Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Viếng Bạn Nguyễn Văn Ngọc và Bác Điềm

Phạm Kháng Trường >> ‎Bạn Trỗi K5 09/12/2017

Viếng Bạn Nguyễn Văn Ngọc và Bác Điềm tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh - Ngày 03/12/2017.

Liệt sĩ, hy sinh ở tuổi 18

Bạn sinh 1950 và... ngày 10/10/1968 là cái ngày định mệnh. (Tấn Mỹ rất nhớ: Ngày đó là ngày giải phóng thủ đô, sao quên được). Từ sớm nhiều đợt máy bay Mỹ tấn công vào trận địa. Chúng dùng bom phạt - nổ khi chưa tới mặt đất. Cả khẩu đội 57 của Ngọc trúng đạn. Nghe tin, Mỹ chạy về tìm thì ngay chỗ thằng Ngọc ngồi chỉ tìm thấy nửa thân dưới. Máu me bê bết, gan ruột lòng thòng. Vừa khóc vừa ôm xác bạn, lấy tay tạt nước mưa dưới hố bom để rửa bùn đất. Anh em hy sinh được xếp nằm dài ở đầu làng...


Vùng quê trên ngọn đồi cao


Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Thăm NTLS Đức Thọ viếng mộ Bác Điềm & A Ngọc

GIAO LƯU HÀNH HƯƠNG VỀ THĂM QUÊ BÁC TẠI TP. VINH (1 đến 4/12/2017)
Ngày CN 03/12/2017:
8h Xuất phát đi Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh viếng mộ Bác Điềm & A Ngọc.


Can Nguyenphuc
Bạn NVT và K5 NVT đã đến nơi này bạn Ngọc ơi. Bạn và người thân của bạn, đoàn đã thắp hương, chuyển lễ để bạn an nghĩ thanh thản nơi này, sau cuộc chiến ác liệt. Những ngôi mộ nơi đây mọi người tỏa đi thắp hương trên mộ, làn khói bay lên, cũng làm ấm cúng nơi này trong tiết trời se lạnh

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

VC Bachai Viếng bạn LS Nguyễn Văn Ngọc

Trần Quốc Sủng 24 Tháng 11 lúc 21:13
Bạn về xứ Nghệ-Tĩnh thắm tình BANTROI (Vui cùng bạn sống. Viếng bạn & bố bạn đã hy sinh). Chúc vợ chồng bạn thượng lộ bình an và vui vẻ tiếp mọi nơi ban đến.


















Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

HỔ PHỤ SINH HỔ TỬ

Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ
27/7/1947-27/7/2017

(Bài gửi Báo Tuổi Trẻ nhân dịp 27/7/2017)




Ngôi trường vinh dự mang tên Anh
Chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi anh dũng hy sinh ngày 15-10-1964. Tròn một năm sau, ngày 15-10-1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập nhà trường mang tên Anh. Ngày khai giảng đầu tiên được tổ chức ở cửa rừng An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái – An toàn khu thời chống Pháp. Ngay từ khi khoác bộ quần áo quân phục nhập trường, các bạn đã tâm niệm lời Bác Hồ dạy: Lấy tên Anh Trỗi đặt cho trường để các em noi theo gương Anh!
Chỉ tồn tại 5 năm (1965 – 1970), Trường Văn hóa quân đội – Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (thuộc Tổng cục Chính trị) đã giáo dục 8 khóa với 1200 học sinh (từ lớp 5 đến lớp 10) - là con em gia đình có công, gia đình cán bộ trong và ngoài quân đội đang chiến đấu ngoài mặt trận. Sau đó, gần 900 em nhập ngũ và được đào tạo trở thành sĩ quan, hơn 1000 học sinh có trình độ kĩ sư, bác sĩ, cử nhân; hơn 100 tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư... Sau hơn nửa thế kỉ phấn đấu, rèn luyện, có 3 trung tướng, 15 thiếu tướng cùng hàng trăm sĩ quan, cán bộ cao cấp trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân - học sinh khóa 5, là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM.
Mái trường ấy còn tự hào với 2 thầy giáo (Nguyễn Văn Phố, Nguyễn Đăng Đạo) và 28 học sinh đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004.
Ban Liên lạc phía Nam cùng thầy, cô giáo và chị Phan Thị Quyên viếng mộ anh Trỗi, ngày 15-10-2004, dịp thầy Phú, thầy Bính từ HN, thầy Tiến từ Nha Trang vào thăm TPHCM.
Hàng đứng bên trái mộ Anh: Tấn Mỹ, Nam Điện, Chỉnh Huấn, Lê Võ Tiến Hưng, thầy Phú, cô Thục, chị Quyên. Phải: thầy Tiến, thầy Bính, thầy Trọng, Phương (cháu Anh Trỗi), Hoài Nam.
Ngồi: Phan Nam, Dương Đức Hải, Kiến Quốc, Nguyễn Hữu Hà, Dương Minh, Thiệp, Tất Tuấn, Anh Minh, Công Trường, Đậu Châu, Hồ Bá Đạt.




