Thứ Ba, ngày 06 tháng 12 năm 2016

Viếng mộ bạn Liệt Sỹ Nguyễn Đức Thảo





Sáng hôm nay, Chủ nhật 4/12/2016, nhằm "Một ngày đẹp trời nắng Đông bừng lên, không gợn bóng mây". Anh em chúng tôi, hơn chục thằng K7 TSQ - NVT đã làm chuyến vi hành về Đại Từ, thăm Gia đình bạn Ngọc Văn. Trên đường đi, chúng tôi đã vào thăm Gia đình Vợ Chồng Thầy Phảng, Cô Quỳnh. Thầy Phảng nguyên là Cán bộ phụ trách chung thân B4 từ khi thành lập cho tới ngày giải tán. (Sau Thầy về Trường VH Lạng Sơn). Cô Quỳnh là Chị nuôi K6, khi sang Quế Lâm - TQ, Cô về bộ phận Tiếp phẩm của Trường. Ngoài ra còn vào thăm bạn Dương Bằng Hà (Con Bác Dương Đại Lâm). Hiện cũng sống tại Thái Nguyên.

Trên đường đi, các bạn K7 đã vào nghĩa trang Liệt sỹ TP Thái Nguyên viếng mộ & thắp hương cho bạn: LS Nguyễn Đức Thảo (Thảo "bự", B5), hy sinh tại mặt trận Cam Pu Chia, sau được GĐ đem về an táng tại quê nhà.

Cùng đi với AE K7 còn có anh Bùi Vinh, Trưởng BLL Trường, các bạn K9. Đặc biệt có cả các anh nguyên là & hiện nay đang là BT, CT xã Yên Mỹ nơi Trường NVT đã sống & học tập.

Xin Cám ơn sự đón tiếp nồng hậu, nhiệt tình của Vợ Chồng bạn Ngọc Văn & của Gia đình Thầy Phảng - Cô Quỳnh. Xin hẹn gặp lại.






Ha Quangvu
Từ trái qua phải,
- Hàng ngồi: Đại diện ĐY & CQ Xã Mỹ Yên, Vũ "Xồm", Ngọc Văn, Tráng "Mèo", Thanh Sơn, Minh "Thép" & Đoàn "Điếu".
- Hàng đứng: Thắng "Hói", Vợ Ngọc Văn, Cô Quỳnh (Vợ Thầy Phảng), Bằng Hà, đại diện ĐY & CQ xã, Thầy Phảng, Tạ Chiến, a.Quang (Nguyên BT ĐY xã), Trần Đào Điện Biên, a.Bùi Vinh (BLL Trường), Thanh "Loe" & Thái "Lẹo".



Nguồn: FB Ha Quangvu, 4 Tháng 12 lúc 16:56

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 12 năm 2016

Trịnh Thúc Doanh trong hồi ức của "Lính Sinh Viên"


Dựng nước - Giữ nước > Máu và Hoa > Một thời máu và hoa (Các quản trị: quansuvn, binhyen1960) > Lính vệ binh


linh71 Thành viên
27 Tháng Sáu, 2012, 11:44:31 AM

Tháng 8 năm 1971, vừa nghỉ hè năm thứ nhất quay lên trường thì nhận được giấy báo khám NVQS từ tay bà Định giáo vụ khoa. Thế là cả lũ con trai của khoa và của cả trường ùn ùn xuống trạm xá nhà trường khám tuyển. Sau khi nhận được tờ kết luận "sức khỏe B1" tôi linh cảm mình sẽ trở thành người lính. Thế là tôi cùng với Vũ Hồng Phong, Hoàng Đình Giang - 3 anh em cùng khóa K15 VTĐ ĐHBK cùng quê HP nhảy tàu hỏa trốn về nhà.
[...]

Tối ngày 5-9 trường tổ chức liên hoan tiễn chân các SV lên đường nhập ngũ. Bí thư ĐU trường Bùi Nguyên Cát phát biểu "... chúc các đồng chí lên đường... Nhà trường sẽ rải thảm đỏ đón các đồng chí trở về..." Ăn xong nháo nhào chạy lên nhà B5 (KTX nữ) tìm cô bạn gái mà không gặp! Nó là cái điềm "không xong rồi"! Sáng hôm sau tập trung ở sân C2 để lên đừng. Hàng chục xe Hải âu đã chờ sẵn. Sân trường đông nghịt người. Người đi. Người đi tiễn. Tôi lên xe, thẫn thờ nhìn biển người loang loáng trước mắt... Xe nổ máy chuẩn bị chuyển bánh thì cô bạn tôi nhào tới, chỉ nói mỗi câu "Hùng ơi", dúi vào tay tôi chiếc phong bì nhỏ rồi rũ ra khóc... Xe lăn bánh và nước mắt tôi chảy dài trên má.
Đoàn xe chia về các ngả. Chúng tôi được đưa về thôn Vĩnh ninh, xã Vĩnh quỳnh Văn Điển và được phiên chế vào C4 K4 E95 F325. Nhận quân trang, phân về A, B và chia về các nhà dân trong thôn. Tối giở phong bì ra xem thấy một khăn mùi soa trắng viền chỉ đỏ, thêu một bông hoa và một con chim (có 1 con thôi, buồn nhỉ). Lặng lẽ đút vào túi.
Mấy hôm sau lên tàu ở ga VĐ. Tàu qua cầu Long Biên, nước ngập mênh mông mà lòng trống rỗng. Tối tàu tới ga Việt Yên. Lính xuống tàu hành quân bộ đến nơi đóng quân. Trời đêm, bờ tre tường nhà còn ngấn nước trận lũ 71. Các mẹ nấu nước che gánh ra ven đường cho bộ đội uống. Các cô dân quân đẩy xe cải tiến chở đơc ba lô cho các chàng lính cậu... Mờ sáng thì tới nơi đóng quân. Mệt quá, tôi chúi đầu vào một đống rơm ngủ li bì. Sáng hôm sau các A trưởng nháo nhào tìm gọi thu quân. Đại đội 4 của tôi đóng tại thôn Xuân Lạn, cách phố Thắng khoảng 3 km. Tổ 3 người có tôi, Bích học cùng lớp người Nghệ an và Thi K14 Hóa ở cùng một nhà. Dũng bạc ôm cây RPD nên được gọi là Dung ba que (nay gọi lại là Dũng "tử tế") cùng A khác tổ.
Ba tháng rèn binh bắt đầu. Ngoài các bài cơ bản là rèn thể lực. Lính đi xin tre về đan sọt, đóng đất thành từng viên 10kg một, xếp dần vào sọt tập đeo. Một viên, hai viên rồi tới ba, bốn viên. Đôi vai sần lên rồi nhẵn bóng, lên sừng vì đeo nặng. Đại đội trưởng của tôi là trung úy Khúc Quang Xuyền người Vĩnh bảo HP. Ông đi lính từ 1951, người nhỏ thó, đen đúa, rất có "uy" rèn lính. C4 toàn lính Bách Khoa, gồm SV các khoa Động lực, VTĐ, CTM, LK và Hóa, con em miền Nam tập kết có, dân trường Trỗi có. Lại có cả mấy chàng con ông kễnh nữa. Hồi ấy có những chàng "quậy" khét tiếng như Đặng Mạnh (HSMN tập kết, LHS Cuba về học CTM BK), Sâm "trọc"... nhưng ông Xuyền đều "trị" được hết. Phải nói là, sau thời gian huấn luyện, cả C đều "phục" C trưởng KQX. Đến nỗi sau này gặp nhau đều "khoe" tao ở C Xuyền đây.
Lính tập luyện nhiều, bị bệnh ngoài da. Cứ buổi chiều, khoảng 4h30 là trực ban lại tuýt còi cho anh em bị bệnh ngoài da bề tập trung bôi thuốc. Lính bị bệnh nhiều đến nỗi, đại đội phải dựng một bờ rào bằng cót cao để thao tác không bị lộ hình. Khu bôi thuốc trước cửa nhà ăn. Lính đứng sắp hàng ngang sau tấm cót che. Y tá Hải tay cầm một chiếc đũa cả tự chế quấn đầy gạc, nhúng đẫm thuốc. Đi qua đứa nào, anh lại hô "chổng" rồi quệt cho một chữ X. Xót quá, có chàng cắm cổ xuống đầm nước ngay đấy cho đỡ xót... Viết tới đây lại tràn nước mát nhớ anh Hải. Anh tốt lắm, thương và chăm lo cho lũ lính trẻ chúng tôi như một người chị chăm em vậy. Mùa rét, anh lấy tỏi giã, lọc nước thấm bông vê thành từng viên tròn cho từng đứa nút mũi phòng cảm lạnh. Anh hy sinh trong Cổ thành trong khi cứu chữa thương binh.
[...]

Thời gian huấn luyện đã hết.Toàn bộ trung đoàn sinh viên, một số được chia xẻ cho các binh chủng, các sư đoàn khác. Số còn lại được chia thành các đơn vị của chính E95. Lúc này, toàn sư đoàn cũng chuyển nhiệm vụ từ tăng cường sang cơ động. Tiểu đội tôi cũng tan đàn xẻ nghé. Dũng ba que, Thái bọ và một số lính SV có "căn cốt" VTĐ được phân về D18 TT cùa, C18 của E và các B TT của 3 tiểu đoàn 4,5 và 6. Mỗi ngày vài đứa đi, đại đội cứ vơi dần. Khi đã đi quá nửa quân số, C4 lại chuyển vị trí đóng quân sang làng khác, cách Xuân Lạn hơn 2 km. Về nơi ở mới, không luyện tập gì. Tôi được điều xuống nhà bếp với nhiệm vụ nuôi đàn lợn của dv gần chục con. Buồn chán quá, suốt ngày đánh lợn. Rồi một hôm, đang rửa chuồng lợn thì liên lạc xuống bảo lên C bộ. Lên C bộ thì thấy có 2 lính nữa là Lục Văn Long và Trịnh Thúc Doanh cùng có mặt, cùng với một ông cán bộ rất đẹp trai (sau này mới biết đó là trợ lý quân lưc E). Ba chúng tôi được giao nhiệm vụ theo chàng trợ lý này về E bộ. Thế là chúng tôi về E bộ, trở thành "lính trung đoàn là quan...". Lúc đó đã cuối tháng 12 năm 71. Về E bộ, Long được phân công làm cần vụ cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân vì hắn có thân hình cao to lừng lững. Tôi và Doanh về trung đội vệ binh. E bộ đóng ở thôn Nếnh, cách ga Việt Yên không xa. Khoảng nửa tháng sau, B vệ binh được bổ sung thêm một số lính Nam Định (F338) và một số lính Hải Hưng nhập ngũ 10-71. B vệ binh có 3 tiểu đội, mỗi A 7 chú đúng phiên chế chiến đấu hồi đó. Lính được trang bị toàn AK báng gấp loại dành cho lính nhảy dù của LX trông oách lắm.
Trung đội vệ binh đóng trong ngôi nhà ngang của đình làng Nếnh, cạnh đấy là bếp ăn của E bộ. Ngôi đình chính làm hội trường E bộ. Đời lính vệ binh bắt đầu bằng các bài tập võ thuật, các bài bắn súng. Đặc biệt, mỗi sáng thứ Hai hàng tuần thì lính vệ binh luân phiên nhau đọc 10 Lời thề và 12 Điều kỷ luật dưới cờ. Cho đến bây giờ vẫn còn nhớ "Chúng tôi, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, dưới lá cờ vinh quang của Tổ quốc xin thề..."
Công việc của lính vệ binh là bảo vệ, canh gác doanh trại, và đi làm KSQN tại khu vực ga Việt Yên và thị trấn Đáp Cầu. Một lần tôi cùng với Khóa, một chiến sĩ VB đi làm nhiệm vụ KSQN tại khu vực ga Việt Yên, băng đỏ KSQN đeo trên ống tay, AK báng gấp máng bên sườn trông oách lắm. Đi qua khu vục ga, thấy mấy cô em xinh đẹp đang cong m...đẩy xe cải tiến chở gạo, chú Khoa nhà ta ngứa mồm trêu một câu. Không ngờ các cô em xổ lại một tràng tiếng Nga. Chết bỏ mẹ! Chú Khóa nhà ta mặt tuỗn ra, hỏi Hùng ơi, chúng nó nói gì đấy. Tôi bảo Khóa mày để tao. Thế rồi cũng xổ ra một tràng ZDrachtvuiche,maia yvuska. Thế là các cô nàng đỏ mặt cười rũ rượi. Sau một hồi làm quen biết các cô nàng là sinh viên ĐHNN sơ tán ở Việt Yên.
[...]

