Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Kỷ niệm với Thọ Tuyến

Kỷ niệm với Thọ Tuyến




Tôi đã xúc động khi một người bạn xa Tổ quốc vẫn nhớ đến ngày 27/7, nhớ về một kỷ niệm nghịch ngợm, nhớ về một người bạn từ tuổi ấu thơ là một liệt sỹ của khóa 8, đó chính là Phạm Võ Hùng (B5-K8) từ nước Đức xa xôi đã gửi về blog ÚT TRỖI một kỷ niệm về người bạn Bùi Thọ Tuyến. Sau đây tôi đăng nguyên văn kỷ niệm của Phạm Võ Hùng về Bùi Thọ Tuyến.



Hôm qua là ngày 27-7, lên k8 chơi liền gặp Thọ Tuyến. Ảnh Bạn trang trọng đứng cùng các ANH HÙNG LIỆT SỸ khác làm tôi rất cảm động và nhớ tới Bạn rất nhiều. Ảnh tuy mờ nhưng vẫn rõ là thằng bạn năm xưa. Ở B5 hồi đó, Tuyến "hếu" (có lẽ vì da nó trắng quá) là thằng bạn có sức khỏe, gan lỳ và cũng nghịch nghợm ra phết - chủ yếu nó là thằng bạn tốt. Với Tuyến tôi có một kỷ niệm không thể nào quên về chuyện nghịch nghợm thời thơ ấu.

Hồi ở Trung Hà một hôm tôi và Tuyến ngồi chơi ở bờ ao sau bếp, ngắm đàn vịt lượn lờ nó chợt bảo: Tối nay mình kiếm ít trứng vịt đi? Tôi tán thành và chúng tôi cùng bàn tính. Khó nhất là làm sao dậy được nửa đêm vì thằng nào ngủ cũng say. Sau hồi suy nghĩ tôi bảo: để tao gọi. Tối đó trước khi đi ngủ tôi làm một bụng nước căng và y như đã dự kiến tôi dậy trước và sang lay cu cậu: đi thôi, nó dậy ngay và đã tỉnh như sáo. Hai thằng mang theo cái đèn pin bọc trong túi vải (chỉ cho ra tý ánh sáng) và cái mũ rách rồi lầm lũi xuyên qua sân bóng ra chuồng vịt cạnh bờ ao.

Đến nơi, tôi ngồi ngoài "cảnh giới" (tôi chúa sợ bọn gà vịt), còn Tuyến cầm đèn và mũ chui vào chuồng vịt. Sau một hồi lọ mọ chợt có tiếng ngỗng kêu oang oác, liền thấy cu cậu chui ra tay ôm chiếc mũ đựng trứng: tiếc quá tao mới nhặt được có một ít, chỉ tại mấy con ngỗng chết tiệt. Chúng tôi giấu kỹ trứng vào bụi rậm, ra giếng rửa chân tay rồi về ngủ tiếp. Ngày hôm sau chúng tôi vẫn tỉnh bơ, đến chiều tối sau bữa cơm chúng tôi mới lấy trứng ra (hơn chục) cho vào cái chậu nhỏ cùng ít nước rồi đẩy vào cái lò bánh mỳ tuy đã ủ than nhưng vẫn còn nóng chán. Tuy có vài quả bị nổ nhưng hôm đó chúng tôi được bữa no nê (không nhớ còn thêm thằng nào được tham dự bữa đó không ?) Mấy hôm sau ngồi ở bờ ao Tuyến còn bảo: sao tao ghét mấy thằng ngỗng thế! Cú "đánh lẻ" đó có lẽ đến giờ vẫn không ai biết.

Chuyện chỉ có vậy, tuy chỉ là trò nghịch hồi xưa nhưng nó lại gắn với thằng bạn đã thay mặt anh em mình hy sinh anh dũng vì Tổ quốc.
Tuyến ơi, tao là Võ "sái" đây, chúng tao vẫn nhớ mày lắm.

Leipzig, 28/7/2007


Blog "Út Trỗi" 30/7/2007

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Con trai vị Thủ Tướng và sự bướng bỉnh


Liệt sĩ Võ Dũng
Võ Dũng, sẽ trở thành một một học sinh hạnh kiểm cực tốt nếu biết dạ vâng, khép nép cúi đầu làm theo những cô, bác anh chị trông coi mình. Và dù Võ Dũng không ngoan như vậy, ông Võ Văn Kiệt vẫn có thừa quyền lực và mối quan hệ đề đưa con sang Liên Xô, Đông Đức, hayTiệp để thanh nhàn, thậm chí chỉ ăn chơi, vui thú ‘xứ người’ mà vẫn có một tấm bằng đỏ đại học sau này ấm thân. Nhưng Võ Dũng đã sống với bản chất, nghị lực của mình, không thớ lợ, không dựa dẫm, và ông Võ Văn Kiệt sẵn sàng chấp “tính bướng bình” đáng khâm phục ấy của con mình. Hình như tính cách ấy, phẩm chất ngày xưa cũng không nhiều, bây giờ thì...không có.