Những người bạn hy sinh đầu tiên
Hè năm 1966, trong những ngày lao động xây dựng doanh trại, bạn Nguyễn Lâm Duy (học sinh khóa 4) đã dũng cảm hy sinh khi chặt cây, lấy gỗ trong rừng An Mỹ. Lâm Duy được TCCT công nhận là liệt sĩ Thiếu sinh quân. Ba của Lâm Duy là thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, tư lệnh đầu tiên của Liên khu 5 thời chống Pháp và cũng là tư lệnh đầu tiên của binh chủng Tăng – Thiết giáp (1970). Những ngày này, đọc lại cuốn hồi kí “Ngược Bắc, Xuôi Nam” của ông, có nhắc lại sự hy sinh của Lâm Duy.
Còn học sinh hy sinh đầu tiên trên chiến trường là liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc (khóa 4). Ở Ngọc, hoàn cảnh khá đặc biệt, bố hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Hoà bình lập lại, năm 1954, mẹ Ngọc xây dựng với chú Nguyễn Chí Điềm (nguyên tư lệnh Bộ đội Dù, sau là tư lệnh Đặc công). Với chí căm thù giặc, Ngọc cùng Đỗ Tấn Mỹ, Tô Văn Hoành xin nhà trường cho đi chiến đấu. “Ba anh em Lưu – Quang – Trương” thề sống chết có nhau và được điều về sư đoàn phòng không 361 bảo vệ vùng trời Hà Nội, sau đó cùng sư đoàn 367 vào bảo vệ vùng trời Thành Vinh. Ngày 10-10-1968, Ngọc chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh ngay trên mâm pháo, trước ngày giặc Mỹ “ném bom hạn chế” ra miền Bắc có vài tuần.

Và danh sách anh hùng, liệt sỹ thêm kéo dài…
Trong số 30 liệt sỹ của nhà trường, Huỳnh Kim Trung (khóa 5) được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cuối năm 1973. Đang là học viên trường Trung cấp Cảnh sát Suối Hai, Ba Vì, Trung xung phong vào mặt trận Quảng Bình, tham gia giải tỏa ách tắc giao thông ở “điểm chốt” - bến phà sông Gianh. Hết đợt thực tập, đã có danh sách rút về trường nhưng Trung xin ở lại. Ngày 20-8-1972, khi đang cùng đồng đội di dời những thùng đạn tới nơi an toàn thì Trung bị thương. Biết mình không qua khỏi, Trung giục đồng đội hãy cứu người bị nhẹ hơn. Sau đó, Huỳnh Kim Trung đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 20. Ba của Kim Trung là đại tá, kiến trúc sư Huỳnh Kim Trương. Năm 1947, bác đã là tham mưu phó Bộ tư lệnh Quân khu 7 và sau 1975, có nhiều đóng góp cho việc quy hoạch TPHCM. Năm nào, tổ chức đám giỗ cho con trai, cụ cũng không quên mời chúng tôi.

Học sinh khóa 1, kĩ sư vũ khí Bùi Hữu Thích, sau khi tốt nghiệp Đại học Quân sự đã nhận nhiệm vụ về Lữ đoàn Tăng 203, làm trợ lí quân khí. Trên đường hành quân vào Nam, khi cả đoàn xe bị đánh bom, anh đã dũng cảm nhảy lên thay thế đồng chí lái xe đã trúng đạn hy sinh, đưa xe chở đầy đạn tới nơi an toàn. Chiều ngày 22-8-1972, khi nhận nhiệm vụ đi tiếp nhận đạn pháo xe tăng từ Hậu cần chiến dịch, gần đường số 9 Nam Lào, anh đã hy sinh khi bị 3 máy bay phản lực bổ nhào, thả bom xuống đội hình. Trung tá Bùi Hữu Xích, ba anh, có nhiều năm công tác ở Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng) luôn tự hào vì con trai mình đã không làm hổ danh gia đình.

Khóa 3 của nhà trường có 3 liệt sĩ, đó là Lê Minh Tân (hy sinh: 1-4-1974), Cao Quốc Bảo (7-5-1975), Ngô Ngời (1-7-1979).
Cũng như Ngô Ngời, Lê Minh Tân đang là sinh viên Bách khoa Hà Nội thì có lệnh Tổng động viên. Sau huấn luyện, anh về đơn vị C23, Đoàn A16, Bộ đội Tăng – thiết giáp Tây Nguyên. Vào đến chiến trường, anh không viết một dòng thư về cho ba má vì đã hứa “bao giờ được kết nạp Đảng mới viết thư về nhà!”. Gia đình nhận được lá thư đề ngày 26-3-1974. Không ngờ rằng, đó là lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng! Đúng 6 ngày sau, ngày 1-4-1974, Lê Minh Tân đã anh dũng hy sinh tại cây số 34, đường 46B, cách sân bay Khâm Đức 8km, thuộc mặt trận Quảng Nam. Thân phụ liệt sĩ, đại tá Lê Bưởi có nhiều năm công tác tại Bộ Tổng tham mưu, đã gửi cho chúng tôi lá thư và di ảnh quý giá của liệt sĩ. Cho tới ngày 14-5-2007, sau 33 năm thất lạc, Ban liên lạc cựu chiến binh Tăng – Thiết giáp, gia đình và đồng đội Trường Trỗi đã đón anh từ Quảng Nam về Nghĩa trang liệt sĩ TPHCM.

