Thứ Tư, ngày 20 tháng 7 năm 2016

Thương nhớ Nguyễn Văn Ngọc!


Tháng 7 với ngày 27

Thương nhớ Nguyễn Văn Ngọc!




Nguyễn Văn Ngọc, liệt sỹ đầu tiên của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi

Trường Văn hóa quân đội – Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi chỉ tồn tại 5 năm (1965 – 1970) nhưng đã đào tạo 8 khóa với 1200 học sinh. Tốt nghiệp ra trường, hơn 900 em đã nhập ngũ và hơn 800 trở thành sĩ quan. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có 2 thầy giáo và 28 học sinh anh dũng hy sinh khi tuổi đời mới đôi mươi.
Nhân ngày 27-7 năm nay, xin ghi lại hồi ức CCB Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

- bạn cùng khóa, cùng tham gia chiến đấu và chứng kiến phút cuối cùng của liệt sỹ Nguyễn Văn Ngọc.




Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (Sinh: 1950. Hy sinh: 10-10-1968)



Ham muốn đánh giặc giỏi
... Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Trước đó, cha mẹ chúng tôi công tác tại Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục hậu cần... nhiều người đã ra trận. Công tác “hậu phương quân đội” cũng vô cùng quan trọng. Vậy là con em cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng được cho sơ tán xa Hà Nội, Hải Phòng... tránh máy bay Mỹ.
Chúng tôi được đón lên doanh trại Trường Văn hóa Bộ Tổng tư lệnh ở Hiệp Hòa, Hà Bắc tiếp tục học tập. Sau 3 tháng thử nghiệm, thấy khả thi, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trường Văn hóa quân đội mang tên Nguyễn Văn Trỗi: dạy – học theo mô hình đào tạo Thiếu sinh quân, chuẩn bị lớp kế cận sau chiến tranh.
Lễ khai giảng đầu tiên tại cửa rừng Tam Đảo, An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái vào ngày 15-10-1965, sau 1 năm này anh Trỗi hy sinh. Do chiến tranh càng ác liệt, đầu năm 1967, nhà trường được lệnh rời Đại Từ, sơ tán sang thành phố Quế Lâm (Trung Quốc).
Nguyễn Văn Ngọc là học sinh khóa 4 của nhà trường. Bạn “đúp” xuống khóa 5 vào đầu năm học (1966 - 1967) khi đại đội 5 đóng quân ở Suối Chì, An Mỹ, Đại Từ, Thái Nguyên. Sang Quế Lâm, Ngọc về cùng trung đội với Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

và tôi thuộc đại đội 71, do thầy Thụy phụ trách.
Ở lớp, có Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

, Tô Văn Hoành

Tô Long Hoành - K3-5




mb 0978994059 - nr056-825175 - cq -- Trần Độc-P. Trần Phú--Quy Nhơn-VN
- Kỹ sư - Cty Thủy sản Quy Nhơn -
- ACE:

02/09/2015

, Võ Dũng - K5

Võ Dũng - K5


1951
1972 – Liệt sĩ, Hy sinh 21-4-1972, Mặt trận Khu 9, Rach Gia
mb 0913.919206 (em gái Hieu Dan) - nr - cq -- ---MN-VN
Liệt sĩ - - -
- ACE:

Ngọc tuổi đã lớn, không chuyên tâm học hành nên nằng nặc xin nhà trường cho về nước tham gia chiến đấu: “Học chưa giỏi ở nhà trường nhưng sẽ chiến đấu giỏi nơi chiến trường”. Hè 1967, Mỹ, Ngọc, Hoành cùng Võ Dũng và một số bạn lên tầu về nước.
Về đến Hà Nội, các bạn xin các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi chiến đấu. Sau khi cân nhắc, Võ Dũng được xếp về trường Quân chính quân khu Tả Ngạn; còn Mỹ, Ngọc và Hoành về đại đội 6, tiểu đoàn pháo cao xạ 57mm thuộc Trung đoàn 233, Sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội. Từ ngày đó, ba anh em “Lưu-Quan-Trương” thề “sống chết có nhau”!