ĐỨA CON BƯỚNG BỈNH

MINH DIỆN


Hôm ấy ông Võ Văn Kiệt chủ trỉ cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Khu IX, bàn biện pháp phối hợp giành lại thế chủ động trên chiến trường miền Tây Nam bộ. Giờ giải lao, ông đang đứng nói chuyện vui với chính ủy mặt trận, thì bác sỹ Huỳnh Hoài Nam đến bên cạnh, nói nhỏ với ông:
- Anh Sáu ơi! Đơn vị báo thằng Dũng hy sinh rồi anh!
Không nghe rõ, ông Sáu Dân kéo tay bác sỹ Huỳnh Hoài Nam hỏi:
- Mầy nói gì vậy?
Giọng bác sỹ Huỳnh Hoài Nam nghẹn lại:
- Dũng hy sinh rồi anh ơi!
Ông Sáu Dân bỗng thấy choáng váng, suýt ngã. Bác sỹ Huỳnh Hoài Nam vòng tay đỡ, ông Sáu gượng đứng thẳng dậy, và ông nói:
- Không sao đâu!
Chính ủy mặt trận và những người có mặt chết lặng khi nghe tin Võ Dũng , con trai Bí thư Khu ủy Võ Văn Kiệt hy sinh hai ngày trước, 29-4-1972, khi đang bò vào hàng rào dây kẽm gai trinh sát một chốt địch ở Sóc Trăng, mấy chị phụ nữ bật khóc. Ông Võ Văn Kiệt vẫy tay bảo mọi người vào họp tiếp. Khuôn mặt hốc hác đen sạm của ông vẫn tỏ ra cương nghị.
Tan cuộc họp, ông lầm lũi về chiếc chòi riêng, đứng một mình, đăm đắm nhìn những cánh rừng tràm, đước mênh mông. Ông đứng như thế, không nhúc nhích đến khi màn đêm buông xuống.
Ông Võ Văn Kiệt lấy vợ năm 1949. Ông không lấy đảng viên theo sắp xếp của tổ chức, mả vì tình cảm chân thành giữa hai người, dù tuổi tác và hoàn cảnh chênh lệch. Năm ấy ông 27 tuổi, là Thường vụ Tỉnh ủy ,vợ ông 17 tuổi, con thứ sáu một gia đình từng là địa chủ có 300 mẫu ruộng và một nhà máy xay lúa.
Năm 1950, bà Kim Anh có thai đứa con đầu lòng được bốn tháng thì ông Kiệt lên đường ra chiến khu Việt Bắc. Hơn hai năm sau ông trở về, đứa con trai đã lẫm chẫm biết đi. Bà Kim Anh tủi thân kéo con vào lòng ôm mặt khóc.
Ông Võ Văn Kiệt đặt tên con là Phan Văn Dũng, lấy họ mẹ làm tên thường gọi là Võ Dũng. Ở với vợ con được năm ngày, ông lại ra đi trong đêm khuya , khi Võ Dũng đang ngủ say .
Năm 1954, các ông Lê Duẩn, Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) và nhiều cán bộ lãnh đạo khác không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam làm nhiệm vụ, bị chính quyền Ngô Đình Diệm truy quét gắt gao, phải lánh sang Campuchia, đóng vai thương nhân ở thủ đô Phnom Pênh. Năm 1955, ông Võ Văn Kiệt đón vợ và hai con - Hiếu, Dân sinh 1953- qua bên đó. Đó là lần đầu tiên, cũng là duy nhất, gia đình ông được đoàn tụ.
Nhưng trên đất khách quê người, và với một nhà hoạt động chính trị bí mật, cuộc sum họp của gia đình ông bấp bênh đầy căng thẳng hồi hộp, và cũng chỉ được ngắn ngủi ít ngày rồi lại chia ly. Theo quyết định của trên, ông Võ Văn Kiệt gửi cậu con trai Võ Dũng ra miền Bắc, đưa vợ và cô con gái về quê ngoại , còn mình về Sài Gòn làm Bí thư Thành ủy.
Võ Dũng năm ấy mười tuổi bé loắt choắt, nhưng nhanh nhẹn, khuôn mặt và dáng đi giống hệt ông Võ Văn Kiệt. Sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước Nam bộ phóng khoáng, không được gần ba, nên còn nhỏ Võ Dũng đã có tính tự lập vẻ tỏ ra hào hiệp. Võ Dũng tự gói quần áo, đồ dùng vào bồng, tự rút từng chiếc quai dép cho vừa chân, và chia cho mấy người bạn cùng đi từ cục xà bông đến bịch ruốc bông má mua cho mình.
Trước lúc tiễn con trai ra Bắc, tiễn con gái và vợ quay về quê, ông Võ Văn Kiệt muốn chụp một tấm hình kỷ niệm. Ông đưa vợ con đến một hiệu ảnh ở đường Monivong , thủ đô Phnom Pênh. Người thợ ảnh chuẩn bị bấm máy, thì ông xin lỗi tách ra , không chụp chung với vợ con nữa. Cuộc chiến đấu một mất một còn đang tiếp diễn , chính quyền Ngô Đình Diệm đang truy lùng mình ráo riết, hậu quả sẽ ra sao ? Ý nghĩ ấy chợt đến khiến ông Võ Văn Kiệt bỏ lỡ cơ hội duy nhất có một tấm hình kỷ niệm với vợ con, để rồi sau này, ông mang trong lòng niềm ân hận, nuối tiếc.
Mẹ con bà Kim Anh trở về Rạch Gíá ở vơi ông bà ngoại, biền biệt mấy năm không được tin chồng. Nhớ ngày ở Campuchia có quen các ông Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm, bà Kim Anh mang con lên Sài gòn vừa kiếm kế sanh nhai vừa dò la tin chồng.
Dù là một địa chủ nhưng ruộng đất đã hiến cho cách mạng gần hết, nhà máy xay thì phá hủy theo tinh thần tiêu thổ kháng chiến , nên gia đình bà Kim Anh đã khánh kiệt. Bà lên Sài Gón với chút vốn liếng chỉ đủ góp cùng người anh trai mua một căn nhà nhỏ vách ván, lợp lá dừa nước , bên ao rau muống trong con hẻm Đội Có đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Hàng ngày bà xay bột làm bành tai yến mang ra chợ Tân Định bán kiềm tiền nuôi con.
Bấy giờ ông Kiệt ở căn cứ Hố Bò, Củ Chi. Chỉ một quãng đường mà vợ chồng như cách xa vời vợi muôn trùng. Mãi đến năm 1961, ông mới móc nối được vợ con, và bà Kim Anh cùng Hiếu Dân được giao liên đưa lên Hố Bò.
Năm 1962, bà Kim Anh sinh con gái thứ ba,đặt tên là Ánh Hồng. Cô bé xinh xắn vừa lẫm chẫm biết đi thì phải quay về thành, vì Củ Chi liên tiếp bị càn quét quá ác liệt. Về thành một thời gian, còn cảm thấy nguy hiểm hơn, mẹ con bà Kim Anh lại bồng bế nhau lên cứ.
Năm 1965, Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, cuộc chiến tranh ác liệt hơn. Ông Võ Văn Kiệt quyết định gửi tiếp cô con gái Hiếu Dân ra Bắc. Bà Kim Anh tiễn con ra trạm giao liên, trên đường về ghé vào bệnh viện khám , biết mình đã có thai đứa con thứ tư.
Bà Kim Anh nhớ ba lần sanh nở đều vắng chồng , vừa cực, vừa tủi, có lần phải đẻ nhờ trong nhà ông thợ may bên bở kinh, cắt nhau cho con bằng kéo cắt vải. Bây giờ đang có bầu, lại về quê , cảnh nhà như thế biết nhờ ai ? Suy nghĩ kỹ, bà Kim Anh quyết định giữ Hiếu Dân lại không cho ra Bắc nữa. Năm ấy Hiếu Dân đã mười tuổi, là một cô bé nhanh nhẹn đảm đang . Bà Kim Anh lật đật quay lại trạm giao liên, nhưng Hiếu Dân đã lên đường mất rồi. Bà đành lặng lẽ rời Hố Bò, bồng đứa con ba tuổi quay về Rạch Gíá nương nhờ cha mẹ. Cuối năm ấy Chí Tâm ra đời, cũng một mình bà xoay trở như ba đứa trước.
Ông Võ Văn Kiệt được tin nhắn về, bảo vợ con vào cứ. Gia đình khuyên bà Kim Anh không nên đi vì cháu Chí Tâm còn quá nhỏ, nhưng bà nóng lòng gặp chồng nên không ai cản nồi.
Cơ quan cử bà Ba Kiếm, một cán bộ giao liên về đón mẹ con bà Kim Anh.
Rời Rạch Gía sáng sớm ngày rằm tháng Chạp , chỉ còn nửa tháng nữa là tết Bính Ngọ,1966. Lòng vòng cắt đuôi đeo bám của mật vụ, mật thám, đến sáng 17 tháng Chạp xuống con tàu Thuận Phong ở Bến Cát , xuôi sông Sài Gòn về Củ Chi.
Cách vài cây số là tới Bến Dược. Bỗng một tốp máy bay trực thăng của Mỹ bay tới quần đảo, rồi bắn Rocket vào con tàu đang chở mấy trăm khách, trong đó có cả người Việt cộng lẫn Quốc gia, nhiều nhất là thường dân. Chiếc tàu bốc cháy , đắm giữa dòng sông Sài Gòn chảy xiết. Hơn hai trăm người thiệt mạng trong đó có bà Kim Anh, vợ ông Võ Văn Kiệt và hai đứa con ông, Ánh Hồng lên ba, Chí Tâm chưa đầy ba tháng tuổi.
Hai ngày sau, đang ở Nhà Bè, ông Võ Văn Kiệt mới biết tin vợ con mình chết, không tìm được xác. Ông đứng lặng trong nhà một cơ sở bí mật. Từ đó ông luôn giữ bên mình tấm hình vợ con và bộ quần áo bà ba lụa , bà Kim Anh may gửi lên cho ông trước khi mất không lâu.
Hai anh em Võ Dũng, Hiếu Dân nhận được tin má và hai em chết cách đó mấy tháng. Hiếu Dân khóc, còn Võ Dũng, y hệt như tính cách ông Võ Văn Kiệt , cắn môi chảy máu mà không khóc.