Cùng với liệt sỹ Nguyễn Lâm Duy và Nguyễn Văn Ngọc, khóa 4 còn 2 liệt sỹ Vũ Chí Dũng và Nguyễn Văn Ơn. Trường hợp liệt sĩ Vũ Chí Dũng cũng thật đặc biệt. Tốt nghiệp lớp 10, được tham gia khám tuyển và Dũng đủ tiêu chuẩn đi học lái máy bay chiến đấu ở Liên-xô. Nhưng anh kiên quyết xin đi chiến đấu. Bác Vũ Công Thuyết, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế, vui vẻ động viên con lên đường. Từ một người lính, bạn phấn đấu trở thành trung sĩ, tiểu đội phó và hy sinh ngày 6-12-1971, tại Kon Tum. Sau này, gia đình đã đón Dũng về quê hương.

Cùng liệt sỹ Huỳnh Kim Trung, khóa 5 còn có các liệt sĩ Võ Dũng, Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường, Trịnh Thúc Doanh và Phạm Văn Hạo.
Võ Dũng trong số học sinh từ Nam bộ vượt qua sự bao vây của kẻ thù, ra tới miền Bắc XHCN. Dũng lên nhập trường vào hè năm 1965 thì năm 1966, má Trần Kim Anh cùng hai em (Phan Thị Ánh Hồng và Phan Chí Tâm) đã hy sinh trên đường lên R nhưng chú Sáu Dân (ba Dũng, sau này là Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã giấu không cho Dũng và Hiếu Dân hay. Tới năm 1968, linh cảm thấy chuyện không lành xảy ra, Võ Dũng xin nhà trường nghỉ học để về Nam chiến đấu. Sau thời gian huấn luyện ở Quân chính Quân khu Tả Ngạn, tháng 8-1969 Dũng nhập Trường Huấn luyện cán bộ đi B (105B) ở Hòa Bình. Ngày cô Bảy Huệ, dì Tư Duy Liên cùng em Hiếu Dân lên thăm, Dũng đã hứa “Lần này con đi, một – xanh cỏ, hai – đỏ ngực!”. Các chú muốn sắp xếp cho Dũng đi đường hàng không qua Campuchia, Dũng không chịu: “Ai cũng hành quân dọc Trường Sơn về Nam thì sao con có thể làm khác?”. Tới căn cứ B2, ba, con gặp nhau mừng tủi nhưng Dũng nằng nặc xin về đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Chú Sáu phải gật đầu.
Các chú xếp Dũng về đơn vị Thông tin, nơi ít phải giáp mặt với quân thù; nhưng Dũng lại xin về Rạch Giá: “Má cháu đã bị giặc giết hại, các chú phải cho cháu về quê má chiến đấu”. Tháng 6-1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9. Tháng 10 năm đó, Dũng xin bằng được cho về Trung đội 2 trinh sát (Tiểu đoàn 3). Dũng hăng hái lặn lội trinh sát cùng anh em, no đói, gian khổ cùng sẻ chia. Sáng sớm ngày 21-4-1972, Dũng cùng 2 đồng đội đi trinh sát và bị sa vào ổ phục kích. Cả 3 anh em hy sinh. Võ Dũng hy sinh khi vừa tròn tuổi 21, ngay trên kênh Tây Ký (xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá), quê hương má Trần Kim Anh.
Khóa 5 có nhiều bạn chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm nhưng có 3 bạn nằm lại nơi ấy: Vũ Kiên Cường (27-7-1972), Nguyễn Lâm (05-9-1972) và Trịnh Thúc Doanh (16-9-1972). Khóa 5 còn có Phạm Văn Hạo (28-6-1971) dám đổi tên thành Phạm Vũ Nhân trong đơn tình nguyện nhập ngũ.

Khóa 6 có 6 liệt sỹ: Nguyễn Mạnh Minh (25-3-1972), Đỗ Khắc Tiến (02-6-1972), Võ Nguyên Trọng (05-6-1972), Đặng Bá Linh (26-8-1972), Chu Tấn Quang (29-12-1973), Nguyễn Tiến Quân (29-2-1979). Ở bạn nào cũng có những câu chuyện hết sức cảm động!
Võ Nguyên Trọng là con bác Võ Nguyên Lượng, nguyên bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa. Sau mấy tháng trời hành quân đến Tây Nam bộ, Trọng được bổ sung về sư đoàn 1, Quân khu 9. Thượng tá Phạm Quang Thư, đồng đội của Trọng, kể lại, bác Lượng gương mẫu động viên con ra mặt trận nên cả tỉnh Thanh ngày ấy rất đông thanh niên nhập ngũ... Lần đi cùng thủ trưởng trung đoàn xuống đơn vị về, Trọng bị thương do đạn pháo bắn trúng ổ bụng. Được cấp cứu nhưng mất máu quá nhiều, Trọng hy sinh ở xã Dương Hoà, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (gần Ngã ba Hòn Chông). Nhưng mộ phần thất lạc suốt 39 năm, cho đến khi tìm được danh sách có vị trí chôn cất 9 chiến sĩ, đội quy tập Quân khu 9 đã tìm được 8 bộ hài cốt. Sau khi gửi về Viện Khoa học Việt Nam, tra cứu bằng phương pháp thử AND, đã xác định chính xác. Năm 2011, Trọng được đón về yên nghỉ bên mẹ.
Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trung úy Nguyễn Tiến Quân (con trai trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên tư lệnh Đoàn 559) đã anh dũng hy sinh ở mặt trận Lạng Sơn, vào sớm ngày 19-2-1979.