Ra ngoài tết, tôi được gọi lên ban quân lực mấy ngày. Công việc là lập sổ quân lực mới cho toàn trung đoàn.Mỗi người được trói gọn trong một dòng, bắt đầu là họ và tên, kết thúc là ”Khi cần báo tin cho ai”. Linh tính mách bảo sắp đi B. Hoàn thành xong công việc toàn trung đoàn hành quân rời Việt Yên lên đóng quân tại Bố Hạ. E bộ đóng quân ven Đầm Mây trên một khu đồi lúp xúp đầy sim mua xen lẫn bạch đàn. Lính công binh của C17 dựng nhà bạt cho các thủ trưởng và ban Tham mưu. Còn cánh vệ binh mắc võng nằm ở vạt bạch đàn. Được mấy hôm thấy Công binh dựng thêm một lều bạt cho Trung đoàn trưởng Lý Long Quân. Các tham mưu con nhỏ to... Tôi gặp trưởng ban 5 và hỏi thì biết là vợ của thủ trưởng sẽ xuống thăm thủ trưởng vài ngày. Thủ trưởng tôi người dân tộc Tày, đi lính từ hồi chống Pháp khi mới mười mấy tuổi. Thủ trưởng đã có một người vợ nhưng không có con. Thủ trưởng đi chiến trường, bà ở nhà cưới cho ông một bà vợ khác để mong có con. Biết được như vậy, cánh vệ binh chúng tôi lặng người. Trung đoàn trưởng của chúng tôi là một người rất đặc biệt. Rất thương lính. Và nóng tính như lửa. Lúc nóng lên ông quát cấp dưới ầm ầm. Cái lều đã dựng xong. Hôm sau vợ thủ trưởng xuống. Một hôm gặp thủ trưởng tôi đánh bạo xin bố ơi, cho con về thăm nhà mấy hôm nhé. Cụ chỉ cười không nói. Chợt một hôm một chiếc commăngca chạy vào E bộ đón vợ thủ trưởng đi. Chúng tôi biết ngay là đi rồi. Hai hôm sau hành quân ra ga Kép lên tàu xuôi. Qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng một lúc lâu. Vệ binh chúng tôi được lệnh làm nhiệm vụ KSQN. Không biết bao nhiêu lá thư được viết vội, được đưa vội vào tay những công nhân đường sắt, vào tay tất cả những ai có mặt trên sân ga lúc đó. Rồi tàu chuyển bánh. Qua đường Nam bộ, những lá thư viết vội vẫn tới tấp bay xuống mặt đường với những lời nhắn nhủ... Tàu chạy ngang qua trường Bách khoa. Tôi nhìn lên giảng đường C9 với chiếc cầu thang ngoài lồi ra phía đường Nam bộ thấp thoáng bóng người. Rồi tất cả ở lại phía sau. Xẩm tối tàu đến ga Gôi Ninh Bình, rẽ vào đoạn đường tránh. Ở đấy đã có một binh trạm tiếp đón. Chúng tôi xuống tàu lấy cơm. Lấy cơm xong tàu chuyển bánh ngay. Mờ sáng tới ga Quán Hành. Lính xuống tàu hành quân vào trong xóm. Tản ra các nhà dân. Chiều, xe ô tô vào chở lính đi tiếp. Các đơn vị thì cưỡi xe Giải phóng, còn lính E bộ lại cưỡi Hải âu. Đúng là “lính trung đoàn là quan...”. Vượt phà Bến Thủy khi chiều gần tắt nắng. Xe chạy gần tới Đèo Ngang thì dừng nghỉ. Các mẹ các chị ào ra mang nước chè tươi, mang trứng luộc ra cho bộ đội. Hết trứng luộc thì mang trứng sống. Tôi vớ được một quả trứng sống. Khoảng 4 giờ sáng xe tới vị trí tập kết. Đó là một thôn nhỏ thuộc xã Quảng Châu huyện Quảng trạch. B vệ binh chúng tôi vào trú tạm ở một trường học. Nhào vào một phòng học, kéo 2 cái bàn khít lại thế là ngủ thiếp đi. Sáng ra lại tiếp tục hành quân bộ đến vị trí đóng quân. E bộ đóng quân tại thôn Thủy Vực xã Quảng Hợp huyện Quảng trạch.
Thôn này có địa thế rất đẹp. Rìa làng có một con suối uốn quanh, sau lưng là dãy núi. Tiểu đội tôi đóng trong nhà một bà mẹ có 2 con trai đang ở chiến trường. Ông bọ đi thuyền đánh cá dưới Quảng Phú, vài hôm mới về nhà một lần. Mẹ thương chúng tôi lắm. Mẹ bảo các con mang cơm về ăn với mẹ. Ăn cơm với mẹ có cá nục kho, có mít non luộc xé nhỏ bóp mắm ruốc...
Ở cùng địa bàn với chúng tôi còn có trạm quân y 201 (không nhớ có phải là bệnh viện dã chiến của V108 hay V103). Tôi làm quen được với một cô anh nuôi, thỉnh thoảng vác bát sang xin em tí mỡ về cải thiện. Đơn vị bắt đầu ăn chuyển cấp từ 7 hào lên một đồng. Bữa cơm toàn lòng lợn xào bí ngô. Một hôm tôi và một người nữa đi ra HTX mua bán của xã mua mấy thứ lặt vặt, về đến đầu làng thì máy bay bổ đến đánh bom đúng vào vị trí đóng quân. Một cán bộ trợ lý quân lực trúng bom tan nát cả. Hai thằng bọn tôi về đến nơi thì máy bay Mỹ đã đi. Lao vào dọn dẹp. Đi nhặt từng mảnh thịt lẫn đất còn khét mùi khói bom. Một đoạn ruột vắt ngang cành tre... Mấy hôm sau ăn cơm cứ nhìn thấy ruột lợn trắng ởn trên đĩa thức ăn là kinh.
Chiến dịch Quảng Trị 1972 bắt đầu. E18 là đơn vị đầu tiên của F325 lên đường vào QT. Trong khi E 18 lặng lẽ vào, E95 bắt đầu cuộc diễn tập chống đổ bộ ở khu vực Đèo Ngang. Cuối tháng Sáu, đơn vị bổ sung quân trang chuẩn bị vào QT. Gạo nửa tháng đổ đầy ruột tượng, đạn 200 viên, cuốc xẻng, dao tông, cưa tay cấp phát túi bụi. Vào một chiều cuối tháng, đơn vị rời Quảng Hợp, hành quân đến bến đò xã Quảng Liên, xuống xà lan đi dọc sông, bắt đầu chặng đường vào QT. Chặng đi xe, chặng đi bộ. Vào tới Bãi Hà nghỉ dừng chân 1 hôm. Ở đây chúng tôi gặp một đoàn các cháu con em cán bộ miền Nam được đưa ra Bắc học tập. Trên đường từ Bãi Hà vào sông Bến Hải chúng tôi gặp các đoàn dân công hỏa tuyến tải thương binh ra. Bộ đội vượt sông Bến Hải tại ngầm Bến Tắt(hay Bến Than gì đấy). Sông Bến Hải mùa khô, nước cạn lòng sông lởm chởm đá trơn nhẫy, có mấy sợi dây song to bắt ngang sông để bộ đội bám vượt sông. Đến giữa sông, không ai bảo ai mấy mọi người bỏ mũ múc một mũ nước sông, uống tạm biệt miền Bắc. Qua sông, cả đoàn quân chìm ngập trong rừng cỏ tranh. Quảng Trị đang mùa khô, nóng hầm hập. Trên đầu máy bay OV10 lượn vè vè, tiếng bom tiếng pháo từ xa vọng về. Đơn vị dừng chân nghỉ tạm một đêm tại một làng ven sông Cam Lộ. Hôm sau hành quân tiếp. Địa điểm dừng chân tiếp của đơn vị là xá Triệu Ái. E bộ đóng tạm tại thôn Tả Kiên, ở lẫn trong dân. Đến đây hôm trước, hôm sau chúng tôi vào căn cứ Ái Tử lấy tôn vòm về làm hầm. Ở Tả Kiên được vài hôm, E bộ chuyển vào đóng tại thôn Tân Vĩnh ở bờ nam sông Vĩnh phước. Đây là thôn đã bị địch dồn dân bỏ hoang từ lâu rồi, không còn nhà cửa, ruộng mọc toàn cỏ tranh. Ven bờ sông mọc dầy các bụi tre gai, lác đác vài gốc mít. Tiểu đội tôi bố trí ngoài cùng, cùng với hầm anh nuôi và một hầm trực thông tin hữu tuyến. Đêm ngủ hầm đầu tiên ở Quảng trị, đến nửa đêm bị bom B52. Ba đứa ôm nhau trong hầm. Khói bom sặc sụa, hầm rung bần bật. Hết bom, nghe bắn súng báo cứu thương cả lũ cầm cuốc xẻng lao về cuối đơn vị. Đến nơi hối hả bới hầm sập, cứu được một vệ binh sư đoàn đi cùng thủ trưởng TM Sư xuống 95, còn một người khác thì hy sinh. Cùng trận bom B52 đó còn 1 lái xe của E phòng không đóng cùng địa bàn hy sinh. Đóng quân bên cạnh E bộ là C18 TT, bên bờ bắc sông Vĩnh Phước là C24 quân y và một trận địa DKB của E84. Quảng Trị lúc này đã biến thành chảo lửa, mà tâm điểm là thị xã QT. Tiếng bom tiếng pháo ngày đêm không ngớt. Ban ngày, bầu trời xẻ ngang xẻ dọc bởi các vệt khói B52 và pháo tăng tốc từ biển bắn vào, ban đêm từng quầng lửa bùng lên phía sông Thạch Hãn... Mới đầu, cũng sợ lắm, sau quen dần. Chính lúc không gian yên tĩnh nhất lại là lúc cái chết bất chợt đổ ập xuống.