Những ngày tháng là lính phòng không
Khi thì đơn vị đóng ở bãi Phúc Tân bảo vệ cầu Long Biên, lúc lại về trận địa bên hồ Văn Chương, sau ga Hàng Cỏ; có lúc trận địa chuyển sang Gia Lâm, bảo vệ kho xăng Đức Giang. Những ngày không trực chiến, ba đứa hay mò về Ba Đình “đánh moóc-xơ” báo anh Văn Tiến Trình (con trai bác Văn Tiến Dũng), đang trực phòng không trên nóc Nhà Quốc hội xuống chơi.
Ba đứa đã chứng kiến những ngày gian khổ nhất của trận địa phòng không Hà Nội và không thể quên hình ảnh cầu Long Biên bị trúng bom, gãy nhịp; kho xăng Đức Giang ngùn ngụt cháy. Họ đã cùng Hà Nội chiến đấu đánh trả những đợt đánh phá của giặc Mỹ.
Ngày 31-3-1968, sau Mậu Thân, giặc Mỹ buộc phải tuyên bố “ném bom hạn chế” từ Vĩ tuyến 20 trở vào đến Vĩ tuyến 17: đoạn Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Vĩnh Linh được gọi là “vùng cán xoong”. Mỗi khi phải ngừng ném bom từ Thanh Hoá đổ ra là chúng lại tập trung bom đạn đánh vào “vùng cán xoong”. Một số đại đội của Sư đoàn 361 được lệnh bổ sung cho Sư đoàn 367 bảo vệ miền Trung.
Lẽ thường tình, các chú cho ba đứa ở lại Hà Nội. Vì khi đó, ba Mỹ và Hoành đang chiến đấu ở chiến trường B; còn Ngọc là con liệt sỹ (ba hy sinh trong kháng chiến chống Pháp). Cả 3 thừa tiêu chuẩn đi học tiếp. Nhưng 3 đứa bàn nhau, như vậy sẽ không còn cơ hội đánh giặc và kiên quyết đề nghị Tổng cục cho đi đợt này.
Ngày đơn vị hành quân, trận địa cách nhà có bao xa mà không kịp về chia tay mẹ. Ngọc đã tranh thủ viết vài dòng về nhà:
23 tháng 5 năm 1968
Mẹ kính yêu!
Chúng con vừa nhận được lệnh trên. Xe pháo đã chuẩn bị xong xuôi và ngay ngày hôm nay sẽ lên đường. Có lẽ khi bức thư này tới tay mẹ thì con đang trên đường hành quân vào Khu Bốn chiến đấu và có khả năng sẽ vào sâu hơn. Vì rất gấp nên con không gặp mẹ được, chỉ còn vài tiếng nữa thôi, vậy con gửi thư này đến mẹ để tạm biệt. Cầu mong mẹ khỏe. Có lẽ phải đến khi đất nước thống nhất, hòa bình thì mẹ con ta mới được gặp nhau.
Con xin hứa với mẹ sẽ làm tròn nhiệm vụ được giao và tu đưỡng tốt để ba mẹ yên tâm. Ba mẹ ở lại khỏe là con mừng. Khi vào đến chiến trường, con sẽ báo tin về. Con của mẹ - Ngọc
Vừa hành quân, vừa chiến đấu. Vào đến thành phố Vinh, khi thì trận địa pháo bố trí ở xã Hưng Dũng bảo vệ Nhà máy nước, lúc lại về Hưng Thuỷ bảo vệ Nhà máy điện và phà Bến Thủy…
Trong khẩu đội, Mỹ là pháo thủ số 1, phụ trách “hướng” và ấn cò; Ngọc là pháo thủ “tầm” số 2 cùng các pháo thủ “cự ly”, “mục tiêu”, tiếp đạn và khẩu đội trưởng. Pháo 57mm mỗi gắp đạn có đến 4 viên nhưng có thể bắn liên tục và hạ mục tiêu ở độ cao đến 6000m. Tuy mỗi người một nhiệm vụ nhưng với khẩu hiệu “Rèn luyện để trở thành pháo thủ toàn năng”, mọi chiến sĩ trong khẩu đội đều có thể thay thế vị trí đồng đội mình.
Giữa thời tiết khắc nghiệt của đất xứ Nghệ, nắng rát đến cháy da và gió Lào thì khô không khốc. Chiều chiều, anh em lại thay nhau chạy ào sang nhà dân, gần trận địa tắm nhờ.
Một lần, nghe kẻng báo động, máy bay Mỹ ập đến, anh em từ nhà dân vội chạy về. Vì đã nhảy vào vị trí của pháo thủ số 2 nên một đồng đội khác thế vào ghế của Mỹ. Ác nghiệt thay, phát đạn 23 ly từ trên máy bay đã bắn xuyên thủng ghế sắt, xuyên tiếp qua lưng người bạn đang ngồi vị trí số 1. Anh bạn đã thay Mỹ hy sinh. Ở chiến trường, giữa cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc! Người này hy sinh lại có đồng đội khác về bổ sung.


Anh dũng hy sinh
Ở miền Trung, có thông lệ, nếu bị máy bay tấn công thì chỉ được phép đánh trả từ sau 4 giờ chiều để tránh bị lộ mục tiêu (vì giặc Mỹ kiểm soát cả từ trên không và từ ngoài khơi). Nhưng sáng 10-10-1968, từ 8 giờ, hàng đàn máy bay đã tấn công phà Bến Thuỷ, hòng cắt đứt đường tiếp vận của ta vào Nam. Nhiều tốp F4H lần lượt lao xuống cắt bom vào trận địa. Bom đạn nổ rầm trời, tai điếc đặc, khói lửa mù mịt, trận địa khét lẹt mùi thuốc súng…
Dân xã Hưng Thuỷ nhìn máy bay bổ nhào xuống trận địa đã khóc thương: Ác liệt thế này chắc các chú bộ đội chết hết! Đại đội thương vong nhiều nhưng vẫn kiên quyết đánh trả. Không một ai rời bỏ vị trí, các ụ pháo vẫn xoay nòng hướng trực diện vào mục tiêu. Khẩu đội trưởng phất cờ, hô to: “Còn sống còn dựng màn đạn. Bắn!”. Cả đại đội dựng lưới lửa, hai chiếc máy bay vừa bổ nhào đã trúng đạn, bốc cháy, lao ra biển.
Những chiếc còn lại điên cuồng vòng lại. Lần này, chúng cắt bom chụp xuống trận địa. Đó là loại bom phát quang, chỉ nổ khi cách mặt đất 4-5m; cây cối trúng mảnh bom đổ rạp như ngả rạ. Bỗng chớp lòe! Ầm! Một quả bom nổ ngay sát khẩu đội. Mảnh bom phạt ngang thân Ngọc chỉ để lại nửa thân dưới, ruột gan lòng thòng, máu me bê bết… Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

lao sang ôm lấy xác bạn, gào lên: “Ngọc, mày chết thật rồi sao?”.
Thế là cái thằng Ngọc, học cùng trường khi ở rừng Đại Từ, bị ngã nước, được bạn bè gán thêm cái biệt danh “ghẻ”; cái thằng Ngọc “tốt”, trắng trẻo đẹp trai, ăn nói dẻo mồm làm xiêu lòng bao cô gái dọc đường hành quân; cái thằng bạn không ỷ mình là “con ông cháu cha”, vẫn nằng nặc xin đi chiến đấu ngày nào, đã mãi đi xa! Nó ra đi khi vừa tròn 18. Ba anh em đã mất một, biết nói sao đây với ba mẹ Ngọc?
Vừa khóc vừa ôm xác bạn ra hố bom cũ còn đọng nước mưa, tạt lên rửa sạch vết máu dính đất cát, Mỹ run lên: “Tao sẽ trả thù cho mày, Ngọc ơi!”. Ngay chiều hôm ấy, đơn vị tổ chức chôn cất các liệt sĩ tại nghĩa trang xã Hưng Dũng. Hận thù trào dâng! Ngày sau, đơn vị tiếp tục hành quân vào Hà Tĩnh và đóng quân tại quê hương cụ Nguyễn Du...
Ba tuần sau, đúng ngày 1-11-1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Ai cũng tiếc thương cho Ngọc. Số phận nó khổ quá! Giá mà chờ thêm ít ngày nữa… Nhưng ai mà nói trước được điều gì, vì đó là chiến tranh!
Sau ngày ngừng bắn, 2 đứa qua nghĩa trang, gói một nắm đất lấy từ mộ Ngọc cho vào ba-lô lên tầu ra Bắc và tìm đến gia đình Ngọc ở Khu tập thể Nam Đồng. Cô Trần Thị Ngọ, mẹ Ngọc, đã ngất đi khi nhận được nắm đất. Chú Nguyễn Chí Điềm (ba dượng của Ngọc), một người lính vào sinh ra tử, nguyên Tư lệnh Bộ đội Đặc công ôm lấy Hoành và Mỹ, nói trong nước mắt: “Ráng chiến đấu trả thù cho Ngọc, các con ạ!”.
Cuối 1968, với những gì đã hứa với bạn, Mỹ và Hoành lại lên đường vào chiến trường đánh giặc cho đến ngày toàn thắng. Đỗ Tấn Mỹ

Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

vinh dự trở thành lính của chú Điềm - trinh sát đặc công Z27, sư đoàn 5 và 2 lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”…

* * *

“Chiến tranh đã qua đi gần nửa thế kỷ, vậy mà tao không quên được những năm tháng ác liệt đó cùng những đồng đội – kẻ còn, người mất. Trên đầu tao, trên người tao vẫn còn mảnh đạn... Có lẽ đó là Hội chứng chiến tranh, mày ạ!”Đỗ Tấn Mỹ

Đỗ Tấn Mỹ - K5

B1
8 8 1952

mb 0955.092275 - nr - cq -- ---TP HCM-VN
- - -
- ACE:

1974

10/2015

chia sẻ.
Nhớ về Nguyễn Văn Ngọc, anh lẩm bẩm: “Quên làm sao được cái ngày nó hy sinh; đó chính là Ngày giải phóng Thủ đô”. Năm nào, nếu không ra được Vinh, trở về trận địa năm xưa thắp hương cho đồng đội đã hy sinh là anh lại mua nải chuối, có bát cơm, quả trứng thắp hương cho hương hồn Nguyễn Văn Ngọc và đồng đội.

Cùng Quốc Sủng lập bàn thờ nơi Ngọc hy sinh


Còn với chúng tôi – lứa Thiếu sinh quân thời chống Mỹ, tuy đã bước qua cái tuổi lục tuần nhưng không thể nào quên được những đứa bạn thuở thiếu thời. Chúng tôi luôn tự hào về thầy, cô và mái trường thân yêu, nơi đã đào tạo nên những học sinh như Nguyễn Văn Ngọc - dám hy sinh tuổi xuân của mình vì Độc lập, Tự do của Tổ quốc!



Nguồn: FB Tran Kienquoc - 20 Tháng 7 lúc 4:01 ·

Bài đã đăng trên Sự kiện & Nhân chứng (QĐND) tháng 7/2016



Chủ Nhật, ngày 17 tháng 7 năm 2016

Nhớ Võ Dũng


Tháng 7 với ngày 27

Nhớ Võ Dũng

(Đức Dũng và Kiến Quốc)

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã mất vợ và ba người con trong chiến tranh. Một trong ba người con của ông là Võ Dũng - bạn học của chúng tôi ở trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi. Võ Dũng là một trong 28 học sinh của Trường đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Võ Dũng 1967, ngày ở Quế Lâm

Ngày còn bé ở SG.


Ảnh ghép thêm Võ Dũng.


Ảnh ghép thêm Dũng, Dân và bé Chí Tâm.



Một chiều tháng 5-1965, có chiếc com-măng-ca chạy từ phía rừng trẩu bên kia đồi lên Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đóng tại Trại Hòe. Bước ra xe là một phụ nữ dong dỏng cùng hai em gái, đi sau cùng là một cậu trạc tuổi chúng tôi. Thầy Ninh Cử Trực ra đón. Khi cô và hai em ra về, thầy Trực dẫn cậu bạn ra giới thiệu: “Đây là bạn Võ Dũng, con một cán bộ Trung ương Cục miền Nam. Bạn ra miền Bắc cùng em gái, ba mẹ ở lại trong đó. Từ hôm nay, Dũng là bạn các em”. (Mãi sau này tôi mới biết, người phụ nữ đưa Dũng lên hôm đó là cô Bảy Huệ, vợ bác Nguyễn Văn Linh, cũng đang công tác ở chiến trường B2).

Bọn trẻ chúng tôi ở trường ngày ấy, ngoài thời gian ôn tập lại chương trình lớp 5 là các giờ học Điều lệnh nội vụ, tập đội ngũ, quân phong quân kỷ và… chơi. Cánh học sinh miền Nam từng xa cha mẹ nhiều năm nên trò nghịch ngợm nào của lũ trẻ sống tập thể cũng biết. Võ Dũng luôn cầm chòm các trò nghịch này; hết lấy que diêm cháy làm “muỗi Sài Gòn” dính vào chân bạn, đến lấy kim khâu và mực Tàu xăm hình lên cánh tay, hay trốn ngủ trưa ra mương câu cá, mò cua…
Dù chơi với nhau, bọn tôi cũng ít hỏi cha mẹ bạn mình là ai, làm gì. Với Võ Dũng cũng thế, chưa bao giờ chúng tôi biết bạn là con của chú Sáu Dân - người sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Nhiều năm sau khi Võ Dũng hy sinh, gặp cô em gái Võ Hiếu Dân, tôi mới được nghe Hiếu Dân kể về gia cảnh: “ Ba cưới má Kim Anh đến năm 1951 thì sinh anh Dũng tại Rạch Giá. Sau năm 1954, ba ở lại hoạt động bí mật, còn 3 anh em Dũng theo má khắp nơi. Vì chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man, sau Luật 10/59, cơ quan Trung ương Cục phải tạm lánh sang Phnôm Pênh. Ba đưa Dân và Dũng theo cùng. Ngày đó chính quyền của Quốc vương Si-ha-nuc rất có cảm tình với Việt Nam nên đây là “chỗ dựa liền lưng” tin cậy. Năm 1960, ba quay lại Nam Bộ, hai anh em được các chú đưa ra miền Bắc, được dì Bảy Huệ đón về nuôi. Vì Dân còn bé nên ở Hà Nội, anh Dũng được gửi vào học trường Học sinh miền Nam rồi sau vào Trường Thiếu sinh quân”.