Khóa 7 có 7 liệt sỹ: Lại Xuân Lợi (2-5-1972), Trần Hữu Dân (28-8-1972), Y Hòa (16-10-1972), Đặng Đình Kỳ (14-9-1974), Nguyễn Đức Thảo (28-4-1978), Ngô Tất Thắng (1-1-1979), Nguyễn Khắc Bình (?).
Y Hoà, Nguyễn Chấn Hưng, Lê Văn Nho là 3 bạn cùng nhập ngũ ngày 6-1-1972 tại Hà Nội và cùng đầu quân về sư đoàn 312. Trong “Mùa hè đỏ lửa” Y Hòa cùng Hưng và Nho đã anh dũng hy sinh tại chốt đồi Cháy, gần Thành cổ Quảng Trị. Bác Y Wang, ba Y Hoà là người dân tộc Tây Nguyên, từng là Phó ban Dân tộc Quốc hội. Sau ngày thống nhất, nhiều lần gia đình đã ra tận Quảng Trị để tìm kiếm mộ phần, nhưng vô vọng. Cuối cùng, gia đình mang nắm đất ở mặt trận đưa về nghĩa trang liệt sĩ Buôn Mê Thuột xây mộ phần cho bạn.

Người cầm cờ Lớp Quyết thắng và người đứng sau là 2 Ls k7:
Trần Hữu Dân và Nguyễn Khắc Bình.


Vũ Trung k8 (bìa trái) cùng đồng đội f312 bên bia tưởng niệm Y Hòa k7 và đồng đội hy sinh ở đồi Cháy, Quảng Trị, 1972.



Và liệt sĩ trẻ nhất của nhà trường là Bùi Thọ Tuyến. Là học sinh khóa 8, ngày trường giải thể, Tuyến về Thái Bình vì bố Bùi Thọ Tư nhận nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Quê hương Năm tấn là nơi cung cấp nhiều con em cho chiến trường, Tuyến tuy chưa đủ tuổi nhưng bắt mẹ xin các chú cho đi bằng được: “Bố lặn lội, động viên nhân dân cho con em đi bộ đội thì lẽ nào mẹ lại ngăn con thực hiện ước mơ làm nghĩa vụ vẻ vang này”. Tại chiến trường, chỉ còn một năm nữa là chiến tranh kết thúc, vậy mà Tuyến đã hy sinh ngày 23-3-1974!

Vỹ thanh!
Trân trọng ghi lại những tấm gương của bạn chúng tôi đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc và làm rạng danh cho mái trường mang tên Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi. Các anh, các bạn hy sinh khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi. Chúng tôi luôn tự hào vì các anh, các bạn!
Và niềm tự hào đó không chỉ dành riêng cho 30 thầy trò nhà trường mà xin được dành cho cả cha mẹ họ. Bởi vì “hổ phụ” ắt sẽ sinh “hổ tử”!
TRẦN KIẾN QUỐC


Bài và ảnh: FB Tran Kienquoc - 26 Tháng 7 2017 05:57

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

VIẾT VỀ NGUYỄN VĂN NGỌC, BÁC NGUYỄN CHÍ ĐIỀM TƯ LỆNH ĐẶC CÔNG - HAI CHA CON NẰM CẠNH NHAU CÙNG NGHĨA TRANG!

