mãi mãi tuổi 20!

Nguyễn Sỹ Ẩn - Trần Kiến Quốc


Nguồn: Báo điện tử Đại Đoàn Kết - 18/09/2019

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Nghĩa trang Liệt sĩ Nhổn

Nghĩa trang Liệt sĩ Nhổn

Nguyen Viet Hung
Hoa giấy trên Nghĩa trang Liệt sĩ Nhổn, Từ Liêm.
Nơi đây quy tập rất nhiều Liệt sĩ chống Tàu xâm lược.
Họ là những thanh niên hiến dâng máu đào và tuổi xuân trắng trong của mình.
Có lẽ vì vậy mà những bông hoa Trắng Đỏ nơi đây sắc nét
đẹp một cách lạ lùng...

Nguồn: FB Nguyen Viet Hung - 24 tháng 7/2019

BẠN NVT - BẠN CŨ ĐÂU RỒI!

BẠN NVT - BẠN CŨ ĐÂU RỒI!


Hè rồi bạn bè chung lớp hợp.
Có nhiều anh lớn cũng có anh nhỏ
50 năm nhiều đứa chưa gặp lại
Nhiều đứa Lính đi lâu không thấy về
Có nhiều đứa ngày xưa đi ra trận
Chiến tranh tàn đã lâu nó vẫn biền biệt
Biết nó giờ còn hay đã mất...
Mong sao chúng nó về...
Dù tay hai cây nạn gỗ, hay ngồi xe lăn
Cầu mong Ông Trời cho bình yên tất cả
Qua năm chúng mình hợp. Trường Lớp đông đủ.
Dù tuổi có Già mà lòng ta luôn vui trẻ.

Mỹ Tài.



MY Tai
Đêm qua nằm Mơ họp Lớp thấy bạn bè học chung thời niên thiếu "TSQ-NVT" về đông đủ... LIỆT SỸ các bạn học Trong - Ngoài Nước về hợp đông đủ...
{Hình Liệt Sỹ - Nguyễn văn Ngọc 10-10-1968.}
18 tuổi máy đi xa... nếu giờ này còn sống, thì có vợ con, cháu Nội cháu Ngoại như tụi tao... Thương nhớ mầy quá...
- Nhưng vì nước H-S Bỏ Mẹ Cha già, chứ ai muốn phải không NGỌC...?
Nguồn: FB MY Tai - 17/11/2019.