Võ Dũng sau này có thêm em út là Phan Chí Tâm sinh đầu năm 1966. Nhưng sau khi sinh em, một nỗi đau mất mát vô cùng lớn xảy ra. Ngày 17-12-1966, con tàu chở má Kim Anh cùng hai em Ánh Hồng và Chí Tâm trong chuyến ngược lên cứ đã đi vào vùng cấm và bị trực thăng bắn xối xả. Toàn bộ hành khách trên tàu không còn ai sống sót. Khi tin dữ đến với chú Sáu Dân, ông đau đớn vô cùng, mấy ngày liền ông đi dọc bến sông nơi tàu Thuận Phong chìm để tìm vợ, tìm con, trong đó có đứa con trai mà ông chưa biết mặt. Vậy nhưng chú Sáu vẫn không quên dặn mọi người: “Không được cho thằng Dũng và con Dân biết tin này”.

Ở Trường Thiếu sinh quân, thỉnh thoảng, Võ Dũng nhận được thư ba nhưng chỉ có vài chữ thông báo: Má và hai em con vẫn khỏe. Đầu năm 1967, chiến tranh phá hoại ác liệt hơn, nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm, Trung Quốc. Xa má đã 7 năm mà không có một lá thư của má, Dũng linh cảm có điều không lành xảy ra. Dũng gửi thư hỏi ba nhưng không thấy ba trả lời. Vậy là Dũng nhiều lần lên gặp Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh, nằng nặc xin về nước: “Cháu biết các chú giấu cháu tin má đã hy sinh. Giờ cháu chẳng còn thiết học hành. Các chú phải cho cháu về nước chiến đấu, trả thù cho má”. Biết không thể giấu mãi, nhà trường đành phải cho Dũng biết toàn bộ sự thật và để Dũng về nước theo nguyện vọng.

Tháng 3-1968, Võ Dũng bạn tôi rời Quế Lâm về nước, huấn luyện, rồi theo đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn” về Nam.
Hàng mấy tháng trời đi dọc Trường Sơn, Dũng mới vào tới căn cứ. Ba con gặp nhau, chú Sáu ôm Dũng vào lòng, không nói nên lời, nước mắt tràn mi. Chỉ ở với ba dăm bữa, Dũng nằng nặc xin về Đặc khu Sài Gòn - Gia Định để đánh giặc, trả thù cho má. Biết càng vào sâu, cái chết càng cận kề, nhưng hiểu tính con, chú Sáu đồng ý dù lòng thắt lại vì lo lắng. Chú Sáu có thể giữ Dũng lại bên mình vì tổ chức hiểu, ông đã mất quá nhiều cho cách mạng. Nhưng chú Sáu không làm thế. Ông để con trai mình đi vào nơi bom đạn khốc liệt nhất.

Biết Võ Dũng là con cán bộ cao cấp, chỉ huy xếp Dũng vào đơn vị thông tin để an toàn hơn nhưng Dũng một mực xin xuống đơn vị chiến đấu và đề nghị được về Rạch Giá: “Má cháu đã bị giặc giết hại, các chú phải cho cháu về quê má chiến đấu”. Đến tháng 6 năm 1971, Dũng được điều từ miền Đông Nam Bộ về Mặt trận T3 thuộc Khu 9.

Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba xin bằng được về Trung đội 2 trinh sát (thuộc Tiểu đoàn 3). Ngày 21- 4-1972, trong chuyến trinh sát cùng hai đồng đội, không may cả nhóm rơi vào ổ phục kích. Ba anh em đã hy sinh trên kênh Tây Ký, xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Vân, tỉnh Rạch Giá. Võ Dũng ra đi khi vừa tròn 21 tuổi, ngay trên quê hương của má Trần Kim Anh.
Sau ngày giải phóng, tháng 11-1975, chú Sáu và gia đình tới đơn vị nhờ tìm Dũng. Khi đưa thi hài lên, lần trong túi quần vẫn còn bịch ni-lông đựng thuốc rê. Hài cốt Dũng được cải táng, đưa về nghĩa trang An Nhơn Tây, huyện Củ Chi.
Chú Sáu Dân mang trong lòng mình nỗi đau mất mát khôn nguôi vì sự ra đi của những người thân. Sau này, khi tìm lại nơi chiếc tàu Thuận Phong đắm và cẩu lên thì chẳng còn thấy hài cốt nào sau bao năm nằm sâu dưới lòng sông Sài Gòn. Chú Sáu đã đưa hài cốt tượng trưng của má Kim Anh và hai em Ánh Hồng, Chí Tâm cùng Võ Dũng về Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Mộ phần bốn mẹ con cùng năm liệt sĩ nằm quây quần bên nhau như chín cánh của một bông hoa trong Nghĩa trang.

* * *

Võ Dũng là một trong 28 bạn và 2 thầy giáo của Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng hy sinh. Chúng tôi, những người còn sống, coi cha mẹ, gia đình liệt sĩ như cha mẹ, gia đình mình. Những ngày kỉ niệm thành lập trường, chúng tôi đều mời chú Sáu cùng cha mẹ các bạn đến dự. Rảnh là chú có mặt và không quên căn dặn chúng tôi nhớ tiếp bước cha anh.