NGỌC - TÔI - TÔ HOÀNH cùng đơn vị pháo phòng không 57mm. Ngày Mỹ ngừng ném bom khu 3, qua tết mậu Thân 1968, chúng tôi hành quân vào khu 4 bảo vệ thành Vinh, Bến Thủy.
Ngày Ngọc hi sinh 10 giờ sáng 10/10/1968 có 13 lính và một cô dân quân vào tiếp trã nước, số anh em bị thương vào viện chết hỏi trung đoàn không nói. Ngày đi B có lại nghĩa trang Vinh, tôi & Hoành lấy nắm đất về cho mẹ Ngọc, hồi đó liệt sỹ 7-10 năm mới báo tử, chỉ một tháng chúng tôi báo cho mẹ Ngọc biết, còn viết thơ báo về trường cho bạn bè, thầy cô biết, Họp thơ [20--12 Quế Lâm Trung Quốc]
Sau hòa bình vài năm tôi và Hoành có ra tìm, họ nói chuyển về nghĩa trang Đức Thọ rồi, tôi nhớ mẹ Ngọc quê Nam Đàn Nghệ An mà...? tôi vẫn ra vài lần tìm ko hiệu quả và có lập bàn thờ cúng đúng giờ anh em hi sinh cùng Trần Sũng và Thúc Minh giúp đở rất nhiệt tình, vì sau nầy nhà, đường chằng chịt, củng may có thằng chăn bò hồi ấy mới 12-13 tuổi chỉ đúng nơi trận địa củ, nay hắn già đầu bạc trắng.
Lần nầy ra, nhờ Sủng + Thúc Minh đưa qua nghĩa trang Đức Thọ tìm Ngọc, gặp ông quản trang chỉ Ngọc và bác Điềm hai bố con nằm cạnh nhau. Tôi hỏi gần mấy trăm mộ bác nhớ hét tên LS không? bác nói nhớ chứ, nhớ để chỉ thân nhân tìm cho dể. Bác nói LS đây đa số là lính pháo và lái xe Trường Sơn, các anh chết trẻ linh thiêng lắm, nhiều người các nơi về xin cúng vái xin làm ăn v.v...

Nhửng kỹ niêm buồn vui sau 49 năm giờ vẫn chưa phai chỉ tiếc Ngọc hi sinh khi chỉ còn 20 ngày là Mỹ ký ngừng đánh ném BOM hoàn toàn miền Bắc, cả trăm trận không chết trận cuối cùng lại hi sinh. Âu cũng là số trời cả.
CHẾT
Dù sợ chết đố ai thoát được
Định nghĩa chung cho kiếp làm người
Đếm cái chết muông ngàn cái chết
Chết thế nào cho khỏi ô danh
Chết ốm đau là cái chết thường tình
Già mà chết ấy là đời phãi chết
Chết vì tình là cái đời mạc kiếp
Chết vì dân vì nước..!
Ôi cái chết thiêng liên cao cả
chết một gây thôi tiếng muôn ngàn thủa
Chết thế nầy thiên hạ phải nghiêng mình...
Tấn Mỷ 10h - 9/11/2017


FB My Tan - BẠN NVT 9 Tháng 11 lúc 13:15

Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

Thăm viếng mộ LS Nguyễn Văn Ngọc



VIẾNG LIỆT SỈ NGUYỄN VĂN NGỌC...

' mới tìm được, nơi anh nghỉ '
Tụi mình có 3 thằng
Chơi thân từ trường Trỗi
Cùng xung phong ra trận
Về phòng không khu 4
Ba đứa đi - một không về
Tuổi Ngọc tròn mười tám
Hai đứa còn buồn lắm
Thề quyết tâm trả thù...
Dù có hi sinh tất cả...
Khi đi ba đứa thề ...
Dù không sinh ngày tháng
Nguyện cùng chết tháng ngày
Nhưng Ngọc hi sinh trước
Đề lai nổi buồn không nguôi
Nghỉ mà thương nó quá
Quyết trả thù bằng được
Mổi bước chân quân thù gục ngã
Giờ tiềm ra nơi nó nằm
Trên đồi cao lộng gió
Có tiêng chim hót ca
Ru giấc ngủ ngàn thu
Ngọc trẽ mãi không già
Với tuổi đời tròn 18..?

Tan My 26/10/2017

Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

44 năm đi tìm Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi


Làng Cát quê tôi thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nằm ở sườn đông dãy núi Tam Đảo – nơi được gán bởi câu ca dao: “Lử khử lừ khừ chẳng Đại Từ cũng Võ Nhai”.

Trong những năm chống Mỹ cứu nước, nhiều cơ quan đoàn thể sơ tán về Việt Bắc để tránh máy bay giặc Mỹ phá hoại. Làng Cát có tới hai đoàn địa chất (17 và 45). Nhà tôi may mắn có anh kỹ sư Nguyễn Thanh Tùng người Hà Nội đến ở. Từ ngày có địa chất về dân làng được mở mang đầu óc, biết tới quyển sách tờ báo, ông Tây, bà Tây. Lũ trẻ chăn trâu “chân đất mắt toét” vùng heo hút này cũng biết ti toe mấy tiếng ngoại quốc “xì xà xì xồ”…

Một hôm anh Tùng đem về cho tôi cuốn sách “Sống như Anh” bảo đọc đi! Thời đó ở xứ tôi sách báo là một điều hiếm hoi. Người nhà quê chỉ quen việc đồng áng cấy cày, vào rừng đốn củi, hái măng…

Hết giờ ở trường làng, về nhà là tôi vội giở “Sống như Anh” ra đọc. Đọc ngấu nghiến, đọc quên ăn, quên chơi, ngồi trên lưng trâu mà đọc, chui trong hầm tránh bom giặc cũng đọc. Đọc đi đọc lại. Đọc nhòa nước mắt. Đọc đến thuộc lòng, làm nhiều người không thể tin được một thằng bé chăn trâu lại có thể thuộc một cuốn sách dày như thế! Và họ đã bật khóc sau khi “kiểm tra” ra đúng sự thật!