Năm ấy Võ Dũng 16 tuổi, đang học lớp 6 phổ thông, học khá nhưng điểm trung bình về hạnh kiểm.
Từ ngày ra Bắc , Võ Dũng sống chung trong gia đình bà Bảy Huệ , vợ ông Nguyễn Văn Linh. Hiếu Dân ra cũng ở đó với anh trai.
Lúc còn bé Võ Dũng đã có tính tự lập,và cương trực , thằng thắn, mang đậm khí chất dân Nam bộ. Phải xa ba má , sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, hoàn toàn khác với môi trường mình sinh ra , có khi phải chịu cảnh bất công , Dũng phản kháng như bản năng. Dũng không thể nín nhịn khi con người ta sai lại đổ lỗi cho mình. Dũng không thích bị sai khiến, không khép nép để được người lớn khen ngoan. Ngược lại Dũng thích sòng phẳng , thích bao bọc bạn bè và bênh vực những người yếu thế. Ai nói oan cho mình và bạn mình Dũng cãi lại liền bất kể người đó là ai. Đứa nào bắt nạt em gái hay bạn bè Dũng tẩn lại liền ,dù bản thân bị toét đầu đổ máu và bị ghi hạnh kiểm xấu .
Có lần Hồ Chủ tịch cho các cháu miền Nam vào phủ chủ tịch chơi, lúc chia kẹo, ông hỏi các cháu có ngoan không? Tất cả trả lời “ Thưa Bác Ngoan ạ!” Riêng Võ Dũng thẳng thắn trả lời “ Cháu không ngoan!” Trở về người phụ trách hỏi tại sao em trả lời như vậy? Dũng trả lời “ Em không thích nói dối!”
Từ khi nghe tin mẹ và em mất, Võ Dũng càng cô đơn, càng buồn hơn, và Dũng thường tỏ ra bức xúc trước lối sống ích kỷ của một số người chung quanh. Và thế là những nhận xét thiếu vô tư, nhiều ác cảm từ miệng người nọ người kia, biến Võ Dũng thành một thanh niên hư hỏng, đến nỗi người bạn gái nói lời từ biệt Dũng. Buồn chán và thất vong, Dũng đã lấy phẩm xanh viết lên cánh tay mình : “Tôi là đứa con bất hạnh!”
Những tin không vui về Võ Dũng đến tai ông Võ Văn Kiệt. Ông viết thư cho con trai: “Từ khi má con mất ba buồn lắm. Ba lại nghe các chú nói con hư, ba càng buồn. Thôi con hãy về đây với ba, để ba dìu dắt con trưởng thành, để con sưởi ấm lòng ba!”.
Nhân được thư ba, Võ Dũng bỏ học dở dang lớp 9, vào bộ đội, và lên thẳng Hòa Bình huấn luyện đi B. Hết khóa huấn luyện, một cán bộ trong Ủy ban Thống nhất Trung ương lúc đó, lên đơn vị nói với Võ Dũng:
- Các chú bố trí cho cháu đi máy bay sang Phnom Pênh, từ đó sẽ có giao liên đón cháu về chỗ ba cháu!
Dũng hỏi:
- Thế mọi người trong đơn vị đi bằng phương tiện gì?
- Đơn vị hành quân bộ vượt Trường Sơn ba, bốn tháng mới tới, sốt rét, bom đan gian khổ lắm.
Dũng nói:
- Các chú các bác là cán bộ phài đi bộ, cháu là lính binh nhì lại đi máy bay? Đã vào Namchiến đấu thì phải vượt Trường Sơn như mọi người, cháu không thích được ưu tiên như vậy.
Võ Dũng kiên quyết từ chối đi bằng máy bay, hòa mình vào cùng với các chiến sỹ khác trong đơn vị, Chi đội một, đi B2 bằng đường bộ. Dũng kết bạn thân với nhà thơ Thanh Quế , chia ngọt sẻ bùi với nhau trên đường hành quân. Anh Thanh Quế kể rằng, suốt chặng đường Trường Sơn, hai người luôn gắn bó bên nhau, nhưng Dũng không hề nói cho Thanh Quế biết ba mình đang làm cán bộ lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Khi Thanh Quế rẽ vào Khu V, Võ Dũng moi ba lô lấy tút thuốc Tam Đảo bao bạc để dành tặng Thanh Quế và hẹn gặp lại nhau ngày chiến thắng .



Võ Dũng vào cơ quan Trung ương cục gặp ông Võ Văn Kiệt một buổi chiều hanh hao cuối mùa khô. Ông Võ Văn Kiệt ôm con rất lâu, nhưng không ai khóc, và ông Kiệt không nhắc lại những điều người ta nói về con trai.
Ông Võ Văn Kiệt muốn bố trí công tác cho Võ Dũng ở cơ quan , nhưng Võ Dũng dứt khoát đòi ra trận. Ông Kiệt nhờ bác sỹ Nam thuyết phục Dũng , Dũng nói :
- Em về Nam để chiến đấu trả thù cho mà và em em, đâu phải về đào hầm cho ông già em núp!
Bác sỹ Huỳnh Hoài Nam nói:
- Ở cứ bảo vệ lãnh đạo cũng là nhiệm vụ chiến đấu !
Dũng ngắt lời:
- Em không muốn chiến đấu trong xó rừng! Ba em kêu gọi mọi người ra trân địa , mà lại để con mình ở cứ ?
Không thuyết phục được Võ Dũng, bác sỹ Huỳnh Hoài Nam nói với ông Võ Văn Kiệt:
- Thằng Dũng bướng lắm anh Sáu. Nó dứt khoát vào trinh sát. Em đầu hàng anh ơi!
Ông Võ Văn Kiệt nói:
- Thôi kệ nó!
Võ Dũng vào đại đội trinh sát bộ binh, xông xáo chiến đấu hết trận này trận khác, coi thường nguy hiểm. Ông Lê Đức Anh nghe tin, ra quyết định điều Võ Dũng sang đơn vị pháo binh. Quyết định chưa kịp trao, thì Võ Dũng hy sinh.
Hơn bốn chục năm rồi, kể từ buổi chiều ấy. Chiến tranh đã lùi xa 38 năm. Ông Võ Văn Kiệt mất cũng đã trên 5 năm, ông không còn cần bất cứ thứ vàng son nào tô điểm thêm lên tên tuổi ông. Tôi, một người lính, một nhà báo già, không còn tham vọng và cũng không thể nịnh nọt một người đã chết để kiếm chác danh lợi.
Bằng tài liệu của bản thân và bạn bè, tôi chỉ muốn kể lại một câu chuyện thực về một thời đầy bi tráng đã qua và muốn cùng các bạn suy nghĩ đôi điều: Võ Dũng , sẽ trở thành một một học sinh hạnh kiểm cực tốt nếu biết dạ vâng, khép nép cúi đầu làm theo những cô, bác anh chị trông coi mình. Và dù Võ Dũng không ngoan như vậy, ông Võ Văn Kiệt vẫn có thừa quyền lực và mối quan hệ đề đưa con sang Liên Xô, Đông Đức, hayTiệp để thanh nhàn, thậm chí chỉ ăn chơi, vui thú ‘xứ người’ mà vẫn có một tấm bằng đỏ đại học sau này ấm thân. Nhưng Võ Dũng đã sống với bản chất, nghị lực của mình, không thớ lợ, không dựa dẫm, và ông Võ Văn Kiệt sẵn sàng chấp “tính bướng bình” đáng khâm phục ấy của con mình. Hình như tính cách ấy, phẩm chất ngày xưa cũng không nhiều, bây giờ thì...không

MINH DIỆN

Tác giả bài viết: MINH DIỆN
Nguồn tin: Blog Bùi Văn Bồng

Người Việt Diễn Đàn - Đăng lúc: Thứ tư - 07/08/2013 12:46 - Người đăng bài viết: nguoivietdiendan

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Ba lá thư của anh Trỗi!

Ba lá thư của anh Trỗi!


Thư số 1:
Ảnh sưu tầm trên mạng


Đà nẵng, ngày 15-4-1963
Quyên mến !
Anh về chưa đến nhà thì anh gửi liền cho em một lá thư. Không hiểu vì lẽ gì mà sự trông đợi của anh lại rơi vào câm nín? Nhưng anh vẫn tin rằng thư bị lạc, chứ có lẽ nào em nhận được mà lại chẳng hồi âm. Nếu em không nhận được thư anh, thì có lẽ em đã trách anh nhiều, cũng như anh đã trách em trong mấy ngày gần đây vậy.
Hôm nay, anh lại viết thư này gửi cho em, nói lên cái tâm trạng của anh trong mấy ngày xa em. Và cũng mong được em kể lại cái tâm trạng của em trong ngày ấy.
Ngày anh bước chân lên xe, lòng chợt cãm thấy nao nao, trông cho đường đất thêm gần lại để thoả lòng mong nhớ trong hơn một năm trời xa cách. Nhưng cái vui chỉ đến với anh trong cái buồn vì lòng đang nặng trĩu một tình thương và hình bóng của em, tuy rằng tình quê hương vẫn còn đầm ấm, với tất cả tình thương. Nhưng anh vẫn thấy thiếu một cái gì ở giữa tim anh nên không thể bằng lòng để hưởng những cái vui bên ngoài được. Mấy ngày gần đây, anh rời nhà quê lên Đà Nẵng để đón tin em, nhưng trông mãi vẫn không thấy. Anh hiện đang vận động tìm một việc làm tại Đà Nẵng. Dù sao anh cũng trở lại Sài Gòn để tính xong câu chuyện của chúng mình, rồi mới tính đến chuyện làm ăn được.
Bấy nhiêu lời trên đây, tưởng em đã lãnh hội đựoc cái tâm trạng của anh rồi, vậy trước khi dừng bút, anh nhờ em Chuyển lời thăm hỏi của anh đến gia đình, ba má cùng các em và chị Kim Anh.
Cuối cùng chúc em được như ý. Anh "mừng"
Thân mến chào em
Ký tên
Nguyễn Văn Trỗi

Thư số 2:

Chí Hoà (Sài Gòn), ngày 11-10-1964
Kính thăm ba má !
Nay con kính gửi đôi lời về thăm ba má, các anh chị và mấy em. Con xin cầu chúc ba má cùng các anh chị và mấy em được mạnh khoẻ thì nơi đây con rất vui mừng !
Riêng về phần con trong này vẫn bình an mong ba má cứ yên tâm.
Con ở trong này rất mong tin nhà. Và mỗi lần được em con vào kể lại chuyện nhà, ba má vẫn mạnh, các anh chị em đều bình an vui vẻ cả... nên con rất mừng.
Con chẳng biết làm thế nào hơn. Chỉ mong trời Phật phù hộ cho ba má được mạnh khoẻ và các anh chị em được yên vui.
Con xin nhờ ba má chuyển lời thăm hỏi của con đến các bác, các chú, cậu mợ và bà con xa gần.
Con sơ lược ít lời tin về cho ba má rõ. Cuối thư con xin chúc ba má và các anh chị bình an.
Con Trỗi !