Lính vệ binh, ngoài nhiệm vụ bảo vệ cứ, bảo vệ thủ trưởng đi thị sát mặt trận hoặc lên Sư bộ họp còn làm tất cả những nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho E bộ và các công tác hỗ trợ khác như tải thương,v.v. Đêm đêm chia nhau canh gác và ra cầu Lai Phước cất giấu đạn dược lương thực do xe chở vào đổ ở bờ Bắc, ngày thì vào Ái Tử, Nham Biều tải thương binh về C24. Khu vực bờ sông Vĩnh Phước thường xuyên bị pháo địch bắn vào. Một hôm máy bay đến ném bom dữ dội vào khu vực C18 và trận địa DKB. Một bạn cùng lớp tôi là lính của E84 hy sinh trong trận bom này. Sau này được đưa vào NTLS xã Triệu Ái cùng với các liệt sĩ khác trong khu vực đóng quân. Cánh vệ binh chúng tôi “may mắn” hơn các đồng đội khác là không trực tiếp chiến đấu nhưng cũng có hy sinh. Anh Chiểu B trưởng vệ binh hy sinh trên đường vào Cổ thành. Trịnh Thúc Doanh hy sinh đêm 16 tháng chín 1972 trong khi vượt sông... Tôi cũng mấy lần thoát chết. Một lần, trong lúc đang làm hầm cho cứ phụ ở Xê Kim Tác thì B52 đánh vào Ái Tử. Bom nổ cách hầm vài chục mét. May là kịp chui vào hầm (hầm làm bằng tôn vòm lấy trong căn cứ Ái Tử. Lần khác đi cáng thương từ Nham Biều về, đi ngang qua trận địa DKB thì bị pháo bắn. May cho 3 anh em đi trên đường cao, quả pháo nổ cắm ngay mép đường dưới thấp nên không ai dính mảnh. Ông thương binh lao từ trên võng qua hố bom bên vệ đường, chúi vào bụi dứa dại, hai ông tải thương đứng như trời trồng giữa đường, rồi cũng lao xuống hố bom tránh pháo...



lexuantuong1972
19 Tháng Bảy, 2012, 08:56:23 AM

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thương binh liệt sĩ 27/7, hôm qua các đồng đội, bạn bè của Trịnh Thúc Doanh đã đến nhà để thắp hương cho bạn mình. Cùng đi có các cháu PV của TH kỹ thuật số VTC. Trước đấy mọi người cũng đã đến thắp hương cho Nguyễn Văn Ngọc ở Trần Khánh Dư.

Trịnh Thúc Doanh nguyên SV k15 Cơ khí của ĐHBK, nhập ngũ 6/9/1971, trước đó D là học sinh trường Trỗi với TTNL,PQ... Trịnh Thúc Doanh là lính vệ binh của e95/f325, Anh hy sinh ngày 16/9/1972 trong khi rút ra khỏi Thành. Bao nhiêu năm gia đình anh đi tìm mộ của anh mà không thấy. Tình cờ năm 2003, cô em dâu của Doanh chuyển về công tác cùng phòng với tôi, được biết tôi là lớp SV-CS QT, cô cho tôi biết tình hình. Mặc dù không biết Doanh nhưng cùng là lính SV nên có thể tìm ra thông tin về đồng đội mình. Từ đó tôi liên lạc với Dũng "tử tế", Minh "sứt", là SV k15 BK là lính của e95. Cuối cùng xác định được Doanh là vệ binh của e95 và cũng tìm ta được Toàn quê Hưng Yên (giờ là Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy Hưng Yên) cùng hầm với Doanh, là người chứng kiến phút cuối cùng của Doanh. Được lệnh rút, Doanh từ hầm sát bờ sông chui ra trước và 1 quả pháo nổ tung ngay chỗ Doanh vừa tụt xuống... Toàn ra sau không thấy bạn mình đâu nữa... Đồng đội đã đưa gia đình vào chính nơi ngày xưa Doanh đã hy sinh, bốc một nắm đất bên bờ Thạch Hãn đưa về NTLS quê nhà tại Định Công, Hà Nội.



linh71 Thành viên
19 Tháng Bảy, 2012, 05:18:55 PM

Nhớ về các bạn tôi


...Trịnh Thúc Doanh học K15 Luyện kim Đại học bách khoa, là con một gia đình quân nhân. Bố mẹ Doanh đều là cán bộ của quân y viện 108. Tháng 9-1971 Doanh nhập ngũ cùng với các bạn bè trường Bách khoa và các trường ĐH khác. Doanh và tôi cùng ở đại đội 4 huấn luyện. Doanh có vóc người hơi nhỏ so với các lính khác trong đại đội.
Hết thời gian huấn luyện bộ binh Doanh được điều về C16. Nhưng do có một tật nhỏ ở gót chân nên Doanh được điều về B vệ binh cùng với tôi. Cùng B nhưng khác tiểu đội. Doanh tính tình hiền lành như con gái, ít nói. Bạn bè trêu đùa chỉ tủm tỉm cười. Vào Quảng Trị, tiểu đội tôi được phân bảo vệ BTM, tiểu đội của Doanh bảo vệ Ban Chính trị. Khi chính ủy Hoàng Thiện vào thành thì một tổ vệ binh vào theo, trong đó có Doanh. Doanh ở trong thành đến ngày cuối cùng. Đêm 15-9-1972, Trịnh Thúc Doanh vượt sông Thạch Hãn cùng với Vũ Đức Toàn, một chiến sĩ vệ binh cùng tiểu đội. Đang vượt sông thì Doanh trúng mảnh pháo, hy sinh. Xác trôi theo dòng nước cùng với bao đồng đội khác...
Thả đèn trên sông Thạch Hãn




...Mỗi lần vào Quảng Trị, khi qua sông Thạch Hãn nhìn mặt sông gợn sóng tôi lại như nhìn thấy các bạn tôi, từng lớp từng lớp trôi dần xa. Lại thấy vẳng bên tai
...Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm ...

Các bạn tôi, người thịt xương tan vào đất cổ thành, người hóa thân thành con sóng Thạch Hãn, người nằm lại dọc đường giải phóng miền Nam... Mãi mãi không về. Mãi mãi còn sống trong lòng gia đình, đồng đội.

TRỊNH THÚC DOANH – BẠN TÔI

Đăng lại bài viết của anh Lê Minh K5 để ACE tiện theo dõi.


Dựng nước - Giữ nước > Máu và Hoa > Một thời máu và hoa (Các quản trị: quansuvn, binhyen1960) > Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 2)
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8
CHUYỆN XII

16 Tháng Chín, 2010, 10:15:28 AM

TRỊNH THÚC DOANH – BẠN TÔI

TichTuongNhuLe (Lê Minh - K5

Lê Minh - K5



2013 – Đã mất 08/2013
mb 0912084891 - nr35113881 - cq -- ---HN-VN
- - -
- ACE:

1972

)

Hôm nay 16/9. Ngày này cách nay 38 năm, sau 81 ngày đêm kiên cường chốt giữ thị xã Quảng Trị, chính thức thì người lính cuối cùng cũng đã vượt sông Thạch Hãn rút qua bờ bắc (đúng ra là bờ tây) trong ngày này. Chắc hẳn còn không ít anh em, hoặc ở chốt độc lập không biết lệnh rút, hoặc lạc đồng đội, hoặc bị thương không thể vượt sông đã ở lại bờ nam sau ngày 16/9/1972. Những anh em đó, cho đến bây giờ, vẫn không ai biết gì về họ . . .[1]
nguyenquochung
Một cựu thủy quân lục chiến ngụy tham gia trận đánh 81 ngày đêm kể lại: Sau khi lính mình rút khỏi thị xã và thành cổ về Bắc Thạch Hãn vào rạng sáng 16/9, lính họ tổ chức lùng sục khắp nơi và đã gặp rải rác trong khu vực quanh Thành cổ một vài ổ chiến đấu cùng thương binh của mình còn sót lại (đúng như bác TTNL đã viết). "Những người lính này có vẻ như không hề biết đến việc rút lui của đồng đội họ nên vẫn đánh trả kiên cường một cách ngoài sức tưởng tượng. nhưng rồi lần lượt, họ hy sinh đến người cuối cùng".

Cũng cần phải nói thêm rằng, lính VNCH thường dùng từ "tử trận" chứ không dùng từ "hy sinh" đối với lính chết trong lúc làm nhiệm vụ. Nhưng người cựu TQLC này đã dành từ "hy sinh" cho những người lính Việt Cộng bên kia chiến tuyến một cách vô cùng kính trọng.

Bác cựu TQLC này cũng nói lính dù và thủy quân lục chiến bên họ trước,nay chưa bao giờ ngán bắn nhau với lính Bắc Việt, nhưng từ sau trận 81 ngày đêm trong Thành cổ, họ phải thừa nhận không thể sánh bằng đối phương về độ lì lợm, gan góc.

Đến lạ và cũng có thể chẳng có gì là lạ là ông ấy, cái ông cựu TQLC từng đánh nhau tóe khói với "Cộng sản Bắc Việt" ấy bây giờ lại là bạn nhậu chí côt với một bác có gốc gác cách mạng gộc, bản thân cũng mấy chục năm tuổi đảng.

Nhân loại sinh ra vốn yêu thương nhau. Có thể một lúc nào đó, vì một lý do nào đó nhân loại xúm vào đánh nhau. Xong, nhân loại lại quay về với tính bản thiện của mình và...yêu thương nhau.


Trịnh Thúc Doanh học cùng tôi suốt 4 năm kể từ lớp bảy cho đến hết lớp 10. Hết lớp 10, Doanh thi vào Đại Học Bách Khoa còn tôi thí vào Đại Học Tổng Hợp. Chúng tôi thân nhau từ năm học lớp 9, sơ tán ở Hưng Hóa, Tam Nông, Phú Thọ. Những buổi chiều hay ngày Chủ Nhật hai đứa thường dạo chơi ở thị trấn Hưng Hóa, một phố huyện miền trung du đất đỏ với con đường rải đá khấp khểnh. Thể nào cũng rẽ qua cửa hàng hợp tác xã mua bán, nhìn ngó một tí thôi chứ có gì mà mua. Cái mà chúng tôi cần thì từ cái khăn mùi xoa cũng chẳng có. Đi lòng vòng một hồi chán rồi có khi rẽ qua đường đi Thanh Sơn, một con đường đất đỏ ngoằn nghoèo, chạy ven một cái đầm toàn những cỏ lác rồi chạy về phía núi. Cũng có khi chúng tôi đi về phía Trung Hà, qua đầm Dị Nậu, thôn Dị Nậu, mỏi chân thì quay về bờ sông. Đoạn sông này cũng là một phần của sông Hồng, chưa gặp ngã ba với sông Đà. Cuối cùng thì xà vào một cái quán nước ven sông. Đây là một bến thuyền nhỏ, thỉnh thoảng có thuyền chở than đến, rồi thuyền chở chuối, mít từ đây về xuôi. Hai thằng gọi 2 bát nước chè xanh, rồi trứng vịt luộc và chuối. Sao mà ăn khỏe thế. Chục trứng luộc chấm muối ớt chỉ một loáng là đánh bay, lại đánh tiếp chuối, chuối tiêu, chuối tây, chuối hột hay chuối lá.