Không biết bao nhiêu lần tôi say sưa kể trước mọi người về Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, rồi cùng nhau nghẹn ngào đẫm lệ. Cả nước đã phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, lên đường đánh giặc để trả thù cho anh Trỗi…

Tôi còn nhớ như in cuốn “Sống như Anh” của Nhà xuất bản Văn học. Ngoài bìa có hình bán thân Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Nội dung cuốn sách được nhà văn Trần Đình Vân viết theo lời kể của chị Phan Thị Quyên.

Sau trang bìa còn có hình ảnh anh Trỗi bị trói chặt vào cây cọc trên pháp trường, mà vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, trước quân thù… Lề dưới bức hình là bút tích ký tên Bác Hồ: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là 1 tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”.

“Sống như Anh” bỗng như một câu chuyện cổ tích đọng lại trong tôi, để tôi có thể kể lại bất kỳ lúc nào. Nói đúng hơn là tôi đọc thuộc lòng…

Ngày đó tôi say sưa “Sống như Anh” như trẻ con say mê trò chơi điện tử bây giờ. Tôi tưởng tượng trong đầu về thành phố Sài Gòn, cầu Công Lý, Nhà lao Chí Hòa, Nhà thương Chợ Rẫy. Những nhân vật như bé Dân, anh Lời, chị X, chị Y… Rồi tiếc thay quân du kích Cracas (Venezuela) đặt yêu cầu đổi tên đại tá Mỹ Smolen lấy mạng sống của anh Nguyễn Văn Trỗi đã không thành, do kẻ thù lật lọng. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Du kích quân Ca-ra-cát đã vì Anh/ Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành”. Khí phách hiên ngang chống kẻ thù của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi đến hơi thở cuối cùng; sự đau khổ đến tột cùng của chị Phan Thị Quyên cũng như biết bao người khác cứ rưng rức trong trái tim nhỏ bé của tôi. Nỗi căm thù giặc đã thôi thúc tôi chăm chỉ học hành, sẵn sàng lên đường chiến đấu. Tôi ước mơ nhanh đến ngày hòa bình để vào Sài Gòn tới Chí Hòa, cầu Công Lý… tìm gặp chị Phan Thị Quyên…


Khu tưởng niệm Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi ở gần cầu Công Lý, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3.


***

Năm 1971, tôi rời ghế nhà trường xung phong lên đường nhập ngũ, vào Nam chiến đấu. Nơi chiến trường bom đạn ác liệt tôi đã đọc “Sống như Anh” trước sự xúc động và thán phục của biết bao đồng đội.

Trận tập kích địch lần ấy tôi bị thương nặng và phải chuyển ra Bắc. Điều trị vết thương xong tôi tiếp tục đi học văn hóa, rồi thi vào trường ĐH Sư phạm, ra làm thầy giáo. Trong những giờ sinh hoạt, tôi đã đọc “Sống như Anh” cho học trò của mình nghe. Tôi nung nấu trong đầu ước mơ phải tìm bằng được chị Phan Thị Quyên để đọc “Sống như Anh” cho chị nghe.

Năm 1985, tôi bị bệnh hẹp van tim, phải mổ tách van ở Bệnh viện Việt – Đức (Hà Nội). Khi bệnh ổn định tôi lại về dạy học. Năm 1993, tôi chuyển công tác vào huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để có điều kiện chữa bệnh tim bị tái phát. Hình ảnh Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi lại lóe sáng trong tôi. Tôi liền ra kế hoạch tìm đến mộ anh Trỗi. Thời điểm đó mạng viễn thông, điện thoại di động còn chưa phổ biến, tìm thông tin khó lắm. Tôi nghĩ đơn giản muốn tìm mộ anh Trỗi thì cứ hỏi tới Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh là biết. Thế là một ngày chủ nhật năm 1995, tôi cùng một người cháu đi Sài Gòn hỏi đường đến Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh ở Thủ Đức. Nhưng chúng tôi đã nhầm, mộ anh Trỗi nằm ở Nghĩa trang Liệt sĩ thuộc quận 9, ngay bên quốc lộ 1. Trước mộ anh Trỗi, tôi đã thưa với anh rằng: “Em là người nơi núi rừng Việt Bắc xa xôi đi tìm anh…”. Lúc quay trở ra, gặp người quản trang, ông cho biết mộ thật của anh Trỗi nằm ở quận 2, làm tôi nặng trĩu nỗi buồn…

Chúng tôi tạm gác lại việc tìm mộ thật của anh Trỗi, hỏi thăm tới Nhà lao Chí Hòa thuộc quận 10 khi trời đã đổ về chiều. Tôi đã kể cho anh lính cảnh sát gác cổng nghe về chuyện mình muốn nhìn thấy nơi xưa kia kẻ thù giam cầm tra tấn anh Trỗi. Và, người lính cảnh sát ấy đã cho phép tôi chụp bức ảnh cánh cổng nhà giam làm kỷ niệm. Tôi lặng đi một hồi lâu, hình dung ra chị Phan Thị Quyên bám chặt đôi tay vào cánh cổng sắt nhà lao thét lên trong đớn đau: “Không được giết chồng tôi”…