Lá thư số 3:

Chí Hoà, ngày 11-10-1964
Quyên em !
Anh gửi đôi lời về thăm em, mong em ở nhà được khoẻ mạnh, thì nơi đây anh rất vui mừng.
Riêng về phần anh sức khoẻ hơi kém. Mấy hôm rày anh hay nhức đầu. Anh cần dùng hai món thuốc Qlutaminol và Calcium Corbiere, một bình dầu khuynh diệp Bác Sĩ Tín, vài đồng tăm xỉa răng, em mua cho rồi đến 15 này em đem vào cho anh hay gửi bằng đường bưu điện cũng được.
Thôi chỉ có bậy nhiêu em nhớ cho.
Anh Trỗi.
TB: Tiếp đây, anh có đôi lời thăm em Lợi, anh rất vui khi được tin em đến ở với chị em. Vậy ở nhà khi nào Quyên buồn thì em phải chọc cười, chứ đừng khóc theo nhé.
Nhớ nhé !
Diễn đàn KHÚC QUÂN HÀNH >> Một Thời Chúng Tôi Đã Sống >> Hồi ức Cựu chiến binh Việt Nam >> Nhật ký chiến trường. - trucngon 19-07-2011, 03:03 PM.

Bức chân dung anh Trỗi

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Sống như Anh - trích nhật ký "Thế hệ Hồ Chí Minh"

Năm 2012, ông Huỳnh Văn Sáng (xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) đã trao cho phóng viên Báo Bình Dương một gói kỷ vật của liệt sĩ gồm: một quyển nhật ký và 6 bức ảnh đã nằm sâu dưới lòng đất gần 50 năm. Nhật ký dày 35 trang, dù bị chôn vùi hơn 46 năm qua nhưng từng nét chữ và những tấm ảnh được bọc bằng ni lông vẫn còn nguyên vẹn.

Sau khi đón nhận kỷ vật từ ông Sáng, Báo Bình Dương đã thực hiện loạt phóng sự “Kỷ vật từ lòng đất” (từ ngày 17 đến 22/9/2012), gây xúc động lòng người. Và từ quyển nhật ký quý giá này, Báo Bình Dương đã tìm ra nhân thân của liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên (sinh năm 1945, quê ấp Bà Bèo, xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên hy sinh năm 1966 trong một trận chiến đấu quyết liệt với kẻ thù khi còn rất trẻ.

Trích Báo Bình Dương
“Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh” là tiêu đề của cuốn nhật ký mà tác giả - người lính đã trân trọng ghi ở trang đầu. Nội dung những trang viết là tình yêu quê hương, đất nước, tấm lòng son sắt hướng về Đảng, về Bác Hồ được tác giả nhắc lại nhiều lần trên đường hành quân... Tôi đã đọc nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm... và bây giờ là của một nữ chiến sĩ. Những dòng viết rất thật, như chắt lọc từ sâu thẳm tận đáy lòng..., như trải ra với những yêu thương, khát khao cống hiến đã vĩnh viễn là lý tưởng sống tuyệt đẹp cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
[...]
Những dòng chữ được viết đầu tiên vào tháng 12-1962 và trang cuối là ngày 20-10-1966. Nhiều trang giấy phía sau vẫn còn để trống, có lẽ lúc này người lính ấy đã hy sinh. Tính từ năm 1966 đến nay, nhật ký nằm dưới lòng đất cùng tác giả đã 46 năm nhưng lạ kỳ nét chữ, hình ảnh còn rõ ràng. Tác giả cuốn nhật ký là nữ chiến sĩ, cũng là sinh viên vừa rời mái trường xung phong vào mặt trận chiến đấu như anh Thạc, chị Trâm.
[...]
Chúng tôi thấy trong kỷ vật của chị có lưu giữ bức ảnh anh Trỗi trước pháp trường và chị dành nhiều trang viết đầy cảm xúc về gương hy sinh anh dũng của anh.

[...]
Hình ảnh người anh hùng trẻ tuổi bất khuất, kiên cường vào thời điểm đó đã trở thành thần tượng của nhiều thanh niên yêu nước. Do đó, trong hành trang của người lính trẻ, trong kỷ vật của các liệt sĩ thường lưu giữ hình ảnh anh Trỗi cũng là điều dễ hiểu. Riêng chị - người lính - tác giả cuốn nhật ký, có cùng lứa tuổi với anh Trỗi đã xem anh như là tấm gương sáng để noi theo trong học tập, chiến đấu. Bức ảnh của anh Trỗi kèm trong kỷ vật của chị, có dòng chữ:
“Nguyễn Văn Trỗi sống mãi, một Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống, hàng vạn Nguyễn Văn Trỗi đứng lên”.
Trên đường hành quân vào ngày 10-10-1966, nhớ về anh Trỗi, chị viết:
“Chỉ còn mấy ngày nữa là đến ngày kỷ niệm, ngày giỗ lần thứ 2 của anh Trỗi. Để thiết thực kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của anh, mình phải làm gì? Trong công tác đối với kẻ thù, đối với đồng chí, đồng đội phải như thế nào? Đạo đức người cách mạng, người cộng sản, đối với người thân yêu... đó là những vấn đề cần tính làm thế nào cho được tốt toàn diện...”.
Rồi đến ngày giỗ anh Trỗi 15-10-1966, chị làm bài thơ về anh:
“Quên sao được tháng mười - sáu bốn/ Ngày 15 anh Trỗi đã hy sinh/ Vì quyền dân tộc của mình/ Tự do độc lập dân sinh giống nòi/ Anh đã chết nhưng anh vẫn sống/ Sống trong lòng nam nữ thanh niên/ Tươi thêm giọt máu vào tim/ Hôm nay tôi lại nhớ đến anh/ Người đồng chí đấu tranh dũng cảm/ Gương anh khắc mãi trong tim/ Khí tiết cách mạng con đường Mác - Lê/ Nhớ anh, tôi nhớ lời anh dặn/ Nhớ anh, sống chiến đấu như anh/ Làm sao xứng với tuổi xanh/ Giải phóng đất nước đoạt thành ước mơ...”.
[...]
Và đôi khi chị có những dòng viết thoáng qua về tình cảm của bản thân với nỗi trăn trở, mất mát bởi chiến tranh gây nên. Ngày 21-1-1966, chị viết:
“Đến gặp anh C để bàn giao công tác. Một tin làm mình xúc động vô cùng vì người thân đã sa vào tay giặc ngày 8-1. Mình buồn và có suy nghĩ nhiều dù rằng đối với mình chưa có gì là khái niệm sâu sắc trong lòng, ngoài tình đồng chí, tình cảm cách mạng, nhưng mình coi anh ấy là người bạn... và cũng là người lý tưởng của mình...”.
Và để tự động viên sự mất mát của bản thân, chị viết:
“Mình lại nghĩ đến tình yêu cao thượng của anh Trỗi, chị Quyên, đôi vợ chồng vừa cưới nhau được 20 ngày, mới chung sống thời gian ít như vậy mà vội chia ly vĩnh viễn. Trường hợp mình cũng gần giống vậy nhưng mình phải đặt vào tổ chức kỷ luật cao...”.
Toàn bộ cuốn nhật ký, chỉ có mấy dòng ngắn ngủi trên dành cho chị nói về bản thân, một chút riêng tư. “Biết hy sinh nên chẳng nhiều lời”, “Khi Tổ quốc cần chúng mình biết hy sinh”, đó là lý tưởng của thanh niên khi dân tộc bị lâm nguy, có giặc ngoại xâm. Tình yêu thời chiến bao giờ cũng đẹp như huyền thoại.