Nhớ con, ông kể, ngày cha con gặp nhau tại R, Dũng kể chuyện được gặp Bác Hồ:
“Cuối năm 1968, Bác cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Dinh Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, Dũng và Dân cũng vinh dự được gặp Bác. Bác ân cần hỏi thăm tình hình học tập, dặn dò các cháu phải ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ, thầy cô, rồi Bác chia kẹo cho từng cháu. Đến lượt Võ Dũng nhà chú, Bác hỏi: "Cháu có ngoan không?". Nó khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”. Bác xoa đầu: “Giỏi, cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!”. Và Dũng cũng được nhận quà của Bác. Đó cũng là một vinh dự, một kỉ niệm đẹp trong cuộc đời ngắn ngủi của nó. Năm sau, nó đi B và ba năm sau nó hy sinh…”.
Rồi ông tâm sự: “Đất nước có chiến tranh kéo dài thì khó có gia đình nào không có mất mát, hy sinh. Nhà chú chỉ là một trong hàng triệu, hàng triệu gia đình Việt Nam như thế. Cô và hai em mất không tìm thấy hài cốt; may mà còn tìm được thằng Dũng. Nhưng hy sinh, mất mát cứ để cho buồn bã, đau thương kéo dài thì sẽ làm được gì? Còn phải sống, còn phải làm việc vì tương lai…”. Chú Sáu Dân nói thế, nhưng tôi biết trong lòng chú vẫn đau đớn khôn nguôi.
Khi còn sống, chú vẫn hỏi bạn bè Võ Dũng về cuộc sống của con khi còn ở trường. Chú Sáu Dân còn hỏi: ‘Ngày xưa Dũng có thương ai không? Để chú đi tìm…”. Trước khi chú Sáu mất, ông đã đưa cả bốn mẹ con về chôn cất ở nghĩa trang gia đình tại quê hương Vĩnh Long để tiện ngày đêm hương khói.


Trần Kiến Quốc

Nguồn: FB Tran Kienquoc - 14 Tháng 7 lúc 6:54 ·

Bài đã đăng tại BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN (Báo điện tử CAND) - 09:26 16/07/2016 trong mục Gương sáng với tiêu đề Hướng tới kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ 27-7: Chuyện chưa biết về sự hy sinh anh dũng của người con cả Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bài đã phải chỉnh sửa vì khuôn khổ cho in của bài (cỡ 2000 từ).

Báo VietNamNet đã đăng lại 17/07/2016 03:01

Thứ Tư, ngày 25 tháng 5 năm 2016

Nhớ về Lớp trưởng 8i Nguyễn Trãi K23 – Bùi Thọ Tuyến



(K23) – “Ngày mai đây trong cuộc chiến đấu máu lửa ấy, có thể em sẽ ngã xuống thì mỗi giọt máu của em phải đổi lấy một giá cao nhất. Và nếu đó là sự thật thì cho em gửi lời chào vĩnh biệt!” – Bùi Thọ Tuyến, Lớp trưởng 8i đã viết như vậy khi trên đường ra chiến trường.



Trường Phổ thông Cấp 2-3 Nguyễn Trãi, Hà Nội những năm 70 của thế kỷ trước. Nguồn: BT.


Lớp trưởng 8i Trường Phổ thông Cấp 3 Nguyễn Trãi, Hà Nội năm 1970-1971 – Liệt sỹ Bùi Thọ Tuyến, sinh năm 1955, hy sinh ngày 23/3/1974 trong sự nghiệp giải phóng Dân tộc, bảo vệ Tổ quốc tại chiến trường miền Nam, lúc vừa tròn 19 tuổi, khi chỉ còn hơn 365 ngày nữa là im tiếng súng.


Bùi Thọ Tuyến



Bùi Thọ Tuyến sinh ra trong một gia đình cán bộ cách mạng, bố là ông Bùi Thọ Tư, Tỉnh đội trưởng tỉnh Thái Bình, đã mất; mẹ là bà Nguyễn Thị Hồng Liên làm công tác thương nghiệp ở Chợ Bo của thị xã, mất ngày 9/7/2010, ở tuổi 89, mang theo nỗi đau con chưa về. Gia đình Tuyến sống tại thị xã Thái Bình ở Khu tập thể bốn tầng Lê Lợi. Bùi Thọ Tuyến theo học Trường Nguyễn Văn Trỗi 1965-1970, trở về tiếp tục học phổ thông cấp 3 ở Hà Nội.

Tháng 9 năm 1970, sau khi Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi giải thể, Bùi Thọ Tuyến nhập học vào Lớp 8i của Trường Phổ thông Cấp 3 Nguyễn Trãi, Hà Nội. Ngay buổi họp sinh hoạt lớp đầu tiên, Tuyến được cô Chủ nhiệm Nguyễn Mai Hương giới thiệu và cả lớp nhất trí bầu làm Lớp trưởng. Học xong lớp 8 (hệ 10 năm), tháng 5/1971, lúc tình hình chiến sự trên chiến trường miền Nam vào giai đoạn ác liệt. Cả nước sục sôi trong khí thế của Lệnh tổng động viên. Tuyến tự nguyện viết đơn và xin phép gia đình tham gia Quân đội.

Bùi Thọ Tuyến viết đơn tình nguyện bằng máu của mình xin nhập ngũ. Mới 16 tuổi chưa đến tuổi nhập ngũ, Thị đội Thái Bình đã từ chối. Tuyến đã nài nỉ mẹ xin đăng ký nhập ngũ ở xã Hoàng Diệu, huyện Đông Hưng – chỗ quen biết với gia đình. Huyện đội Đông Hưng đã chấp thuận cho Tuyến nhập ngũ. Từ đây anh vào huấn luyện tại Sư đoàn 305 đặc công trên Xuân Mai, tỉnh Hòa Bình.

Tôi còn nhớ, vào một ngày hè nóng bức năm 1971, chúng tôi một nhóm nhỏ tụ tập tại nhà riêng của tôi trên đường Nguyễn Thái Học để gặp gỡ chia tay Tuyến ra chiến trường. Bùi ngùi, xúc động, Tuyến không quên gửi lại quà kỷ niệm cho bạn bè vắng mặt và dặn lại tụi tôi: “Nếu sau năm 75 mà mình không về, thì các bạn hiểu rằng là mình đã ra đi mãi mãi”. Và đó cũng là lời chào từ biệt của Tuyến với bạn bè, sự tiên đoán về chấm dứt cuộc chiến. Sau đó, năm 1975 ta giải phóng hoàn toàn miền Nam và người bạn của 8i Nguyễn Trãi năm 1970-1971 Bùi Thọ Tuyến cũng hy sinh trước đó 1 năm.