Tối chúng tôi thường ra sân bóng, nằm trên cỏ ngắm trăng sao và nói chuyện linh tinh, đủ các thứ chuyện chỉ trừ chuyện gái. Không phải kiêng đâu mà vì không biết gì. Hết lớp 10 chúng tôi vẫn chưa lớn mà.[1b]
vitính
Trưa hôm qua 17/9 chúng tôi đi ngang Hưng Hóa, vào chụp ảnh cột cờ Hưng Hóa (tham khảo http://www.baophutho.org.vn/baophutho/vn/website/van-hoa-xa-hoi/2010/10/125B3DD4542/).
Cột cờ nằm trong doanh trại của đoàn công binh N43. Nơi mà ngày xưa bác và Doanh nằm ngắm trăng sao nói chuyện linh tinh là đâu đó ở bên phải của tấm ảnh này. Cái sân bóng, bây giờ, phần sát đường đã thành phố thị, sau đó là sân, khu thể thao của đoàn N43. Tôi chụp ảnh này từ phía lối vào cổng chính cũ bây giờ nó chỉ là một ngõ nhỏ ngắn qua lớp nhà dân. Cổng chính đoàn N43 mới bây giờ ngoảnh về dãy quán bán chuối, trứng,... mà qua đấy là đến bờ sông Thao.

TichTuongNhuLe
Đẹp quá nhảy bác ViTinh ! Doanh trại này trước kia cũng của công binh. Tôi nhớ hồi ở đó vẫn còn một số nhà để cầu phao. Chắc sân bóng trước cổng doanh trại bây giờ là nhà dân rồi. Thế thì đường vào chỉ là một con đường hẹp thôi. Nhưng đường trong phố thị chắc trải nhựa ngon lành, nhà cửa phố chắc cũng khang trang, sạch đẹp.


Năm 1970, Doanh vào Bách Khoa còn tôi vào Tổng Hợp. Tôi hay đến nhà Doanh. Nhà nó ở khu tập thể bệnh viện 108 quân đội. Bố Doanh là bác sỹ. Ông là bác sỹ đầu tiên được đào tạo dưới chính thể của Cụ Hồ. Mẹ Doanh cũng đang tại ngũ. Nhà tập thể cấp bốn chỉ có một phòng. Đàng sau nhà là khu bếp tập thể, mỗi nhà một ô. Muốn xuống bếp thì phải trèo qua cửa sổ . . .

Không ngờ rằng hai thằng tôi cùng nhập ngũ một ngày, 6/9/1971. Thế là từ đó bặt tin nhau.

Về sau này khi ra quân rồi tôi mới biết Doanh và tôi cũng ở cùng sư đoàn 325. Doanh ở trung đoàn 95 và lĩnh đủ 81 ngày đêm ở thị xã Quảng Trị.
Đúng ngày 16/9/72, được lệnh rút qua sông. Doanh hy sinh vì bị pháo lúc vượt qua sông . . .

***

Doanh nhập ngũ 6/9/71 vào trung đoàn 95. Sau 3 tháng huấn luyện ở Việt Yên, Hà Bắc. Cuối tháng 12 năm đó, toàn sư đoàn vào trấn giữ đèo Ngang đề phòng địch đổ bộ vào khu vực này khi 308 và 304 đánh Quảng Trị.[2]
sauchinbaymot
Ngày 10/2/1972, sư đoàn 325 rời Hà Bắc (ga Bắc Giang), lên tàu vào Hà Tĩnh, nhưng không phải toàn bộ sư đoàn. Chắc chắn có sư bộ và các đơn vị trực thuộc. Riêng Trung đoàn 101 mãi đến tháng 3 mới rời Hà Bắc vào Hà Tĩnh (xem Mãi mãi tuổi 20).

TichTuongNhuLe
Bác 6971 chỉnh lại đúng rồi Tháng 2/1972 95 mới hành quân vào đèo ngang. Sau đó cũng đi diễn tập ở đèo ngang rồi sang Quảng Bình.


Tháng 6/72, sư 325 bắt đầu vào Quảng Trị. Đây cũng là lúc địch phản kích để tái chiếm Quảng Trị. Trung đoàn 95 lúc đó ở Cam Lộ, đóng quân tại dãy Nghĩa Hy. Vị trí này rất thuận tiện đường đi lối lại. Nếu tiến lên thì có thể xuống Đông Hà rồi đi về Cửa Việt. Có thể tiến về phía nam thì đi qua gần căn cứ Phượng Hoàng đỏ ối rồi vào Ái Tử, Nhan Biều và vượt sông sang thành. Chếch xuống phía tây thi vào động Ông Do, Đá Đứng, Như Lệ - Tích Tường. Đường rút cũng rất thuận lợi. Có thể rút thẳng qua Cam Lộ, Bãi Hà và cũng có thể rút qua Đầu Mầu, Tân Lâm để đi Tà Cơn, Khe Sanh.

Ngày 1/7/72, hai tiểu đoàn của 95 vượt sông Thạch Hãn. d5 chốt giữ bìa đông nam của thành cổ, Ty Cảnh Sát, khu Đông Mỹ, chùa Bà Năm, kho rốc két. D4 chốt giữ bìa tây nam thành cổ và khu vực Dinh Tỉnh Trưởng cho đến khu Mỹ Tây. Trong thành là d3 của tỉnh đội Quảng Trị (gọi là quân của tỉnh Quảng Trị nhưng toàn lính bắc), sau đó thì d1 của trung đoàn 48 cũng rút về thành. D7/E18/F325 thì chốt giữ khu vực nhà Tin Lành, Đệ Ngũ. Trung đoàn 101 chốt giữ phía bắc sông Vĩnh Định kể từ Chợ Sãi.[3]
nguyenquochung
Thị xã bé như cái khăn mùi xoa. Thành cổ nằm trong cái khăn ấy nên còn bé hơn. Thế mà được Mỹ ưu ái cho ăn đạn pháo trung bình mỗi ngày hơn vạn quả, bom không rõ nhưng tổng kết lại đâu khoảng bằng 7 quả ném xuống Hirosima năm 1945, chưa kể các loại hỏa lực bộ binh nhì nhằng phụ họa thêm. Thế thì phản công hay phòng ngự, hầm chắc hay chưa chắc, chắc kết quả cũng chẳng khác nhau là mấy. Chỉ có cái chết bi tráng của mười mấy ngàn chiến binh Thành cổ là thật nhất, đau xót nhất.


Những người lính vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ ngày ấy đều xác định cái chết cho mình một cách nhẹ nhàng nhất. Ai ra được thì đúng như bác Lê XuânTrường đã nói ở đâu đó: Quả là một sự vô lý.


Thực ra thì mức độ ác liệt ở mọi nơi của thị xã cũng tương đối như nhau. Nhưng khi nói đến Quảng Trị 72 thì nhiều người nghĩ chỉ có Thành Cổ. Có một đia danh khác là Cổ Thành. Đây là một làng nằm phía bắc Thành Cổ. Theo tôi, chữ Thành Cổ bây giờ có nghĩa tượng trưng cho cả khu vực thị xã Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Có thể rằng một vài điểm khác còn nóng hơn trong khu vực Thành cổ. Chẳng hạn như bến vượt ở Dinh Tỉnh Trưởng hay bến vượt ở Trường Phước, rồi Tri Bưu, khu Mỹ Đông, ty Cảnh Sát, Khu Mỹ Tây, Dinh Tỉnh Trưởng, Chợ Sãi, An Mô...

Nhà Doanh có 5 anh em. Lúc đó bố, mẹ Doanh và 2 anh trai của Doanh cũng đang tại ngũ. Do đó trước khi “đi bê”, Doanh được cho về thăm gia đình. Khi vào đến Quảng Trị thì Doanh vào sau mọi người. Lúc đầu về đến trung đoàn thì trung đoàn 95 đã ở phía nam Thạch Hãn. Doanh được đưa về c23, vệ binh trung đoàn. Sau đó, Doanh xuống đơn vị chiến đấu từ lúc nào thì các bạn tôi đều không nhớ. Chỉ nhớ là Doanh vào sau khoảng một tháng.

Tính từ 1/7/72 đến 16/9/72 là thời gian trung đoàn 95 tham gia chốt giữ thị Xã Quảng Trị - 78 ngày. Nếu Doanh vào sau một tháng thì thời gian ở đây là 48 ngày. Nhưng số ngày nào có nghĩa gì. Lúc vượt sông sang thành, rất nhiều anh em đã hy sinh. Chỉ là “không” ngày. Vậy thì 0 ngày hay 81 ngày có gì là quan trọng đâu! Quan trọng là, từng giờ, từng phút, từng giây biết bao AE đã đổ máu xương trên cái mảnh đất “Thị Xã Quảng Trị”, một vết thương không bao giờ có thể lành được...

Dưới đây là sơ đồ tác chiến các ngày 7, 8, 9 tháng 9/1972, theo tài liệu của "Ban Liên Lạc Truyền Thống - Ban Chiến Đấu Bảo Vệ Thành Cổ Quảng Trị" - 12/2004.

Diễn biến chiến đấu ở thị xã Quảng Trị ngày 7, 8, 9/9/1972.




Chuyện kể lại của Toàn, đồng đội Doanh

- Thằng Doanh vào sau trong đợt đổi quân và được phân về cùng hầm với tôi và thằng Phú. Doanh hiền lành, trẻ măng. Tôi còn nhớ, mặt nó nhiều trứng cá. Nó bảo bố nó làm ở bệnh viện 108... có quen trung đoàn trưởng Lý Long Quân nên xin phép cho nó về nhà trước khi đi chiến trường. Thằng này nó hiền lắm. Bọn mày biết đấy. Lúc đó bọn tao suốt ngày ngồi trong hầm, không thể ló mặt lên được. Hết B52 rồi lại đến máy bay ném bom. Lại còn máy bay gì hình như là L19, tao cũng chả biết, luôn tục xăm soi bắn đại liên suốt ngày.
- Chắc nó bắn 20 ly đấy.[4]
tralientay
--
Những người lính vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ ngày ấy đều xác định cái chết cho mình một cách nhẹ nhàng nhất. Ai ra được thì đúng như bác Lê XuânTrường đã nói ở đâu đó: Quả là một sự vô lý.
--

Tôi bổ sung thêm hai điều mắt thấy tai nghe:

1. Đầu tháng 7.1972, trước khi vào Nhan Biều, tiểu đội tôi đóng chừng 10 ngày ở một thôn phía Bắc thị xã QT quãng 4-5km, bờ Tây Thạch Hãn, bên trái là Ái Tử (xem lại thì có thể là thôn Ái Tử hay Hà Xá hoặc ở giữa). Hằng ngày bọn tôi đi vào Ái Tử tìm hiểu địa hình. Đây là lúc làm quen bom đạn, vì ngày nào cũng có pháo bắn vào hoặc gần làng.

Và lúc đó tôi biết các đợt chuyển quân vào Thành vì đây là điểm giao quân từ Bắc vào.

Mỗi đêm, một số lính dăm bảy chục người do cán bộ khung dẫn hành quân qua đêm, rạng sáng tới làng. Chập tối hôm sau, dăm cán bộ đại đội từ vùng thị xã ra nhận quân. Mỗi đơn vị nhận một số lính, thủ trưởng mới và lính mới không rõ mặt nhau, chỉ một danh sách trong tay. Vào đến nơi, mỗi hầm sẽ nhận một hai lính mới thay cho những người bi thương hay hy sinh một vài ngày trước. Có anh ra nhận quân nói, lính hôm trước đưa vào chưa kịp biết mặt, thuộc tên (vì ai ở hầm nấy) thì ngay trong đêm hay hôm sau đã thương vong rồi.