Trích nhật ký "Thế hệ Hồ Chí Minh"

Trang đầu tiên của nhật ký

Những trang viết trong tập nhật ký

Anh Trỗi đứng hiên ngang trước họng súng quân thù
(ảnh lưu giữ kèm theo nhật ký)

Bài thơ kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 2 của anh Trỗi

Tác giả của quyển nhật ký - liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên


- Tháng 12-1962: Rời mái trường trở về địa phương tham gia cách mạng. Vừa dạy học, vừa tham gia các mặt công tác kháng chiến ở địa phương.
[...]
- Ngày 20-10-1965: Về họp chi đoàn cơ quan
QUYẾT TÂM
SỐNG - CHIẾN ĐẤU
Như anh hùng liệt sĩ
NGUYỄN VĂN TRỖI.
[...]
- Ngày 21-1-1966: Đến gặp anh C. để bàn công tác. Một tin làm M. xúc động vô cùng: người thân (10T) đã rơi vào tay giặc hôm 8-1 (ngày đầu địch càn vào bắc C2). M. buồn và suy nghĩ nhiều. Dù rằng đối với M. chưa có gì là kỷ niệm sâu sắc, nhưng trong lòng ngoài tình đồng chí, tình cảm cách mạng ra, còn có tình yêu thương đồng chí, bước đầu của tình cảm riêng tư. Đó là tình đồng chí, là người bạn và coi như là người... lý tưởng của M.

M. lại nghĩ đến tình yêu thương cao thượng của anh Trỗi - chị Quyên. Đôi vợ chồng vừa cưới nhau 20 ngày, mới chung sống thời gian ít như vậy.

Biến đau thương thành hành động, giờ đây M. phải làm tốt mọi công tác được giao, là cơ sở chuẩn bị cho công tác mai sau (giáo dục). M. đã yên tâm phần nào, chỉ chờ đợi thời gian thực tế vào nắm tình hình, tích lũy kinh nghiệm qua việc đi sâu sát vào quần chúng, làm công tác tư tưởng quần chúng. Chính điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ của người làm công tác giáo dục.

Hãy lo hoàn thành tốt nhiệm vụ trước mắt...
[...]
-Ngày 10-10-1966: Chỉ còn mấy ngày nữa là tới ngày kỷ niệm, ngày giỗ thứ hai của anh Trỗi. Để thiết thực kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của anh, M. phải làm gì? Trong công tác: Đối với kẻ thù? Đối với đồng chí? Đối với bản thân? Đạo đức một người cách mạng, con người cộng sản? Đối với người thân yêu? Đó là những vấn đề cần phải làm thế nào cho được tốt, toàn diện.

Hãy đi lên để tìm chân lý sống!...


Nhớ anh

(Kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi)

Mến tặng anh Ng.V Tuấn trong nhà lao Mỹ - Thiệu - Kỳ

Quên sao được tháng 10 - sáu bốn!
Ngày 15 anh Trỗi đã hy sinh
Vì quyền dân tộc của mình
Tự do, độc lập, dân sinh giống nòi
Anh đã chết nhưng anh vẫn sống
Sống trong lòng nam nữ thanh niên
Tiếp thêm giọt máu vào tim
Một bầu nhiệt huyết, nhiệt tình đấu tranh.

***

Đêm nay tôi lại nhớ đến anh
Người đồng chí đấu tranh dũng cảm
Gương anh khắc mãi trong tim
Khí tiết cách mạng, con đường Mác - Lê
Nhớ anh, tôi nhớ lời anh dặn
Nhớ anh, sống chiến đấu như anh
Góp công giải phóng quê hương
Giành quyền dân tộc, tình thương giống nòi
Làm sao xứng với tuổi xanh
Giải phóng đất nước, đoạt thành ước mơ.


Quà mừng chiến thắng

(Kính tặng Đại hội DS2T)

Vui biết mấy trong ngày đại hội
Lòng rộn ràng thêu vội chiếc khăn
Tặng anh dũng sĩ ngoan cường
Món quà kỷ niệm, kính, thương anh nhiều
Ngày đêm chiến đấu quên mệt mỏi
Vượt mọi gian nguy tiến lên đường
Anh đi giải phóng quê hương
Anh đi bảo vệ tình thương dân mình
Lòng kính mến người anh dũng cảm
Lập chiến công rạng rỡ muôn nơi
Tên anh “Dũng sĩ” chói ngời
Người người, lớp lớp, đời đời theo anh!
Này bè lũ cướp nước hôi tanh
Đừng có hống hách, đừng mong được về
Vui thay, vui quá, vui ghê!
Người anh yêu nước tâm tình đi anh!



Nói đi em

(Mến tặng em H., người em cùng quê hương)

Em hỡi! Em ơi! Em nghĩ gì?
Rộn ràng, khấp khởi hay sầu bi?
Chuyện đời, tình cảm là thế ấy
Buồn, thương, hối hận mà làm chi...

***

Hãy nghĩ đến ngày mai tươi sáng
Miền Nam ta giải phóng tự do
Gia đình sum họp một nhà
Cùng nhau vui hát bài ca “Thanh bình”
Em yêu hỡi! Sao em không nói?
Nói đi em! Chị lắng nghe đây
Nghe em kể lại những ngày
Đấu tranh gian khổ, đắng cay kiên lòng
Bên nhau chiến đấu cùng lý tưởng
Vững lòng san phẳng mọi bất công
Bên nhau chiến đấu vì dân
Đạp bằng trở ngại, tiến lên diệt thù...

(Kỷ niệm ngày bị đau, trong đợt thi đua kỷ niệm 2 năm ngày anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, 17-10-1966)



Đọc sách

Nói đến đọc sách, nhà đại văn hào Mắcxim Goocky viết: “Càng đọc sách càng làm cho tôi gần với thế giới và công việc... càng thấy yêu quê hương và yêu nước Nga vô hạn”.

Một vị lãnh tụ cũng đã từng nói: “Một quyển sách hay, một bản nhạc tốt, một bài thơ hay có tác dụng như hàng binh đoàn xung phong ra trận diệt quân thù”.

(Ngày 20-10-1966)
KIẾN GIANG


Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI

(Qua một số tài liệu, hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975) giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đã có biết bao tấm gương hy sinh anh dũng trong chiến đấu và lao động sản xuất, và liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi là một trong những tấm gương sáng đó.



Ngày 2-5-1964, Nguyễn Văn Trỗi cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đặt mìn phá cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) để giết Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mác Namara, trưởng Phái đoàn quân sự cấp cao của Chính phủ Mỹ sang kiểm tra kế hoạch bình định miền Nam Việt Nam. Việc không thành, 22 giờ, ngày 9-5-1964 Nguyễn Văn Trỗi bị bắt và bị kết án tử hình. Để cứu Anh, một tổ chức du kích ở Venedzuela đòi trao đổi Anh với Đại tá Không quân Mỹ là Michael Smolen vừa bị tổ chức du kích này bắt cóc, và tuyên bố “Nếu ở Việt Nam xử bắn Nguyễn Văn Trỗi thì ở Venedzuela một giờ sau họ sẽ xử bắn Đại tá Smolen”. Tuy nhiên khi Michael Smolen vừa được tự do, Toà án quân sự của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã xử bắn Anh tại sân sau nhà lao Chí Hoà lúc 9 giờ 45 phút, ngày 15-10-1964.
Sau nhiều ngày tìm kiếm gia đình đã tìm được nơi Chính quyền Việt Nam Cộng hoà bí mật chôn xác Anh tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 17-10-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Huân chương Thành đồng hạng Nhất1.
Kỷ niệm 34 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 45 năm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, xin giới thiệu một số tài liệu, hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh với anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hiện đang trưng bày và lưu giữ tại Kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