Huân Chương Kháng chiến hạng 3. Nguồn: BTC.



Trên đường hành quân ra chiến trường, anh đã để lại một bức thư đầy cảm động, một lời chào trước lúc đi xa. Đây có thể là lá thư cuối cùng của người lính trẻ viết về cho gia đình.

“Hà Tĩnh, ngày 14 tháng giêng năm 1972

Anh Chúc kính mến!

Hôm nay, sau khi hành quân từ Vinh về đây, bọn em nghỉ để chờ ôtô vào Quảng Bình. Em vội viết mấy dòng về cho anh.

Thanh niên tạm biệt lên đường ra trận

Anh Chúc ạ, vào đến đây, em được trang bị đầy đủ như cho một người lính chiến. Sơ sơ cũng 30kg, vì đi xa nên phải mang nhiều thứ. Bọn em còn hành quân vào tận B2, đường hành quân dài đến 2000km và sẽ sống, chiến đấu ở ngoại ô Sài Gòn. Thế là, hôm nay còn trên đất Hà Tĩnh thì mai, chỉ sáng mai thôi là chân chúng em đạp “trên triền núi cao Trường Sơn” rồi.

Anh Chúc yêu quý! Em cũng đã nhiều lần đi xa, nhiều lần xa nhà, nhưng phải nói thật rằng, lần này khi tầu chuyển bánh, lòng em xao xuyến vô cùng. Cũng không hiểu vì sao?! Nhìn cột cây số cứ vun vút lùi lại phía sau: Hà Nội – 20km, rồi 30, 100, 150, 200, ngày càng xa dần, xa dần, rồi không nhìn thấy gì nữa.

Nước mắt em muốn trào ra, điều mà cách đây 10 năm về trước em tưởng rằng sẽ không bao giờ có nữa.

Anh Chúc ạ! Nếu như có một nhà văn đi cùng trên chuyến tầu này thì sẽ tả chuyến đi này của bọn em như thế nào? Chỉ tiếc rằng em chỉ là một anh lính, bình thường như mọi anh lính khác, cũng chỉ có những lời nói chân thành, mộc mạc. Chẳng biết nói sao khi các mẹ, các anh, các chị, các em giơ tay vẫy chào những người lính trẻ chuẩn bị bước vào cuộc thử lửa. Còn trên tầu của lính thì như một rừng tay vẫy mãi, vẫy mãi.

Em cũng thế, con người em tưởng như gỗ đá thế mà nước mắt cứ ứa ra, tay cứ vẫy vẫy dù trước mắt không phải người thân thuộc của mình! Em biết nói gì bây giờ? Chỉ biết rằng, ngày mai là cuộc chiến đấu mới!

Thôi, anh cho em tạm dừng bút vì thời gian còn rất ít. Ôtô đến rồi. Ngày mai đây trong cuộc chiến đấu máu lửa ấy, có thể em sẽ ngã xuống thì mỗi giọt máu của em phải đổi lấy một giá cao nhất. Và nếu đó là sự thật thì cho em gửi lời chào vĩnh biệt!

Chúc anh khỏe, trẻ, công tác, học tập tốt!

Em của anh.

Bùi Thọ Tuyến”.


Bằng Tổ quốc ghi công. Nguồn: BTC.



Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, một đồng đội cùng chiến đấu với Tuyến đã gặp bà Nguyễn Thị Hồng Liên. Trong nước mắt, anh đã kể lại toàn bộ câu chuyện Bùi Thọ Tuyến hy sinh. Trong trận đánh ác liệt, ngay trong giây phút mở cửa đột phá, anh đã trúng đạn bắn thẳng của địch. Ngày Tuyến ra đi là ngày 23/3/1974, chỉ còn hơn một năm nữa là cả nước có hoà bình!.


Giấy báo tử. Nguồn: BTC.




Và trận đánh ấy đã xảy ra ở huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa (cũ), miền Đông Nam bộ, người chiến sỹ đặc công Bùi Thọ Tuyến đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 19.

Để ghi nhớ công lao của các anh hùng liệt sỹ, ngày 17/11/1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồngđã ký Bằng Tổ quốc ghi công cho Bùi Thọ Tuyến. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thái Bình cũng chính thức gửi Giấy báo tử số 4393KB/PCS (ký ngày 1/5/1977) về cho gia đình. Trên đó chỉ ghi “Hy sinh tại mặt trận phía Nam”.

Vào ngày 2/7/1986, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký quyết định truy tặng cho Liệt sỹ Bùi Thọ Tuyến Huân chương Kháng chiến hạng Ba.

Vài dòng ôn lại nhân dịp kỷ niệm 40 năm ra trường của Nguyễn Trãi K23, nhớ về bạn – Bùi Thọ Tuyến, Lớp trưởng 8i của Nguyễn Trãi Cấp 3, Hà Nội năm 1970-1971 ngày ấy. Bọn mình – những cựu học sinh 8i mãi mãi nhớ về người bạn sôi nổi, nhiệt huyết và đầy lãng mạn.

Tuyến ơi, năm tháng cũng sẽ qua đi, cuộc sống rồi sẽ thay đổi, nhưng những tình cảm và hình ảnh đẹp đẽ của Tuyến được chúng tớ nhớ mãi./.

Hà Nội, 10/8/2013,

Ba Tín

Nguồn: Trang Thông tin Điện tử iTin - http://daoduytinh.vn/, 20/8/2013.


Chủ Nhật, ngày 17 tháng 1 năm 2016

Thứ Năm, ngày 01 tháng 1 năm 2015

Những chuyện ít biết về cuộc đời người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi



(ĐSPL) - Cuộc đời của người anh hùng cách mạng Nguyễn Văn Trỗi, anh dũng hy sinh đã để lại bao sự tiếc nuối trong lòng mỗi người dân Việt. Nhưng không ai biết rằng, không chỉ là người chiến sỹ cách mạng, anh còn được biết đến là một người thông minh và có những dự cảm trước cái chết một cách kỳ lạ. Dưới đây là những thông tin ít biết về Nguyễn Văn Trỗi qua lời kể của thầy dạy vỡ lòng của anh.