Con xe honda 50 lại tiếp tục cõng hai chú cháu tôi tìm về cầu Công Lý, nơi mà xưa kia anh Nguyễn Văn Trỗi cùng anh Nguyễn Văn Lời đặt mìn mưu tính giết tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara, nhưng đã bị bại lộ. Cầu Công Lý nay đổi thành cầu Nguyễn Văn Trỗi nối quận 3 với quận Phú Nhuận. Tôi đứng dưới chân cầu nhìn vào dòng kênh Nhiêu Lộc, đưa hồn về dĩ vãng. Tối ngày 9-5-1964, anh Trỗi đã đặt mìn nơi cây cầu này để thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhưng thật không may, anh đã bị địch bắt. Anh đã nhận hết trách nhiệm thuộc về mình đã thực hiện quyết tâm giết tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ! Tôi không thể kìm được nước mắt. Không thể ngờ, năm 11 tuổi đọc “Sống như Anh”, sau mấy chục năm tôi đã có mặt tại nơi anh Trỗi bị địch bắt và tra tấn dã man! Ngày còn chiến tranh, khoảng cách giữa hai miền Nam – Bắc xa xôi vời vợi. Tôi ngẩn ngơ, nuốt nước mắt vào trong đọc lên bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của nhà thơ Tố Hữu:

“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lí sinh ra
…”


Tôi thầm gọi tên anh, nước mắt rơi rơi bên chân cầu Công Lý…

Con xe honda lại cõng chúng tôi trở về, tiếng xe nghe sao nặng trĩu, nó như mệt mỏi chia buồn cùng chủ. Hoàng hôn buông xuống tự bao giờ, lòng tôi mang bao trắc ẩn. Tôi còn phải đi tìm chị Phan Thị Quyên nữa. Đó là một ước mong trong tầm tay. Tôi nghĩ thế.


Năm 1996, các bác sĩ Bệnh viện tim – Viện tim TP. Hồ Chí Minh đã quyết định mổ thay van tim hai lá cho tôi. Tôi được các nhà Mạnh thường quân tài trợ 100% viện phí, và may mắn thoát khỏi tay tử thần sau một ca phẫu thuật tưởng chừng không qua nổi. Bác sĩ Nguyễn Văn Phan phụ trách ca mổ đã nói như thế trong niềm xúc động. Sau 6 tháng điều trị tôi tiếp tục trở về dạy học. Tôi vẫn không quên đọc “Sống như Anh” trước bao ánh mắt học trò…

***

Trong một lần tái khám ở Viện tim năm 2011, tôi bắt chuyện với một bệnh nhân người cao tuổi. Không ngờ chính ông lại biết số điện thoại của chị Phan Thị Quyên, vợ anh Nguyễn Văn Trỗi. Thế là cơ hội gặp chị Quyên trong tôi chỉ còn là thời gian. Tôi sung sướng như đào được vàng…

Tôi điện cho chị Quyên, giới thiệu về mình.

Chị Quyên thật sự xúc động và cho tôi địa chỉ nhà ở thuộc quận 2. Tôi đã hẹn gặp chị vào một ngày chủ nhật.

Cháu tôi làm cho một công ty chế tạo máy của Đài Loan đã mượn được chiếc xe hơi tàng tàng chở hai chú cháu mang theo hương hoa, trái cây tới nhà chị Phan Thị Quyên giữa mùa hè nức tiếng ve kêu…

Chị Quyên đã đi bước nữa. Chị cùng chồng con ở nhà công vụ. Anh Dũng, chồng chị cùng con trai đi đảo Phú Quốc, mình chị ở nhà. Chị Quyên dẫn tôi lên lầu, nơi đặt bàn thờ anh Trỗi. Trước tấm di ảnh người Anh hùng, chị Quyên nghẹn ngào giới thiệu về “đứa em” nơi núi rừng Việt Bắc “đã đi tìm Anh 44 năm trời”. Phút giây này thật linh thiêng, tôi cảm thấy như vạn vật ngừng chuyển động. Tôi gọi “Anh Trỗi ơi!”. Tôi như một người em yêu quý nhất của anh!

Hình ảnh chị Phan Thị Quyên ôm bó hoa lay-ơn bên anh Trỗi trong ngày cưới vẫn hằn sâu, trong sáng trong trái tim tôi. Giờ chị đã lên “chức bà” không còn ở tuổi thanh xuân 20 ngày nào. Nét mặt chị khắc sâu bao nỗi niềm, chỉ có những ai hiểu nỗi đời mới cảm nhận được. “Thôi chị ơi, đừng khóc nữa” – Tôi động viên chị vậy.

Bên bàn trà, nhìn chị Quyên tôi nói lời xúc động:

- Chị ơi, em đã thuộc lòng “Sống như Anh” từ năm 1967. Giờ chị hãy ngồi để nghe em đọc lại nhé! Em coi đây như một món quà gửi tặng chị và anh Trỗi.