"Thằng Doanh vào sau trong đợt đổi quân và được phân về cùng hầm với tôi và thằng Phú."

Họ hầu hết là lính mới nhập ngũ, rất nhiều chưa qua đủ 3 tháng huấn luyện. Từ chỗ chưa biết bom đạn là gì họ đến thẳng một nơi nhiều bom đạn nhất trên đời.

2.
--
Thực ra thì mức độ ác liệt ở mọi nơi của thị xã cũng tương đối như nhau. Nhưng khi nói đến Quảng Trị 72 thì nhiều người nghĩ chỉ có Thành Cổ. Có một đia danh khác là Cổ Thành. Đây là một làng nằm phía bắc Thành Cổ. Theo tôi, chữ Thành Cổ bây giờ có nghĩa tượng trưng cho cả khu vực thị xã Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Có thể rằng một vài điểm khác còn nóng hơn trong khu vực Thành cổ. Chẳng hạn như bến vượt ở Dinh Tỉnh Trưởng hay bến vượt ở Trường Phước, rồi Tri Bưu, khu Mỹ Đông, ty Cảnh Sát, Khu Mỹ Tây, Dinh Tỉnh Trưởng, Chợ Sãi, An Mô . . . (TTNL)
--

Đúng. Cần hiểu cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị gồm những trận đánh xung quanh thành cổ và tại chính thành cổ trong những ngày cuối, có mức ác liệt đều rất cao.

Rất khó có ai có thể nhìn tổng thể để đánh giá mức độ khốc liệt ở các nơi. Hai đài quan sát của tiểu đội tôi quãng 15.7-16.9.1972 ở bờ sông Nhan Biều trông qua thị xã và đầu cầu QT có nhiệm vụ chính là hằng ngày đếm số bom, số đạn pháo, ... ở vùng quanh thị xã (cả làng Nhan Biều) và mỗi ngày vài lần điện về sư đoàn. Tôi cũng trực tiếp theo dõi nhiều trận đánh phía bên kia sông. Có thể nói thành cổ chịu rất nhiều bom đạn trong suốt những ngày tháng đó, ngày nào cũng rất nhiều bom pháo, dù các trận đánh ở đây chỉ dày đặc hơn ở giai đoạn cuối. Các trận đánh khác rất khốc liệt tại Tri Bưu, La Vang, ... diễn ra trong thời gian ngắn hơn.

Có thể nói những trận xung quanh thị xã rất ác liệt trong một vài ngày hay một hai tuần lễ, nhưng chịu bom đạn mật độ cao và dai dẳng thì chính là thị xã và thành cổ, và những trận đánh cuối cùng ở đây cũng rất ác liệt, vì chỉ còn mỗi nơi này.

Phan Nhật Nam, vốn là lính sư dù rồi làm phóng viên chiến trường của QLCH, trong cuốn "Mùa hè đỏ lửa" có mô tả (tại chỗ) các trận đánh ở phần đầu của mùa hè này. Có lẽ đó là những mô tả trực tiếp duy nhất có trong sách báo.

Tiếc là chưa có một cuốn sách nào về trận 1972 ở QT.

- Bọn mày biết không? Bọn tao mót đái thì cứ bụm tay mà đái vào rồi hất ra ngoài. Trời thì cứ mưa suốt. Hầm thì nước vào, dưới chân bùn nhão nhoét trộn với máu. Tao nghĩ chẳng khác gì bọn Pháp ở Điện Biên hay bọn Mỹ ở Khe Sanh. Kinh thật! bây giờ nghĩ vẫn kinh.
- Quá kinh! Mà sống được là không sao hết.
- Lúc bọn tao ở sát thành, thằng Doanh mới vào. Nó còn hộp sữa đặc mẹ nó nhét vào ba lô trước khi đi. Đói quá, bọn tao lấy thông nòng xọc hai cái lỗ, thế là thay nhau tu. Rồi khát nước. Mày biết không? Tu hết hai bi đông nước, toàn nước sông, sát trùng sát chiếc gì cũng chẳng có. Cả ba thằng bị tháo tỏng. Thằng Phú bĩnh cả ra quần thành ra trong hầm vừa khai vừa thối, ẩm thấp tanh tưởi. Nghĩ lại, ghê quá!
- Thế lúc rút qua sông như thế nào?
- Cứ từ từ… cho khoai nó nhừ! Đến chiều 15 bọn nó đã bao vây ba mặt. Bọn tao chỉ còn mấy cái hầm. Ban ngày không thể liên lạc được với nhau. Cứ hầm nào có địch thì hầm đó chống trả, thỉnh thoảng mới hỗ trợ được cho nhau. Mãi tối khuya mới có thằng truyền đạt chạy đến bảo rút qua sông.
- May mà ra lệnh rút nếu không bây giờ bọn tao đâu nhìn thấy mày.

Chuyện kể lại của Huy, đồng đội Doanh

- Đêm 15/9 chúng tao được lệnh rút. Tao chỉ cầm theo khẩu súng thôi. Mà thằng nào cũng thế. Lúc đó ba bề bốn bên đều là địch rồi, chỉ còn mỗi lối xuống sông thôi. Nếu không cho rút thì chết hết cả… Toán nào toán nấy, nháo nhào bổ xuống sông. Tao nhanh chân chạy đầu tiên, lao ngay xuống nước, mấy thằng nhóm tao cũng bơi bám theo. Súng tao khoác vào vai, thế là tao bơi rất nhanh. Bọn thằng Doanh và mấy thằng nữa cùng chốt của nó chạy sau tao cũng lao xuống nước. Một quả pháo nổ sáng lòe ngay phía sau tao. Tao thấy hơi tức ngực nhưng có vẻ như không bị thương. Nhóm thằng Doanh, thằng Toàn, thằng Phú chạy sau tao không biết có việc gì không? Bọn tao sang đến bờ mới ngồi thở, sờ khắp người thấy không bị thương ở đâu. Chờ chúng nó một lúc thì chỉ thấy thằng Toàn mới thằng Phú bơi sang. Chúng nó bảo thấy quả pháo trúng chỗ thằng Doanh.
- Thế ông có biết chỗ vượt sông là chỗ nào không?
- Chỉ biết bên này là Nhan Biều thôi.
- Thế phía trên hay phía dưới cầu Quảng Trị?
- Phía dưới chứ!
- Thế có gần cầu không?
- Chắc là gần.
- Được rồi.
- Ừ! Lúc đó làng mạc, phố phường, chỗ nào chẳng như chỗ nào tơi tả hết biết đâu là Nhan biều hay hay Nhan biếc gì, là khi bọn tao chốt thì thấy bảo bên kia là Nhan Biều. Thế thôi!

Chuyện kể tiếp của Toàn, đồng đội Doanh

- Thằng Doanh chạy trước, rồi đến tao, thằng Phú chạy sau cùng. Lúc tao đến sát bờ sông thì đã thấy thằng Doanh nhảy xuống rồi. Nó đang bơi thì lòe một cái tối tăm mặt mũi. Quả pháo trúng ngay chỗ thằng Doanh. Bọn tao thì lăn ngay xuống, đ… biết là hố hay rãnh hay gì nữa. Lúc ngớt pháo tao vẫn còn lóa, phải một lúc mới nhìn được. Hai thằng tao mới gọi thằng Doanh, mà cũng chỉ dám gọi khẽ. Bọn nó ở ngay xung quanh mà. Bọn tao lội xuống rồi bơi, quờ quạng khắp mà không thấy.
- Ừ! Thôi, mày đừng có day dứt mãi thế! Trong cảnh ấy thì làm sao mà tìm được. Chắc nó trúng đạn, lại mang súng thì chìm xuống rồi.
- Mãi rồi bọn tao đành bơi qua sông. Thật may khi qua sông không bị quả đạn pháo nào. Sang đến nơi mới thấy pháo sáng bọn nó bắn ăn mừng, rực trời. Cả ngày hôm sau tôi nằm trong hầm ngập nước ở Nhan Biều ngủ li bì. Có lẽ Doanh trúng đạn rồi bị cuốn trôi theo dòng. Khi ấy đang là mùa nước.
- …
- Mày biết không? Tao vẫn bị ám ảnh cảnh thằng Doanh bị trúng pháo. Tiếng chúng tao gọi nó rất nhỏ thôi mà sao lúc nào cũng văng vẳng bên tai tao:
“Doanh ơi...! Doanh ơi...!”


Chuyện Thúc Doanh - bạn tôi, chẳng bao giờ hết, một vết thương đau không bao giờ thôi nhức nhối


Vị trí vượt sông Thạch Hãn của Thúc Doanh và đồng đội
sau khi điều chỉnh theo góp ý của TraLienTay[5]
tralientay
--
Theo lời kể của Toàn và Huy thì chỗ Doanh cùng đồng đội vượt sông là chỗ vòng tròn đỏ.
--

Tôi nghĩ là phải ở phía trên nữa, có thể quãng giữa vòng tròn và thành cổ. Mặt sông phía ta giữ được mấy ngày cuối chỉ chừng 300-400 mét. Từ thành cổ đến đầu cầu hơn 1km. Đoạn giữa Nhan Biều (trông sang thành cổ) và đầu cầu là nơi chúng tôi thường đi lại hàng ngày giũa hai đài quan sát.

Các bạn ấy hình như cũng nhầm, vì cầu ở phía dưới không phải phía trên.

TichTuongNhuLe
Có thể bác TraLienTay nói đúng nhưng cầu ở phía trên là đúng rồi vì tính theo dòng nước chảy chứ không phải nhìn trên bản đồ. Đây là bản đồ tỷ lệ 1:50000 được phóng to lên, mỗi ô chỉ là 1 km. Từ Dinh Tỉnh Trưởng tới cầu chưa đầy 1 cây số.

tralientay
Đây là chuyện nếu làm rõ hơn được thì tốt, do liên quan đến nơi một người bạn hy sinh, nên tôi thêm vài lời.

Tôi vẫn nghĩ chỗ mọi người qua sông vào đêm 15/9 ở gần phía Bắc hơn. Trong vòng quãng 1-2 tuần trước khi mất thị xã, từ ở đài quan sát Nhan Biều tôi đã theo dõi một trận đánh lớn ở dọc bờ sông quãng gần trưa. Đây là lần duy nhất tôi thấy rõ quân bên kia, không rõ dù hay thủy quân lục chiến, chạy đi chạy lại, bắn và ném lựu đạn vào các chốt của ta (các trận khác phía trong tôi không thấy người, trừ khói và tiếng súng). Nơi trận đó diễn ra theo tôi nhớ gần thành cố hơn chỗ cái vòng bắc TTNL khoanh rồi. Mà quân ta trong những ngày cuối chắc không có dịp đẩy bên kia lùi lại.

TichTuongNhuLe
Bác TraLienTay là người trực tiếp quan sát tình hình thị xã Quảng Trị những ngày ta sắp rút. Một đài quan sát của trinh sát sư đoàn 325 tại Nhan Biều. Theo góp ý của bác tôi đã chỉnh lại vị trí vượt sông của Thúc Doanh và đồng đội như hình dưới.