Những kỷ niệm khó quên

Trong những ngày cuối năm, khi không khí Tết đang tràn về khắp mọi miền đất nước, cũng là thời gian khắp nơi vừa tổ chức kỷ niệm ngày người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bị quân thù xử tử, chúng tôi lặn lội tìm về mảnh đất quê hương anh tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung (huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Người đón tiếp chúng tôi trong ngôi nhà cũ chính là cụ Nguyễn Văn Nhung (85 tuổi), thầy dạy đầu tiên của người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.

Tuy tuổi đã ngoài thất thập cổ lai hy, nhưng khi nghe nhắc đến học trò Nguyễn Văn Trỗi, thì ông vẫn nhớ rõ ràng từng chi tiết. Cụ Nhung được biết đến là người thầy nhiệt tình và năng nổ của bao thế hệ học trò vùng quê nghèo mà anh dũng trong chiến tranh. Nhấp ngụm trà, ánh mắt xa xăm, cụ đưa chúng tôi về với những kỷ niệm trong quá khứ: "Hồi ấy, tôi sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo, cha mẹ chỉ có điều kiện cho học bậc sơ học. Nhưng vì tôi ham học lại nhớ bài rất giỏi nên nắm được khá nhiều kiến thức".

Cụ Nhung nhớ tới người học trò, người anh em Nguyễn Văn Trỗi.


"Đất nước đang loạn lạc, lớn lên tôi cũng tham gia cách mạng, rồi quay về làm thư ký cho bên xã đội, được một thời gian, nghỉ việc, lại về nhà. Tôi mới nghĩ ra cách có thể đem con chữ của mình đi dạy cho nhiều học trò, những người đang mù chữ", cụ kể. Nghĩ là làm, vì không có lớp học đàng hoàng, mà nhiều người đang cần biết chữ, nên cụ liều mượn tạm ngôi miếu Bà để làm trường. Học sinh rất đông, trong đó có anh Nguyễn Văn Trỗi.

Dạy học trong thời chiến không hề dễ dàng. Quân địch nghi ngờ những bài giảng của cụ. Nhiều lúc bị triệu tập lên xuống, nhưng cụ Nhung chỉ khẳng khái với quan điểm: "Tôi chỉ muốn dạy tất cả những ai chưa biết chữ và dạy cách làm người". Lời khẳng định của cụ khiến lớp học được an toàn. Nhờ vậy, nhiều năm liền cụ đào tạo rất nhiều thế hệ học trò. Cụ còn bảo, mỗi người Việt khi đất nước loạn lạc, ai cũng muốn đứng lên để làm gì có ích cho Tổ quốc. Riêng cụ, tình yêu thương dành cho đất nước mà cụ có, chính là trở thành người thầy đem con chữ đến cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ.

Vì thế mà từ đầu làng đến cuối xóm, cụ Nhung được biết đến như một người thầy mẫu mực, cho bao thế hệ noi theo. Đôi mắt sáng và giọng nói ấm áp, rõ ràng, cụ kể cho chúng tôi nghe về kỷ niệm của những học trò mình từng dạy. Trong đó, điều chúng tôi tò mò chính là người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nhắc đến anh, cụ lại rưng rưng nước mắt: "Mới đó mà đã 50 năm qua từ ngày em Trỗi mất". Thấy cụ gọi thân mật, hỏi ra mới biết, anh Trỗi chính là người anh em con chú con bác của cụ.

Theo cụ Nhung, anh Trỗi sinh ngày 1/2/1940, là con thứ ba (nên còn được gọi là Tư Trỗi) trong một gia đình nghèo. Làng Thanh Quýt ngày ấy, đất chật người đông, xóm làng, gia đình ly tán, người dân bần hàn cơ cực, bố anh Trỗi ở lại Sài Gòn. Mẹ anh Trỗi vừa lo chạy giặc vừa lo cái ăn, lại thêm bệnh tật không còn sức chịu đựng, nên đã ra đi khi anh chỉ mới 3 tuổi. Vì gia đình ly tán, anh Trỗi ở cùng với người bác tại Thanh Quýt.


Dự cảm trước về cái chết?

"Tôi là anh và cũng là thầy của Tư Trỗi. Trỗi rất chăm chỉ, thông minh, học mau hiểu, làm mau biết. Sáng đi học, chiều lại đi gánh nước, xay bột kiếm tiền. Anh em nương tựa, đùm bọc nhau từ bé", cụ Nhung nhớ lại. Cho đến năm 1954, anh Trỗi ra Đà Nẵng tìm kiếm việc làm. Tìm được một công việc nhưng anh cũng chỉ làm được một thời gian. Sau đó, Tư Trỗi xuống tàu vào Sài Gòn, với mong muốn tìm kiếm việc làm và học nghề.

Cụ Nhung còn nhớ như in ngày anh Tư Trỗi xuống tàu với hai bàn tay trắng, cả gia đình không hề hay biết. Khi mọi người hay tin thì tàu đã vào đến Bình Định - Phú Yên, không thể gọi Trỗi quay về. Vào Sài Gòn, lúc đầu anh xin được công việc đạp xích lô, được mấy tháng chuyển sang xin học nghề điện. Từ đó, anh rất ít về nhà, mỗi bận về chỉ được mấy hôm rồi lại đi. Khi đi học nghề điện, anh Tư học rất thông minh nên biết rất nhiều kiến thức. Ban ngày anh học điện những nơi trung tâm, tối lại học lý thuyết, nhờ vậy anh nắm rất rõ những kiến thức đã học. Nhờ thông minh, chăm chỉ, anh được nhận vào làm công nhân nhà máy Điện Chợ Quán.