1/ Ảnh Nguyễn Văn Trỗi và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Hình ảnh cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi do một nhà quay phim, người Nhật chụp, khi anh đã giật tấm khăn bịt mắt và nói: “Tôi không có tội, kẻ có tội cần phải trừng trị là bọn xâm lược Mỹ và lũ Việt gian Nguyễn Khánh”. Trước khi bị bắn, Nguyễn Văn Trỗi hô to:
Hãy nhớ lấy lời tôi!
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!
Thương tiếc và xúc động trước tấm gương hy sinh anh dũng của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Vì Tổ quốc, vì nhân dân liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng.
Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là 1 tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”
Bức ảnh và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh(2)Trưng bày trong Tuốcnickê 38, chủ đề 7, giai đoạn 1954-1969


2/ Sách “Sống như Anh”:

Một ngày sau khi anh Trỗi bị bắt, chị Phan Thị Quyên, vợ anh cũng bị bắt giam. Trong thời gian bị giam giữ, chị mới thực sự hiểu công việc của chồng và đồng đội, đồng thời hiểu về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, hiểu vì sao anh Trỗi tham gia chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Theo lời kể của chị Phan Thị Quyên2 về “những lần gặp gỡ cuối cùng” giữa chị với anh Trỗi từ khi bị giam cho đến khi bị xử bắn, tác giả - nhà văn miền Nam Trần Đình Vân đã viết và chuyển ra miền Bắc cuốn sách Sống như Anh. Ngày 20-7-1965, cuốn sách được Nhà xuất bản Văn học xuất bản lần thứ nhất 302.000 cuốn, 200.000 cuốn khổ 9cmx13cm, 100.000 cuốn khổ 13cmx19cm bằng giấy thường và 2000 cuốn in trên giấy tốt.
Bằng giọng văn chân thành, trong sáng, tác giả Trần Đình Vân đã giúp độc giả hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống, tình cảm của các chiến sĩ giải phóng quân, cũng như về cuộc đời, về hành động dũng cảm của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trong nhà tù và những phút giây làm nên lịch sử của Anh. Những giây phút đã làm cho nhiều nhà báo có mặt tại pháp trường phải xúc động, cảm phục và kẻ thù phải run sợ trước người thợ điện bình thường nhưng rất yêu nước, rất kiên chung. Chỉ 9 phút nhưng hành động của Anh, lời nói của Anh đã làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước, yêu hoà bình của Việt Nam và bạn bè trên toàn thế giới.


Sách “Sống như Anh”, trưng bày cùng với cuốn “Từ tuyến đầu Tổ quốc”, cùng chiếc balô và đôi dép cao su là những vật dụng thân thiết của mỗi chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Các hiện vật được trưng bày trong Tổ hợp chiến thắng, chủ đề 8, giai đoạn 1969-1975.

3/ Sách “Sống như Anh” bản dịch tiếng Nga:

Sách “Sống như Anh”, bản dịch tiếng Nga, do Nhà xuất bản Ngoại văn dịch và phát hành năm 1965. Sách dày 150 trang, kích thước 13cmx19cm, bìa ngoài là ảnh của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trên pháp trường. Nội dung sách được dịch từ bản tiếng Việt xuất bản lần thứ nhất của Nhà xuất bản Văn học năm 1965.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc và để lại bút tích của Người ở ngoài bìa, phía góc dưới, bên phải. Sau đó, sách được Phòng lưu trữ Phủ Thủ tướng bảo quản. Ngày 1-3-1972, Phòng lưu trữ Phủ Thủ tướng đã bàn giao cho Ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện cuốn sách đang được lưu giữ và bảo quản trong Kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

4/ Liên quan đến sự kiện Nguyễn Văn Trỗi, nhiều bài viết đăng trên báo Nhân Dân phản đối Mỹ, yêu cầu thả Nguyễn Văn Trỗi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc các bài này và để lại bút tích:

  • Báo Nhân Dân, số 3845, ngày 10-7-1964:
    Trang 4: “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng Venezuela ký Bản tuyên bố chung thứ 2 chống đế quốc xâm lược”.
  • Báo Nhân Dân, số 3849, ngày 14-10-1964:
    Trang 4: “Thông tấn xã giải phóng tuyên bố: Bọn Mỹ Khánh phải trả lại tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3860, ngày 25-10-1964:
    Trang 1: Bài “Hãy nhớ lấy lời tôi” của nhà thơ Tố Hữu và bài “Đại biểu các tôn giáo Hà Nội kịch liệt phản đối Mỹ - Khánh giết Nguyễn Văn Trỗi, đòi trả tự do ngay cho anh Lê Hồng Tư”
  • Báo Nhân Dân, số 3870, ngày 4-11-1964:
    Trang 4: “Phấn khởi trước chiến thắng oanh liệt của quân và dân miền Nam, noi gương chiến đấu anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3872, ngày 6-11-1964:
    Trang 1: “Các tổ chức nhân dân Liên Xô, Cuba, Angiêri lên án Mỹ và tay sai giết anh Nguyễn Văn Trỗi và đòi trả tự do cho anh Lê Hồng Tư - Học sinh, sinh viên Cuba học tập gương đấu tranh bất khuất của anh Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3887, ngày 21-11-1964:
    Trang 1: “Nam Định lập 253 đội xung kích Nguyễn Văn Trỗi”.
    Trang 4: Bài “Các tổ chức công đoàn Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên phản đối Mỹ - Khánh giết anh Nguyễn Văn Trỗi”- “Cơ quan đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng tại Cuba tố cáo sự lật lọng của Mỹ và tay sai”.
  • Báo Nhân Dân, số 3888, ngày 22-11-1964:
    Trang 4: “Các tổ chức hoà bình Liên Xô, Cuba, Pháp, Anh, Ý, Libăng phản đối Mỹ - Khánh giết Nguyễn Văn Trỗi và mưu giết Lê Hồng Tư”

5/ Tranh chân dung liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi:

Ngày 5-2-1966, Đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Italia do đồng chí Enrico Bớclinhguê, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Đảng bộ thành phố Rôma sang thăm hữu nghị Việt Nam3. Đoàn đã tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh bức ảnh chụp một phần của bức tranh vẽ cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó diễn tả cảnh đưa anh Trỗi ra pháp trường. Bức tranh màu đen trắng, kích thước 53cmx75cm, đặt trong khung kính, khung màu xanh nhạt, kích thước 80cmx58cm. Bức tranh của tác giả Remot Guhuso vẽ ở Roma, ngày 28-11-1966, còn nguyên vẹn và đang được bảo quản trong Kho quà tặng của Bảo tàng Hồ Chí Minh.


Các tài liệu, hiện vật về Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đang trưng bày và lưu giữ Bảo tàng Hồ Chí Minh không nhiều nhưng rất có ý nghĩa. Các tài liệu, hiện vật góp phần tái hiện một cách sinh động hơn về cuộc kháng chiến ác liệt và gian khổ để giành độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân ta, đồng thời giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tình đoàn kết quốc tế trong sáng và sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi tuy chưa một lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh,

không còn được nhìn thấy nước nhà thống nhất, nhưng tấm gương anh dũng hy sinh vì độc lập tự do, vì thống nhất đất nước của Anh đã trở thành một biểu tượng sinh động cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Cùng với bao tấm gương anh hùng khác, sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã tô thắm thêm truyền thống yêu nước, yêu hoà bình của dân tộc Việt Nam và sự hy sinh cao quý đó đã góp phần mang lại một đất nước Việt Nam hoà bình độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh đang ngày càng hội nhập với bạn bè quốc tế như mong ước của Bác Hồ./.

Hà Minh Thu



Bảo tàng Hồ Chí Minh - Cập nhật lần cuối: 07/11/2016 04:07:44

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Anh Nghiêm Sỹ Chúng của Ls Nguyễn Văn Ngọc đã đi xa

Quan hệ của anh Chúng và Ngọc thế này... Ông già Ngọc hy sinh trong thời kì 9 năm khi 2 cụ mới chỉ có Ngọc. Còn vợ chú Nguyễn Chí Điềm (Nghiêm Nghị) - má anh Chúng - thì hi sinh cũng thời gian chống Pháp ở Chiến khu D, Nam bộ. (Nghe kể, cô bị con hổ thọt (bị bắn què 1 chân) vồ mất trong 1 đêm đi trong rừng!). Sau 1954, chú Điềm gặp cô Ngọ rồi 2 người xây dựng gia đình.
Những năm 60, chú Điềm là Lữ trưởng Lữ đoàn dù, sau chuyển thành sư 305 bộ đội đặc công. Chú là Tư lệnh đầu tiên của lực lượng đặc công. Cô chú sống ở Khu tập thể Nam Đồng và có thêm 2 em.