[6]
Mr.NganCựu chiến binh
Đọc các bài viết của Bác tichtuongnhule thật cảm động..48 ngày sống và chiến đấu của Liệt sĩ Doanh thật ngắn ngủi nhưng nó đã viết nên lịch sử nghìn năm hào hùng và anh dũng của dân tộc !!



Tích Tường Như Lệ là Lê Minh K5,
bạn hiện là Giảng viên Đại học GTVT


Lời góp của các thành viên Diễn đàn "Dựng nước - Giữ nước"

1
nguyenquochung Thành viên
Một cựu thủy quân lục chiến ngụy tham gia trận đánh 81 ngày đêm kể lại: Sau khi lính mình rút khỏi thị xã và thành cổ về Bắc Thạch Hãn vào rạng sáng 16/9, lính họ tổ chức lùng sục khắp nơi và đã gặp rải rác trong khu vực quanh Thành cổ một vài ổ chiến đấu cùng thương binh của mình còn sót lại (đúng như bác TTNL đã viết). "Những người lính này có vẻ như không hề biết đến việc rút lui của đồng đội họ nên vẫn đánh trả kiên cường một cách ngoài sức tưởng tượng. nhưng rồi lần lượt, họ hy sinh đến người cuối cùng".

Cũng cần phải nói thêm rằng, lính VNCH thường dùng từ "tử trận" chứ không dùng từ "hy sinh" đối với lính chết trong lúc làm nhiệm vụ. Nhưng người cựu TQLC này đã dành từ "hy sinh" cho những người lính Việt Cộng bên kia chiến tuyến một cách vô cùng kính trọng.

Bác cựu TQLC này cũng nói lính dù và thủy quân lục chiến bên họ trước,nay chưa bao giờ ngán bắn nhau với lính Bắc Việt, nhưng từ sau trận 81 ngày đêm trong Thành cổ, họ phải thừa nhận không thể sánh bằng đối phương về độ lì lợm, gan góc.

Đến lạ và cũng có thể chẳng có gì là lạ là ông ấy, cái ông cựu TQLC từng đánh nhau tóe khói với "Cộng sản Bắc Việt" ấy bây giờ lại là bạn nhậu chí côt với một bác có gốc gác cách mạng gộc, bản thân cũng mấy chục năm tuổi đảng.

Nhân loại sinh ra vốn yêu thương nhau. Có thể một lúc nào đó, vì một lý do nào đó nhân loại xúm vào đánh nhau. Xong, nhân loại lại quay về với tính bản thiện của mình và...yêu thương nhau.

1b
vitính Cựu chiến binh
Trưa hôm qua 17/9 chúng tôi đi ngang Hưng Hóa, vào chụp ảnh cột cờ Hưng Hóa (tham khảo http://www.baophutho.org.vn/baophutho/vn/website/van-hoa-xa-hoi/2010/10/125B3DD4542/).
Cột cờ nằm trong doanh trại của đoàn công binh N43. Nơi mà ngày xưa bác và Doanh nằm ngắm trăng sao nói chuyện linh tinh là đâu đó ở bên phải của tấm ảnh này. Cái sân bóng, bây giờ, phần sát đường đã thành phố thị, sau đó là sân, khu thể thao của đoàn N43. Tôi chụp ảnh này từ phía lối vào cổng chính cũ bây giờ nó chỉ là một ngõ nhỏ ngắn qua lớp nhà dân. Cổng chính đoàn N43 mới bây giờ ngoảnh về dãy quán bán chuối, trứng,... mà qua đấy là đến bờ sông Thao.

TichTuongNhuLe Thành viên
Đẹp quá nhảy bác ViTinh ! Doanh trại này trước kia cũng của công binh. Tôi nhớ hồi ở đó vẫn còn một số nhà để cầu phao. Chắc sân bóng trước cổng doanh trại bây giờ là nhà dân rồi. Thế thì đường vào chỉ là một con đường hẹp thôi. Nhưng đường trong phố thị chắc trải nhựa ngon lành, nhà cửa phố chắc cũng khang trang, sạch đẹp.

2
sauchinbaymot Thành viên
Ngày 10/2/1972, sư đoàn 325 rời Hà Bắc (ga Bắc Giang), lên tàu vào Hà Tĩnh, nhưng không phải toàn bộ sư đoàn. Chắc chắn có sư bộ và các đơn vị trực thuộc. Riêng Trung đoàn 101 mãi đến tháng 3 mới rời Hà Bắc vào Hà Tĩnh (xem Mãi mãi tuổi 20).

TichTuongNhuLe Thành viên
Bác 6971 chỉnh lại đúng rồi Tháng 2/1972 95 mới hành quân vào đèo ngang. Sau đó cũng đi diễn tập ở đèo ngang rồi sang Quảng Bình.

3
nguyenquochung Thành viên
Thị xã bé như cái khăn mùi xoa. Thành cổ nằm trong cái khăn ấy nên còn bé hơn. Thế mà được Mỹ ưu ái cho ăn đạn pháo trung bình mỗi ngày hơn vạn quả, bom không rõ nhưng tổng kết lại đâu khoảng bằng 7 quả ném xuống Hirosima năm 1945, chưa kể các loại hỏa lực bộ binh nhì nhằng phụ họa thêm. Thế thì phản công hay phòng ngự, hầm chắc hay chưa chắc, chắc kết quả cũng chẳng khác nhau là mấy. Chỉ có cái chết bi tráng của mười mấy ngàn chiến binh Thành cổ là thật nhất, đau xót nhất.


Những người lính vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ ngày ấy đều xác định cái chết cho mình một cách nhẹ nhàng nhất. Ai ra được thì đúng như bác Lê XuânTrường đã nói ở đâu đó: Quả là một sự vô lý.
4
tralientay Thành viên
--
Những người lính vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ ngày ấy đều xác định cái chết cho mình một cách nhẹ nhàng nhất. Ai ra được thì đúng như bác Lê XuânTrường đã nói ở đâu đó: Quả là một sự vô lý.
--

Tôi bổ sung thêm hai điều mắt thấy tai nghe:

1. Đầu tháng 7.1972, trước khi vào Nhan Biều, tiểu đội tôi đóng chừng 10 ngày ở một thôn phía Bắc thị xã QT quãng 4-5km, bờ Tây Thạch Hãn, bên trái là Ái Tử (xem lại thì có thể là thôn Ái Tử hay Hà Xá hoặc ở giữa). Hằng ngày bọn tôi đi vào Ái Tử tìm hiểu địa hình. Đây là lúc làm quen bom đạn, vì ngày nào cũng có pháo bắn vào hoặc gần làng.

Và lúc đó tôi biết các đợt chuyển quân vào Thành vì đây là điểm giao quân từ Bắc vào.

Mỗi đêm, một số lính dăm bảy chục người do cán bộ khung dẫn hành quân qua đêm, rạng sáng tới làng. Chập tối hôm sau, dăm cán bộ đại đội từ vùng thị xã ra nhận quân. Mỗi đơn vị nhận một số lính, thủ trưởng mới và lính mới không rõ mặt nhau, chỉ một danh sách trong tay. Vào đến nơi, mỗi hầm sẽ nhận một hai lính mới thay cho những người bi thương hay hy sinh một vài ngày trước. Có anh ra nhận quân nói, lính hôm trước đưa vào chưa kịp biết mặt, thuộc tên (vì ai ở hầm nấy) thì ngay trong đêm hay hôm sau đã thương vong rồi.

"Thằng Doanh vào sau trong đợt đổi quân và được phân về cùng hầm với tôi và thằng Phú."

Họ hầu hết là lính mới nhập ngũ, rất nhiều chưa qua đủ 3 tháng huấn luyện. Từ chỗ chưa biết bom đạn là gì họ đến thẳng một nơi nhiều bom đạn nhất trên đời.

2.
--
Thực ra thì mức độ ác liệt ở mọi nơi của thị xã cũng tương đối như nhau. Nhưng khi nói đến Quảng Trị 72 thì nhiều người nghĩ chỉ có Thành Cổ. Có một đia danh khác là Cổ Thành. Đây là một làng nằm phía bắc Thành Cổ. Theo tôi, chữ Thành Cổ bây giờ có nghĩa tượng trưng cho cả khu vực thị xã Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Có thể rằng một vài điểm khác còn nóng hơn trong khu vực Thành cổ. Chẳng hạn như bến vượt ở Dinh Tỉnh Trưởng hay bến vượt ở Trường Phước, rồi Tri Bưu, khu Mỹ Đông, ty Cảnh Sát, Khu Mỹ Tây, Dinh Tỉnh Trưởng, Chợ Sãi, An Mô . . . (TTNL)
--

Đúng. Cần hiểu cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị gồm những trận đánh xung quanh thành cổ và tại chính thành cổ trong những ngày cuối, có mức ác liệt đều rất cao.

Rất khó có ai có thể nhìn tổng thể để đánh giá mức độ khốc liệt ở các nơi. Hai đài quan sát của tiểu đội tôi quãng 15.7-16.9.1972 ở bờ sông Nhan Biều trông qua thị xã và đầu cầu QT có nhiệm vụ chính là hằng ngày đếm số bom, số đạn pháo, ... ở vùng quanh thị xã (cả làng Nhan Biều) và mỗi ngày vài lần điện về sư đoàn. Tôi cũng trực tiếp theo dõi nhiều trận đánh phía bên kia sông. Có thể nói thành cổ chịu rất nhiều bom đạn trong suốt những ngày tháng đó, ngày nào cũng rất nhiều bom pháo, dù các trận đánh ở đây chỉ dày đặc hơn ở giai đoạn cuối. Các trận đánh khác rất khốc liệt tại Tri Bưu, La Vang, ... diễn ra trong thời gian ngắn hơn.

Có thể nói những trận xung quanh thị xã rất ác liệt trong một vài ngày hay một hai tuần lễ, nhưng chịu bom đạn mật độ cao và dai dẳng thì chính là thị xã và thành cổ, và những trận đánh cuối cùng ở đây cũng rất ác liệt, vì chỉ còn mỗi nơi này.

Phan Nhật Nam, vốn là lính sư dù rồi làm phóng viên chiến trường của QLCH, trong cuốn "Mùa hè đỏ lửa" có mô tả (tại chỗ) các trận đánh ở phần đầu của mùa hè này. Có lẽ đó là những mô tả trực tiếp duy nhất có trong sách báo.

Tiếc là chưa có một cuốn sách nào về trận 1972 ở QT.
5
tralientay Thành viên
--
Theo lời kể của Toàn và Huy thì chỗ Doanh cùng đồng đội vượt sông là chỗ vòng tròn đỏ.
--

Tôi nghĩ là phải ở phía trên nữa, có thể quãng giữa vòng tròn và thành cổ. Mặt sông phía ta giữ được mấy ngày cuối chỉ chừng 300-400 mét. Từ thành cổ đến đầu cầu hơn 1km. Đoạn giữa Nhan Biều (trông sang thành cổ) và đầu cầu là nơi chúng tôi thường đi lại hàng ngày giũa hai đài quan sát.

Các bạn ấy hình như cũng nhầm, vì cầu ở phía dưới không phải phía trên.