Nhưng điều mà cụ Nhung và gia đình không ai hay biết, chính là anh Tư Trỗi hoạt động cách mạng từ bao giờ. Cho đến năm 1963, khi anh Trỗi về thăm gia đình. Trong những ngày ở lại quê hương, anh cùng cụ Nhung đêm nằm tâm sự, nói chuyện về những trắc trở băn khoăn cho tương lai, về những dự tính ngày mai. Anh em hàn huyên cho đến đêm khuya. Cụ Nhung còn nhớ, đêm đó, anh Tư Trỗi nói rất nhiều so với những lần về khác.

Đến sáng ngày 15/10/1963, anh Tư Trỗi ra trước sân nhà, nơi có những hàng cau xanh mát rồi dùng viên đá tỉ mỉ khắc lên thân cau hàng chữ về mốc ngày tháng mình về thăm quê. Thấy hành động của người em là lạ, cụ Nhung mới gặng hỏi "tại sao mấy lần chú không vẽ, nhưng lần này lại vẽ lên đó". Tư Trỗi chỉ cười và nói, "thì đó là ngày em về thăm quê". Rồi sau đó, anh Trỗi trở lại mảnh đất Sài Gòn.

Hai anh em lại xa cách, cụ Nhung tiếp tục con đường dạy học của mình. Cho đến một năm sau, đúng ngày 15/10/1964, cụ nghe trên đài nói về việc xử tử một anh hùng. Cụ và gia đình sửng sốt khi nghe đến tên anh Nguyễn Văn Trỗi. Nước mắt giàn giụa thương cho người em còn quá trẻ, nhưng chứng kiến sự kiên cường bất khuất của em mình, mặc dù vô cùng đau đớn nhưng cụ Nhung và gia đình hãnh diện vô cùng. Cụ tự hào vì dòng họ mình có được một người anh dũng như vậy. Sau cái chết của Tư Trỗi, cụ mới biết thì ra người anh em của mình đã gia nhập chiến sỹ biệt động Sài Gòn, từng hoàn thành nhiều nhiệm vụ được giao, cũng từng tiêu diệt được nhiều tên địch.

Khi biết tin phái đoàn quân sự cấp cao của Mỹ do Mắc Namara - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn đến Sài Gòn thị sát chiến trường vào tháng 5/1964, lực lượng của ta liền vạch kế hoạch tiêu diệt Mắc Namara. Mặc dù, mới cưới vợ được 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ, cùng đồng đội tiến hành cài mìn ở cầu Công Lý, nơi dự đoán Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ đi qua. Tuy nhiên, trong khi đang làm nhiệm vụ, anh Tư Trỗi bị bắt. Kẻ thù ra sức tra tấn đánh đập dã man, nhưng để đảm bảo cho hoạt động và tính mạng đồng đội, anh Tư Trỗi kiên quyết không khai mà còn nhận hết trách nhiệm về mình. Chính vì vậy anh bị kết án tử hình.

Kể đến đây, cụ Nhung bảo, mới đó mà đã 50 năm. Thời gian trôi thật nhanh, tất cả đã lùi vào quá khứ nhưng hình ảnh người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi vẫn sống mãi trong lòng dân tộc.

Người từng dạy nhiều thế hệ học trò trong vùng
Trao đổi với chúng tôi, ông Trương Công Phát, Trưởng thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) cho biết: Cụ Nhung là người thầy đã từng dạy cho nhiều thế hệ học trò trong vùng, là người sống gương mẫu. Cụ đã giúp cho nhiều người trong vùng biết đọc, biết viết, có kiến thức và hiểu biết thêm nhiều điều.
Tập thơ cụ sáng tác về quê hương.


ĐINH HIỀN

Nguồn: Báo Đời sống và Pháp luật 01/01/2015.


Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Tấm ảnh kỉ niệm vô giá - Kiến Quốc

50 năm ngày hy sinh của Anh Trỗi (15/10/1964 - 15/10/2014)


Tôi vừa nhận được thư anh Trần Thắng, con trưởng chú Trần Độ.
Anh viết:
"Mấy hôm trước, vào dịp kỷ niệm anh Trỗi hy sinh, anh muốn gửi 1 tấm hình cho Quốc để đóng góp nhưng tìm mãi hôm nay mới thấy.
Đây là tấm hình hồi mới lấy nhau của anh Trỗi chị Quyên. Khi vào căn cứ, chị Quyên có tặng cho chú Chín tấm ảnh này. Sau đó ông gửi cho anh.
Anh cũng đã giữ gần 50 năm nay.
Gửi Quốc và các bạn 1 kỷ vật của cái thời "hoa đỏ".
Trần Thắng"
Cảm động hơn, chị Quyên đề tặng chú vào ngày 15/10/1965, đúng sau 1 năm ngày anh hy sinh. (Khi đó chú là ủy viên TW Cục, Phó bí thư Quân ủy miền, Phó chính ủy Quân GPMN).
Nguồn: Báo liếp "Bạn Trỗi K5" 31/10/2014.




Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Kỷ niệm 50 năm Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh (15/10/1964-15/10/2014)

50 năm ngày hy sinh của Anh Trỗi (15/10/1964 - 15/10/2014)


Tại Tp. HCM

Thứ Năm, ngày 02 tháng 10 năm 2014

Giỗ lần thứ 50 của anh Trỗi (Vũ Anh)


Trưa ngày 2/10/2014, nhằm ngày 9/9 âm, chị Phan Thị Quyên tổ chức đám giỗ cho anh tại nhà riêng ở phường Thảo Điền, Q2, TPHCM.
Đại diện bạn Trỗi từ k3 đến k8 đã có mặt thắp hương cho anh.
Chị Quyên và anh Tư Dũng rất cảm động trước tình cảm chân thành của các em Trỗi con. Anh Tư còn đi khắp lượt uống với đàn em. Ở trên đó, anh Trỗi cũng ấm lòng.


Vũ Anh cùng chị Quyên.
Đại diện BLL chia sẻ cùng chị. Có cả Trung Quốc từ HN.


Đạt k8 không vắng lần giỗ nào.
Cánh k8.


Cánh k5, k3.
Phan Nam chủ xị?


Nhất Trung giao lưu các khóa.


Nguồn: Báo liếp K5