Khi chúng tôi vào Đại học Quân sự được 1 năm thì các anh khóa 1 tốt nghiệp. Trong đó, anh Chúng được giữ lại làm giáo viên cùng các anh Lê Anh Dũng, Hoàng Quốc Lập, Dương Thịnh Lợi... - những mẫu người lí tưởng của bọn lính năm thứ nhất chúng tôi.
Anh Chúng về dạy Chi tiết máy. Ngay khi tốt nghiệp, anh đã theo đội hình của nhà trường tăng cường cho chiến trường Quảng Trị.
Là con người có năng lực, thông minh, thẳng thắn nên sau 1975 khi cụ Đặng Quốc Bảo có 1 bài viết về công tác đào tạo cán bộ KHKTQS thì anh Chúng và anh Nguyễn Viết Tiến đã có những ý kiến phản biện sắc sảo nhưng trái chiều.
Khi chiến tranh biên giới phía bắc nổ ra, anh đã cùng anh Khúc Văn Nghi, anh Kim Long tăng cường cho Quân đoàn 14. Nhiều năm gắn bó với mặt trận bảo vệ biên giới phía bắc, anh đã trưởng thành, đảm nhiệm các cấp trưởng từ phòng Quân khí quân đoàn tới Cục Kĩ thuật quân đoàn 14 rồi Cục Kĩ thuật QK1. Cuối cùng là những năm tháng ở TCKT với chức vụ Phó chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng TCKT, hàm thiếu tướng.
Ngày cùng trường đâu có biết anh có quan hệ thân tình với Nguyễn Văn Ngọc. Mãi những năm sau này, qua Tấn Mỹ mới biết mẹ Ngọc tái giá với chú Điềm. Rồi qua anh mà biết điện thoại Lâm, em của Ngọc (090219 7263), đảm nhiệm phần hương khói cho bàn thờ gia đình, dòng tộc.

Năm trước 2016, kỉ niệm 50 năm Học viện KTQS, gọi điện ra rủ anh về thăm trường, mới hay, anh lâm bệnh.
Tết rồi vào thăm bác Vinh (bên vợ) ở Bv 108, nghĩ bụng hỏi thăm anh nằm phòng nào thì được vợ anh ra tiễn khách, nhận ra. Vào thăm anh đúng lúc anh lên cơn sốt rét, lạnh run người.
Trò chuyện 1 lúc, anh đưa cuốn hồi kí Thử Lửa và hỏi: "Mày có cuốn này chưa? Nxb QĐND mới tái bản nhưng hết ngay. Giữ đọc cho vui nhưng anh yếu rồi, không kí tặng được". Nắm tay anh, biết anh mệt và đau lắm, muốn san sẻ bớt cơn đau.
Về nhà, cứ rảnh là lại đọc những gì anh đã viết.

Trưa nay nhận được tin nhắn của anh Vũ Minh Trực, anh Nguyễn Kháng Chiến báo: anh Chúng đi sáng nay rồi.
Cầu mong anh siêu thoát và phù hộ cho vợ con, gia đình, bạn bè.

FB Tran Kienquoc 10/3/2017

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Tìm mộ Ls Bùi Thọ Tuyến

Sáng nay, có số máy lạ. Bấm máy nói chuyện và được giới thiệu người gọi tới là Bùi Thọ Phúc - lái xe du lịch, sống ở Quảng Ninh, quê ở Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình. Mấy năm trước, Phúc có đưa khách vào NTLS Trường Sơn hay Quảng Trị thì có nhìn thấy ngôi mộ có gắn bia ghi Ls Bùi Thọ Tuyến

Bùi Thọ Tuyến - K8

B5 - trung đội phó B5
1955
1974 – Liệt sĩ, Hy sinh: 23/3/1974 (30/2 Giáp Dần) tại Sân bay Biên Hòa (hay huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa?), Đồng Nai.
- 1A Hoàng Văn Thụ, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội. - Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình Nhà TT 4 tầng, Khu Lê Lợi,Mb: 0982751137 (Cầm, em gái) - Nr: - Cq: - FB: https://www.facebook.com/bcqnewsound.bcqnewsound- Email: - Blog: http://ahls-bantroi.blogspot.com/p/liet-si-bui-tho-tuyen-k8.html - TX Thái Bình - VN
Liệt sĩ - Trung sĩ - Nhập ngũ tháng 5/1971 tại xã Hoàng Diệu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đơn vị: F305 Đặc công. -
Liên hệ gia đình: Bùi Thị Cầm, nhà 15, ngõ 132 phố Mai dịch, quận Cầu giấy, HN. Điện thoại: 04-37640064. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí - 154 Nguyễn Thái Học Hà Nội, Điện thoại: 9162955.

12/1971

0

, quê Đông Hưng, Thái Bình nên gọi cho tôi. Phúc rất nhớ vì trùng cả họ và cùng là đồng hương.
Qua mục Tìm mộ Ls của chương trình QPVN mà Phúc biết gia đình và anh em Trỗi đang tìm mộ phần Ls Tuyến. (Tăng Tiến hôm xem được tin này phát trên QPVN cũng đã gọi cho tôi).
Nói chuyện một hồi thì ra Phúc có họ hàng gần với Bùi Thọ Tuyến vì Phúc là cháu cụ Bùi Thọ Tư - thân phụ Tuyến, nguyên Tỉnh đội trưởng Thái Bình năm 1971, 72.
Gọi báo tin này cho Cầm, em gái Tuyến ở HN, thì Cầm xác định: ở NTLS Trường Sơn không có mộ phần anh Tuyến vì Cầm đã nhiều lần vào đó tìm mộ anh.
Hy vọng mộ phần Bùi Thọ Tuyến

Bùi Thọ Tuyến - K8

B5 - trung đội phó B5
1955
1974 – Liệt sĩ, Hy sinh: 23/3/1974 (30/2 Giáp Dần) tại Sân bay Biên Hòa (hay huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa?), Đồng Nai.
- 1A Hoàng Văn Thụ, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội. - Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình Nhà TT 4 tầng, Khu Lê Lợi,Mb: 0982751137 (Cầm, em gái) - Nr: - Cq: - FB: https://www.facebook.com/bcqnewsound.bcqnewsound- Email: - Blog: http://ahls-bantroi.blogspot.com/p/liet-si-bui-tho-tuyen-k8.html - TX Thái Bình - VN
Liệt sĩ - Trung sĩ - Nhập ngũ tháng 5/1971 tại xã Hoàng Diệu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đơn vị: F305 Đặc công. -
Liên hệ gia đình: Bùi Thị Cầm, nhà 15, ngõ 132 phố Mai dịch, quận Cầu giấy, HN. Điện thoại: 04-37640064. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí - 154 Nguyễn Thái Học Hà Nội, Điện thoại: 9162955.

12/1971

0

có thể nằm ở NTLS thuộc tỉnh Quảng Trị. (Cầm cũng đã liên lạc với Phúc).
Tôi bàn với Cầm thử cùng BLLk8 đi gặp phòng Chính sách của BTL Đặc công vì sau khi nhập ngũ, Tuyến vào huấn luyện ở Đặc công rồi đi Nam. (Việc này đã bàn với Dũng Zốt nhưng vì Dũng phải đi công tác, chưa làm được).
Xin báo cho các bạn.

Tran Kienquoc - 3 Tháng 3 2017 lúc 5:19.

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

Gặp những người tình nguyện đi tìm đồng đội


Chiến tranh đã lùi xa đã gần 40 năm, thế nhưng nhiều liệt sĩ vẫn nằm lại đâu đó trên khắp các chiến trường, đặc biệt là nơi nước bạn Campuchia. Ngoài sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước để đưa các anh về với quê hương đất mẹ, hiện còn có rất nhiều những tấm gương tình nguyện tham gia trên lĩnh vực này. Họ không những bỏ công sức, thời gian mà còn tự trang trải mọi chi phí để tìm kiếm thông tin, lặn lội khắp các miền quê tìm đồng đội cũ để "giải mã" nhiều câu hỏi để có được câu trả lời: nơi an táng của các liệt sĩ hiện ở đâu, bao giờ?