Chị Quyên nhìn tôi không chớp mắt, trong ánh mắt não nùng ấy có điều gì nghi ngại? Và tôi bắt đầu:
“Buổi sáng chủ nhật ngày 10 tháng 5 năm 1964, tôi đứng ngồi không yên, không rõ đêm qua anh Trỗi đi đâu. Tôi rất mong anh, mong anh hơn tất cả những ngày nghỉ khác. Vì từ hôm cưới nhau hai vợ chồng chưa đi thăm họ hàng cha mẹ tôi người Bắc và rất đông bà con anh em cùng làng Văn Giáp, huyện Thường Tín, Hà Đông lưu lạc vào Nam làm ăn đã mấy chục năm nay…

Vào khoảng 9 giờ sáng bỗng nhiên tôi thấy ập vào nhà bảy, tám thằng cảnh sát giải theo một người bị còng tay sau lưng. Thoạt đầu tôi vẫn chưa tin là anh Trỗi, nhưng vừa thoáng thấy tôi anh nói ngay, nói to: Quyên anh bị bắt….”.

Chị Quyên khóc. Cháu tôi khóc, nó đâu ngờ chú mình lại thuộc như thế. Và, tôi cũng khóc…

Tôi đã không dám đọc tiếp đoạn địch tra tấn anh Trỗi như thế nào… Không gian trong ngôi nhà bỗng lặng như tờ, chắc hồn anh Trỗi đang về ẩn hiện đâu đây? Và tôi như trong cơn mê…

Nhớ ngày bé đọc “Sống như Anh” tôi chỉ mong sao mình chóng lớn để tòng quân giết giặc trả thù cho anh Trỗi. Và, đúng như ý nguyện. Năm 17 tuổi tôi cùng biết bao bạn bè xung phong đi bộ đội, xông thẳng vào chiến trường đỏ lửa Quảng Trị 1972, chiến đấu không mệt mỏi…

Chị Quyên nói với tôi rằng, em là khách đặc biệt nhất, linh hồn anh Trỗi chắc chắn sẽ biết được tình cảm của em cũng như của mọi người đã dành cho anh ấy…

Tôi xin phép được tới mộ phần để thắp nén nhang cho anh Trỗi. Chị Quyên đã vẽ sơ đồ chỉ cho tôi tới Nghĩa trang Văn Giáp, thuộc phường Bình Trưng Đông, Q.2, TP. Hồ Chí Minh. Đây là nghĩa trang dành riêng cho người làng Văn Giáp, Thường Tín, Hà Đông, quê hương của chị Quyên. Chị Quyên kể, anh Trỗi tội lắm, vất vả lắm, mấy lần chôn cất, giờ mới đưa được anh về nghĩa trang làng quê yên nghỉ…

Chú cháu tôi tới nghĩa trang làng Văn Giáp vào đúng giờ Ngọ, nắng chói chang. Người quản trang là thương binh, một thời khoác áo lính Việt Nam Cộng hòa, nhanh nhảu dẫn chúng tôi tới mộ anh Trỗi:

- Dạ, mộ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi đây ạ!

- Người quản trang nói mà như có gì mắc trong cổ họng.

Tôi hỏi:

- Anh làm việc ở đây lâu chưa, có biết gì về anh Nguyễn Văn Trỗi?

- Dạ, thưa lâu rồi. Anh Trỗi bị giết do mưu sát Bộ trưởng Quốc phòng MắcNa-ma-ra. Anh ấy là một anh hùng!

Tôi chiêm ngắm ngôi mộ, thấy ghi: Giáp Thìn 1964. Bốc mộ 7.5.1967. Tái thiết 23.11.1981. Đúng như chị Quyên nói, anh Trỗi mấy lần chôn cất…

Tôi bật khóc! Không hiểu sao lại yếu đuối như vậy. Nhìn tấm hình anh trên bia mộ, mà như nghe thấy tiếng người anh hùng hỏi: Sao giờ em mới tìm đến anh?

Tôi thắp lên nén tâm nhang, đứng chắp tay kể cho anh Trỗi nghe chuyện “Em đi tìm anh đã hơn 40 năm rồi”…

Tôi nhìn về hướng Bắc để nói với làng quê thân yêu của mình rằng, đã nối được sợi dây giữa hai miền Nam – Bắc. Ước mơ đi tìm anh Trỗi, chị Quyên của tôi đã trở thành sự thật…

Tôi hát lên lòng bài ca “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của nhạc sĩ Vũ Thanh: “Sáng mãi tên anh người con của đất nước. Sông núi reo ca người anh hùng thành đồng bất khuất…”.

***

Chúng tôi trở về giữa rừng người và xe cộ lưu thông trên quốc lộ, lòng mang bao nỗi bâng khuâng. Hỏi, trong những con người đang sống, có những ai còn nhớ Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi? Tôi nói với người cháu của mình: “Việt à, ngày 15 tháng 10 là ngày giỗ Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, con đừng quên nhé và đừng có sống hèn!”.

Biên Hòa, TP. Hồ Chí Minh,
1967 – 2017

Đào Sỹ Quang
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 471 - 19/10/2017