TichTuongNhuLe Thành viên
Có thể bác TraLienTay nói đúng nhưng cầu ở phía trên là đúng rồi vì tính theo dòng nước chảy chứ không phải nhìn trên bản đồ. Đây là bản đồ tỷ lệ 1:50000 được phóng to lên, mỗi ô chỉ là 1 km. Từ Dinh Tỉnh Trưởng tới cầu chưa đầy 1 cây số.

tralientay Thành viên
Đây là chuyện nếu làm rõ hơn được thì tốt, do liên quan đến nơi một người bạn hy sinh, nên tôi thêm vài lời.

Tôi vẫn nghĩ chỗ mọi người qua sông vào đêm 15/9 ở gần phía Bắc hơn. Trong vòng quãng 1-2 tuần trước khi mất thị xã, từ ở đài quan sát Nhan Biều tôi đã theo dõi một trận đánh lớn ở dọc bờ sông quãng gần trưa. Đây là lần duy nhất tôi thấy rõ quân bên kia, không rõ dù hay thủy quân lục chiến, chạy đi chạy lại, bắn và ném lựu đạn vào các chốt của ta (các trận khác phía trong tôi không thấy người, trừ khói và tiếng súng). Nơi trận đó diễn ra theo tôi nhớ gần thành cố hơn chỗ cái vòng bắc TTNL khoanh rồi. Mà quân ta trong những ngày cuối chắc không có dịp đẩy bên kia lùi lại.

TichTuongNhuLe Thành viên
Bác TraLienTay là người trực tiếp quan sát tình hình thị xã Quảng Trị những ngày ta sắp rút. Một đài quan sát của trinh sát sư đoàn 325 tại Nhan Biều. Theo góp ý của bác tôi đã chỉnh lại vị trí vượt sông của Thúc Doanh và đồng đội như hình dưới.

6
Mr.Ngan Cựu chiến binh
Đọc các bài viết của Bác tichtuongnhule thật cảm động..48 ngày sống và chiến đấu của Liệt sĩ Doanh thật ngắn ngủi nhưng nó đã viết nên lịch sử nghìn năm hào hùng và anh dũng của dân tộc !!

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 11 năm 2016

Viếng NTLS Xã Mỹ Yên, Đại Từ, thắp hương mộ LS Đỗ Khắc Tiến

Tổng hợp

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm trường NVT Tại Mỹ Yên Đại Từ, các đại biểu tham dự (đại diện Thầy Cô giáo, CNBCNV, học sinh các Khóa trường VHQĐ - TSQ Nguyễn Văn Trỗi - Lãnh đạo, đại diện các đoàn thể xã Mỹ Yên, thầy Đại Thành, gia đình Liệt Sỹ Đỗ Khắc Tiến...) đã viếng thăm Nghĩa trang liệt sĩ xã, thắp hương cho các liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp (còn nhiều mộ chưa có tên), chống Mỹ, trong đó có liệt sĩ Đỗ Khắc Tiến - học sinh k6 trường ta.

Ảnh Ngô Thế Vinh, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Cương, Kiến Quốc, Võ Song Yên, Nguyễn Anh Minh, Nguyễn Thắng Lương (Ngọc),...
















Các bạn k6 trước mộ Đỗ Khắc Tiến k6







Thứ Sáu, ngày 11 tháng 11 năm 2016

BAN TÔI: VÕ NGUYÊN TRỌNG & NGUYỄN TIẾN QUÂN LÀ NHỮNG ANH HÙNG




BAN TÔI: VÕ NGUYÊN TRỌNG & NGUYỄN TIẾN QUÂN
LÀ NHỮNG ANH HÙNG




Các bạn K6 TSQ-NVT hẳn không ai quên được hai bạn TrọngQuân. Cùng trang lứa xong ở TrọngQuân có sự điềm đạm và tính cách thủ lĩnh. Hai bạn đều là lớp trưởng trong suốt thời kỳ học tại trường. Trọng là lớp trưởng lớp tôi thời kỳ ở Đại Từ & Quế Lâm. Hẳn không ai quên các buổi sáng sớm tập thể dục, cả đại đội theo khẩu lệnh của Quân. Tiếng hô dõng dạc sang sảng và dứt khoát. Ngày về Hưng Hoá tôi không ở cùng trung đội với Trọng nữa mà chuyển sang trung đội với Đỗ Dũng, Chỉnh thọt, Quân gà, Trịnh khẹc... Thiên hạ trước nay vẫn hiểu sai về TSQ - NVT. Đó là những thanh niên sống ngang tàng, tự trọng và cũng đầy bản lĩnh, cả đại đội hầu như ai cũng đọc Ruồi Trâu, Thép đã tôi thế đấy, con người lý tưởng của họ là Rivares, Pavencocsaghin. Những người như vậy làm sao có thể hư hỏng được.

Sau khi nhà trường giải tán chuyển về địa phương học nốt lớp 10 (năm 1970). Trọng về Thanh Hoá học nơi bố Trọng công tác. Cụ là bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá. Thi đại học xong không đợi kết quả Trọng nằng nặc xin đi bộ đội. Vượt dãy Trường Sơn Trọng đã có mặt tại chiến trường Tây nam bộ. Trong đội hình của lính miền Tây không ai biết rằng có 1 chiến sỹ là con của 1 vị lãnh đạo. Trọng ngã xuống trong 1 trận đánh, hy sinh trong tư thế ngẩng cao đầu. Một người bạn 1 anh hùng của K6 đã sống như vậy đấy. Mãi gần đây gia đình mới tìm được di cốt của Trọng.

Quân học xong lớp 10 rồi theo học trường sỹ quan pháo binh. Quân xông pha trận mạc biên giới Tây Nam rồi biên giới phía Bắc. Giữa năm 79 khi là Thượng uý tiểu đoàn trưởng pháo binh Quân đã hy sinh trên 1 chốt tại mặt trận Lạng Sơn. Giống như Trọng, cả hai đã hy sinh vì nền độc lập của TQ. Lưu ý Quân là con trai của vị tướng Trường Sơn huyền thoại: bác Đồng Sỹ Nguyên.

Viết những dòng này để tri ân 2 bạn, với K6 các bạn là những anh hùng, những thanh niên ưu tú của thời đại. Chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh của các bạn.

Nhân đây cũng nhắn nhủ thế hệ được gọi là CS hiện nay. Các vị hãy tự soi mình và cảm thấy nhục nhã khi làm những chuyện bất lương, hèn đớn: tham nhũng, nhượng bộ TQ, bố mẹ bổ nhiệm con vào những chức vị béo bở. Chẳng lẽ thế hệ những người CS ưu tú cả đời vì nước vì dân đã hết rồi sao. Nếu vậy thử hỏi đất nước này sẽ đi về đâu???.

Nguồn: FB Duy Sơn Vũ - 25 Tháng 9 · 2016 lúc 3:44 ·



Chủ Nhật, ngày 11 tháng 9 năm 2016

Về quê Anh Trỗi


Lần đầu tiên khóa 8 tổ chức gặp mặt toàn khóa (cả 3 miền) tại Đà Nẵng từ ngày 16 - 18/8/2016 nhân dịp kỷ niệm 49 năm ngày gia nhập trường VHQĐ TSQ Nguyễn Văn Trỗi.

Một việc làm có ý nghĩa là toàn khoá đã về thăm quê Anh Trỗi & dâng hương hoa tại Nhà Tưởng Niệm (làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam).





Chủ Nhật, ngày 28 tháng 8 năm 2016

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 8 năm 2016

Giỗ Huỳnh Kim Trung (20/8/1972 - 20/8/2016)!


Bài viết sau ngày giỗ thứ 44 của bạn Huỳnh Kim Trung cùng với những tư liệu quý được tận mắt trông thấy

Tuổi 20 của Anh hùng liệt sĩ
Huỳnh Kim Trung




QĐND - Ngày 20-8-1972, máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống bến phà. Huỳnh Kim Trung cùng đồng đội lao vào cứu kho đạn. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, anh bị thương nặng. Được cấp cứu nhưng máu ra nhiều, biết không thể sống được, Huỳnh Kim Trung đã nói với đồng đội: “Cứ để mình nằm đây, đi cứu chữa cho những người khác nhẹ hơn…”, rồi anh tắt thở. Huỳnh Kim Trung hy sinh khi tuổi vừa 20, đúng hai tuần sau khi viết những dòng nhật ký cuối cùng.




Di ảnh Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung



Ngày 5-8-1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học ở Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Là con em cán bộ thuộc cơ quan Bộ Quốc phòng đang ra mặt trận, bọn trẻ tuổi 14-15 chúng tôi được tập trung sơ tán lên doanh trại Trường Văn hóa Bộ Tổng tư lệnh đóng ở Trại Hòe, Hiệp Hòa, Bắc Giang. Huỳnh Kim Trung nhập học khóa 5 từ tháng 5-1965. Ngày 15-10 năm ấy, tròn một năm sau ngày anh Trỗi hy sinh, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Văn hóa Quân đội mang tên anh, đào tạo học sinh từ lớp 5 đến lớp 10, theo mô hình trường Thiếu sinh quân, để chuẩn bị lớp kế cận sau chiến tranh. Là con em miền Nam tập kết, Huỳnh Kim Trung đau đáu nhớ về quê hương, ước mong học xong được trở về miền Nam chiến đấu. Trung chăm chỉ học hành, sống giản dị, kiệm lời và rất quý trọng bạn bè. Trung còn khéo tay, hay vẽ và tham gia làm báo tường đại đội. Tốt nghiệp chương trình phổ thông hè 1970, hầu hết chúng tôi nhập ngũ, vào học Trường Đại học Kỹ thuật quân sự hoặc quân y, riêng Huỳnh Kim Trung có tiêu chuẩn đi học nước ngoài, nhưng anh xin ba mẹ cho ở lại trong nước học tập và thi vào Trường Trung cấp Công an ở Suối Hai, Ba Vì, Hà Nội.

Năm 1972, tình hình chiến trường miền Nam ác liệt hơn. Ngoài miền Bắc, sau khi thực hiện “tạm ngưng bắn phá có hạn chế”, giặc Mỹ lại điên cuồng đánh phá từ Vĩ tuyến 17 trở ra. Tháng 4-1972, Huỳnh Kim Trung tình nguyện cùng các học viên vào thực tập tại Quảng Bình. Vùng “cán soong” này trở thành tọa độ lửa, ngày đêm hứng bom đạn Mỹ. Tại phà sông Gianh, Trung nhận nhiệm vụ của chiến sĩ cảnh sát giao thông, điều động những chuyến phà chở bộ đội, vũ khí vào Nam.


Trang bìa cuốn nhật ký của Anh hùng liệt sĩ Huỳnh Kim Trung


Chiến tranh, việc liên lạc bằng thư từ rất khó khăn. Mãi sau khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi mới được đọc những trang nhật ký của bạn. Những dòng chữ giản dị được viết trong cuốn nhật ký mà ngoài bìa có hai khổ thơ do chính anh viết:
Ơi tuổi trẻ say sưa lý tưởng
Dấn thân vào đường tranh đấu tiền phong
Lấy khổ ải làm một nguồn vui sướng
Vấp ngã, sợ gì, rèn luyện bước thành công!
Và:
Chưa thất bại chưa phải người từng trải
Chưa đau thương chưa phải bước vào đời
Nếu lòng ta cứ sợ mưa sa
Thì nắng đẹp mùa xuân đâu sẽ thấy.

26-6-1972

Như vậy lại sắp hết 3 tháng thực tập tại Quảng Bình. Đáng lẽ hôm nay mình và các bạn chuẩn bị đồ đạc, tổng kết để trở về Thủ đô yêu dấu. Đùng một cái, có lệnh ở lại công tác thêm một thời gian nữa. Thầy Chi, phụ trách tụi mình, đã có giấy gọi về trường. Đêm hôm chia tay thật là bùi ngùi, lưu luyến. Kể ra thì có buồn thật, nhớ nhà và bà con cô bác, nhớ H., nhớ Hà Nội… bao nhiêu tình cảm vui buồn lẫn lộn… Thế nhưng biết làm thế nào được, đây là nhiệm vụ của cách mạng, của Đảng giao, ta phải phục tùng và làm trọn. Nghĩ đi nghĩ lại thấy mình còn thua xa những chiến sĩ vô Nam đã hàng chục năm nay, hoặc nhiều đồng chí công tác trong này từ 1966…

Biết đến bao giờ mình mới được ghé thăm nhà, dù chỉ một lần thôi, rồi đi bất cứ đâu cũng được; vì hôm vô đây đâu có kịp ghé qua nhà!

Như vậy, bắt đầu từ nay, mình đã thực sự bước vô đời! Một cuộc sống mới đang mở ra trước mắt mình với đầy gian nan, vất vả, nhưng đầy vinh quang.

30-6-1972

Mấy ngày nay địch đánh ngày càng căng, do chiến trường ta đang thắng lớn, địch như con thú dữ cùng đường đâm cắn càn. B-52 của chúng ngày nào cũng rải thảm. Đã 10 ngày nay rồi, đất Quảng Bình luôn hứng bom B-52. Có lần, mình cùng anh Vân đi đào hầm ở nhà anh ấy. B-52 rải thảm cách đấy có 1km. Bom nổ xé trời, đất rung chuyển như muốn sập xuống, như muốn tung lên tất cả. Nghe nó rền rĩ, ầm ào như bão tố; thế mà hai anh em cứ nhìn nhau cười (vì hầm mới đào tới ngang đầu gối). Nguy hiểm thật!

Suốt 15 ngày qua, đêm nào cũng mất ngủ, thật vất vả. Ngày dỡ nhà cũ, dựng nhà mới ở chỗ khác, rồi đào hầm, đắp hầm… đêm lại trực. Một ngày ngủ nhiều nhất có 2-3 tiếng. Người đen thui, hốc hác, hai hố mắt trũng sâu. Thế nhưng vẫn ca hát, vui cười. Giờ được đi nghe ca nhạc thì vui biết mấy, hoặc có cây ghi-ta cũng được. Kỷ niệm về những đêm ca nhạc hay chiếu phim ở Hà Nội mãi sống trong lòng tôi.

Hà Nội yêu dấu của tôi đang chiến thắng giặc. Hà Nội, quê hương thứ hai của tôi ơi! Sẽ có ngày tôi trở về với chiến công chói lọi từ tuyến lửa anh hùng.

8-7-1972

Trưa nay nằm trong hầm, tôi giở sổ tay viết vội vài dòng cho khuây khỏa. Suốt 2 tháng trời không được tin nhà, khiến lòng tôi xao xuyến lo âu. Về cá nhân, tôi không lo cho tính mạng của mình, mà lo cho ba má già và bà chị đau ốm với đứa cháu nhỏ ngây thơ, lo cho những người thân của tôi. Không có đài nên tin tức chiến sự cũng mù tịt, chẳng biết gì cả. Buồn thật!

B-52 với chúng tôi bây giờ như cơm bữa. Hôm nay lại vừa hoàn thành một cái nhà và một hầm lớn.

Các o ở đây cứ gặp mình lại trêu chọc (thật khổ cho chàng trai chưa vợ này!). Cũng nhiều lúc họ muốn ngỏ tình chi đây? Thế nhưng, mình cũng ít nói chuyện, mà chỉ cười trừ. Bởi vì phải đợi chờ một hy vọng to lớn, cao đẹp hơn, đó là thống nhất đất nước. Lúc đó mới có thời gian lo nghĩ tới “chuyện kia”. Quê hương sẽ dang tay đón tôi trở về.

6-8-1972

Hôm nay, cùng một lúc nhận được 3 bức thư: Của gia đình, của Mạnh Chiến và Trường (những thằng bạn chí thân). Thật khó mà nói hết nỗi vui mừng của mình. Xem thư ba, thấy gia đình vẫn mạnh khỏe và đi sơ tán. Đó là điều ta lo lắng bấy lâu. Chu Kim Sơn đã lớn khôn và ở với bà ngoại. Đứa cháu giờ lên 2, bé bỏng xinh xinh, chắc giờ này chẳng nhận ra cậu của nó nữa. Cậu đã già và có râu như ông ngoại rồi (!). Mới vô Quảng Bình có 4 tháng mà mình đã già đi nhiều. Nhiều lúc nghĩ mà giật mình!

Tội nghiệp con cháu, mới sinh ra đã phải đi sơ tán, đến lúc chập chững biết đi lại phải nếm mùi bom đạn. Biết bao cháu bé trên đất nước này phải chịu bao cảnh tang tóc, mồ côi do chiến tranh gây nên. Không hiểu những bà mẹ có lương tri trên Trái Đất sẽ nghĩ gì về những cháu bé Việt Nam, những cháu bé vô tội, ngày chỉ biết bú no, ngủ ngon đã phải chịu đau thương, tang tóc như người lớn.

Má ơi, con thương má quá! Đáng ra tuổi già như má là tuổi an nhàn, nghỉ ngơi và có những đứa con lớn phụng sự. Thế nhưng vì Tổ quốc kêu gọi, nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà tan, vì vậy chúng con phải tạm thời xa ba má, anh chị và bà con, xa những mái nhà thân yêu, để lên đường đi khắp mọi miền đất nước, giết sạch những con thú mang hình người kia, để cứu lấy những bà mẹ già, những cháu bé vô tội.

Chúng con sẽ thực hiện lời Bác: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”. Quét sạch giặc rồi, lúc đó con sẽ về phụng sự mẹ già, như trăm ngàn đứa con hiếu thảo khác.

Huỳnh Kim Trung đã làm đúng lời hứa với Bác. Giở hồ sơ lưu lại của Phòng Thi đua (Bộ Công an) có ghi:
Ngày 16-4-1972, trong khi máy bay Mỹ đánh phá, anh tham gia giải phóng đoàn xe từ phía Nam ra bị tắc. Ngày 29-4-1972, lại dũng cảm dập lửa trên chiếc xe chở đạn bị máy bay địch bắn cháy, đưa lái xe bị thương đi cấp cứu. Sau đó lại cõng một công nhân bến phà đi cứu thương.
Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một cảnh sát, ngày 12-6-1972, Huỳnh Kim Trung vào làng vận động bà con ra cứu xe hàng của Đoàn 559, đang trên phà bị máy bay Mỹ bắn. Ngay chiều đó, anh lại cùng đồng đội đi cứu một số đồng chí đi dò thủy lôi bị nổ.

Ngày 20-8-1972, máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống bến phà. Anh cùng đồng đội và bà con lao vào cứu kho đạn. Vác đến hòm đạn thứ 50 thì đạn nổ, anh bị thương nặng. Máu ra nhiều, được cấp cứu, biết không thể sống được, Huỳnh Kim Trung đã nói với đồng đội: “Cứ để mình nằm đây, đi cứu chữa cho những người khác nhẹ hơn…”, rồi anh tắt thở. Huỳnh Kim Trung hy sinh khi tuổi vừa 20, đúng hai tuần sau khi viết những dòng nhật ký cuối cùng. Trạm Công an Giao thông phà sông Gianh, Ủy ban Hành chính và Xã đội Quảng Thuận (Quảng Bình) cùng Bộ Công an đã đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân, truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngày 31-12-1973, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Huỳnh Kim Trung.

TRẦN KIẾN QUỐC

Nguồn:
Bài đã đăng trên Sự kiện & Nhân chứng (QĐND) 13 tháng 9/2016






Bạn đi đã 44 năm rồi!
Gia đình chọn ngày này làm ngày giỗ (20/8/1972 - 20/8/2016)!
Tran Kienquoc


Với anh em QK 1A Hoàng Văn Thụ, bạn của Hùynh Kim Trung


Ảnh Thang Nguyentoan






Tấn Mỹ‎ > BẠN NVT 21 Tháng 8

TRƯỜNG TA CÓ CÂY ĐA


Làng ta học có cây đa
Nhìn xa xa cây cao ngất từng mây
Cây cao to rộng lá
Trông thật đẹp và oai nghiêm
cây như biểu tượng của trường
Trường ta là trường thiếu sinh quân
trú quân xă an Mỷ đại từ thái nguyên
Thời đánh Mỹ chuyễn về đây
Dưới bóng đa to là đoàn quân nho nhỏ
Đó là các chiến sĩ thiếu sinh quân
Sinh ra từ khói lửa
có đủ mọi lứa tuổi học sinh
Trong chiến tranh rèn đúc họ thành người
Từ kỷ sư đến bác sĩ
Đi khắp các chiến trường
Nội đây cũng sinh ra anh hùng và dũng sĩ
Đã diệt Mỹ ở chiến trường xa
Và cũng có nhiều liệt sỹ
hy sinh cho tổ quốc nầy
Đây là trường thiếu sinh Quân
Vừa là học trò vừa là chiến sĩ
Đi là mang chiến thắng cho trường
Đây là trường thiếu sinh Quân
mang tên anh hùng liệt sĩ nguyễn văn Trỗi


-- Nhân ngày giổ liệt sĩ Anh hùng Huỳnh kim Trung, LÍNH TRỖI có bài thơ tặng Anh -- 18h- 20/8/2016






15/08/2015
HÔM NAY ĐẠI DIỆN K5 PHÍA NAM THAY MẶT CÁC BAN K5 ĐẾN VIẾNG BẠN K5 LÀ LSAHLLVT HUỲNH KIM TRUNG TẠI NGHĨA TRANG LIỆT SỸ TIỀN GIANG .
Chùm ảnh để báo cáo các bạn NVT
Đặc biệt có 1 cây hoa mọc tại mộ của bạn, và ở đây chúng tôi thắp nhang cho LS Trừ Văn Thố , LS NT Hồng Gấm và các ngôi mộ khác

Can Nguyenphuc 15 Tháng 8 2015

CHUYỆN TẠI NGHĨA TRANG LS TIỀN GIANG
Trước mộ Huỳnh Kim Trung


Hôm nay đến viếng anh
Bạn cùng thời ớ Trỗi
Và đi nên cạnh tôi
Cùng bạn bè anh đấy
Đến bên mộ của Trung
Thấy nhành hoa nho nhỏ
Lẻ loi bên mộ Trung
Ngay cạnh chỗ anh nằm
Hỏi thăm hoa mới biết
Chuyện sao giống liêu trai:
Hoa thấy anh nằm đấy
Mãi mãi tuổi đôi mươi
Nên hoa kia len lén
Đến làm bạn anh Trung
Mặc mưa hay nắng lửa
Mặc năm tháng đổi màu
Vẫn dịu dàng e ấp
Hoa vẫn tím thủy chung
...
Vẫn tím màu thủy chung.


PC 15/8/1015
Cùng các bạn K5 và Loan, Lan






Ảnh Can Nguyenphuc, Hưng Phùng‎, Nguyễn Long