Trong nhiều năm qua, chỉ tính riêng các CCB của Sư đoàn 1 hiện ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ, kể cả ở phía Bắc có hàng trăm người tham gia việc công tác này. Họ đã tìm kiếm, tham gia cất bốc hàng trăm bộ hài cốt đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ, số khác được kết hợp cùng gia đình đưa anh em về với quê hương.
Trong số các CCB ấy có CCB Võ Hồng Kỳ (Bảy Kỳ) năm nay đã trên 60 tuổi, hiện ở TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, nguyên là cán bộ hậu cần của Sư đoàn 1 (giai đoạn 1970-1973). Năm 2001 ông Kỳ nghỉ hưu cũng là lúc ông tham gia tìm kiếm đồng đội. Ông chia sẻ, lúc đầu ông cũng chỉ định đi tìm người liệt sĩ đồng hương Nguyễn Hoàng Khải, hy sinh ngày 15/5/1972. Thế nhưng, khi ông tình nguyện tham gia vào cùng Đội quy tập hài cốt liệt sỹ K92 của Quân khu 9, mới biết vẫn còn nhiều đồng đội đang nằm lại nước bạn Campuchia, và như một cái “duyên”, ông trở thành thành viên tình nguyện của Đội từ lúc nào chẳng biết. Từ năm 2001 đến nay, cứ đến mùa khô của là ông lại ở cùng Đội K92 sang Campuchia để tìm kiếm, cất bốc và đội đã qui tập được hơn 1.500 hài cốt liệt sĩ đưa về nước. Được hỏi, điều gì đã thôi thúc ông gắn bó với công việc tình nguyện này, ông bộc bạch: "Những anh em hy sinh vào các năm 1972-1973 đều ở tuổi mười chín đôi mươi và hầu hết từ miền Bắc vào. Đáng ra họ đã phải được yên nghỉ tại quê nhà! Hơn 40 năm rồi còn gì! Các bà mẹ ngoài ấy vẫn khắc khoải mong chờ, thương các mẹ quá đi thôi".
Theo ông Bảy Kỳ, trong suốt thời gian tham gia tìm kiếm và qui tập hài cốt liệt sĩ đã để lại trong ông một kỷ niệm sâu sắc, đó là tấm lòng của người mẹ Campuchia, Dì Pô.
Ông kể, trung tuần tháng 5/1972, một đoàn cán bộ hậu cần của Sư 1 đi chuẩn bị chiến trường. Khi từ Campuchia vượt kênh Vĩnh Tế về Hà Tiên, đoàn có 17 người, bị dính mìn và bị pháo hy sinh gần hết (chỉ một người bị thương nặng còn sống). Mặc dù biết chắc là địa điểm mai táng bên cạnh chùa Play Mia, thế nhưng ông cùng một số đồng đội từ Việt Nam qua tìm kiếm, đào bới nhiều lần mà vẫn chưa tìm được (vì không có sơ đồ mộ chí). Mãi đến đầu năm 2013, sau một lần tìm kiếm thất bại, trở về nghỉ ngơi tại Phum Bàn Tây Mia thì một người phụ nữ khoảng 80 tuổi tự giới thiệu là Dì Pô đến trước mặt Bảy Kỳ khoát tay và đi một mạch ra hướng bắc chùa chỉ gò đất nơi mai táng 16 liệt sĩ bộ đội Việt Nam, sau đó chỉ vào một trong 16 ngôi mộ và nói: “Đây là ông lớn (lục thum), bác sĩ, viện trưởng bệnh viện gì đó”. "Tôi cảm thấy như nghẹt thở và thốt lên: Anh Chín đây rồi, anh Chín ơi, em đây, thằng Kỳ em của anh đây. Hôm nghe tin anh hy sinh, bọn em đang chuẩn bị “xuống đường”, ai cũng xót xa mà không làm sao được”. Bảy Kỳ nói trong nghẹn ngào và kể tiếp: "Dì Pô kể là hôm tham gia mai táng cùng bộ đội Việt Nam có 4 người Campuchia, nay chỉ còn lại một mình Dì Pô. Dì đã trăn trở suốt 7 năm, hôm nay mới nói lên tất cả. Cảm ơn Dì, cảm ơn người mẹ Campuchia ..."
Hai ngày sau (13/4/2013), Bảy Kỳ tiếp tục theo chân Đội K92 trở lại Play Mia tiến hành cất bốc hài cốt của 16 liệt sĩ đưa về nước. Sau đó làm mọi thủ tục để giám định ADN và kết quả của giám định hoàn toàn trùng khớp: Đúng là hài cốt của liệt sĩ Nguyễn Hoàng Khải ...
Một CCB khác tại TP Hồ Chí Minh tham gia việc thiện nguyện bằng cả tấm lòng. Với chiếc xe máy cà tàng, gần 10 năm qua ông đã tìm đến các gia đình để chắp nối các thông tin về các liệt sĩ đã chiến đấu cùng ông (d6, e46, f1) và nằm lại nơi chiến trường Hà Tiên những năm 1973-1974. Đó là CCB Nguyễn Văn Tâm, hiện ở P.11, Quận 10, TP HCM. Ông Tâm có thời gian chạy xe ôm để kiếm sống. Thế nhưng, gom góp, dành dụm được bao nhiêu ông lại để dành cho những chuyến đi Hà Tiên để tìm kiếm đồng đội. Sau hàng chục lần lên xuống, ra Bắc vào Nam ông đã chắp nối thông tin cho hàng chục gia đình liệt sỹ và tham gia cùng Đội K92 cất bốc 23 hài cốt liệt sĩ đưa về quê nhà. Thậm chí, có gia đình chỉ vỏn vẹn còn 200 ngàn đồng, ông Tâm phải vận động bạn bè, các thành viên trong đoàn lo được đủ tiền xe cho thân nhân vào đưa hài cốt của liệt sĩ về quê trước sự cảm mến của chính quyền địa phương và thân nhân các gia đình liệt sĩ. Điều đáng trân trọng hơn là ông Tâm chưa hề nhận bất cứ của ai một đồng nào. Ông bộc bạch: "Người mẹ đã mất con, vợ mất chồng, anh mất em, con mất cha là một tổn thất không có gì bù đắp được, làm sao mình đang tâm nhận tiền của các mẹ, các chị, các cháu?".

Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng được CCB Nguyễn Duy Quyết (giữa) cung cấp thông tin và được đưa về quê 30/12/2011

Một điển hình khác, đó là tấm lòng và sự tri ân của CCB, thương binh Nguyễn Duy Quyết sinh năm 1949, hiện ở 246 Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nhập ngũ năm 1966 (nghỉ hưu 1993), Nguyễn Duy Quyết đã công tác và chiến đấu trong đội hình sư đoàn 1 từ 1966 đến 1973. Từ công tác quân lực, chính sách cấp tiểu đoàn đến sư đoàn trong một thời gian khá dài đã tạo cho ông một ý thức ghi chép và lưu trữ số liệu vào hồ sơ, sổ sách. Cũng chính từ những thông tin này đã giúp ông tìm kiếm được nhiều “đồng đội”. Lý giải của việc tìm kiếm này, ông Quyết chia sẻ: người anh trai của của ông cũng là liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đến nay vẫn anh trai ông vẫn chưa trở về. Bởi vậy, ông thấu hiểu nỗi đau, sự mất mát của những gia đình, thân nhân liêt sỹ. Thêm vào đó, mỗi lần gặp gỡ các gia đình liệt sỹ, có bà mẹ thổn thức hỏi ông: “Sao con tôi đi mãi, đợi mãi chẳng thấy về?”, "Bác tìm đưa em nó về cho tôi được không?". Mỗi lần như thế, Nguyen Duy Quyết lại thấy tim mình nhói đau và cảm giác như có lỗi với thân nhân các gia đình có con chưa trở về.
Kể về hành trình của mình suốt thời gian qua, ông Quyết cho biết: “Năm 1993 tôi được nghỉ hưu và bắt đầu tham gia vào công việc tìm kiếm đồng đội. Đầu tiên, tôi tìm lại tài liệu mà mình đã giữ được, sau đó tôi đến phòng chính sách của các Quân khu và đơn vị để lấy tư liệu. Điều quan trọng là phải tìm và đối chiếu từng danh sách liệt sỹ với bản đồ mộ chí của từng trận đánh, của từng đơn vị, tiếp đó đi khảo sát tại các địa điểm theo sơ đồ mai táng ở các vùng chiến sự năm xưa…”.
Với 2.000 bức thư, hàng nghìn cuộc điện thoại được gửi đến các gia đình, với hơn 300 ngôi mộ đã xác định được danh tính và đã được trở về quê mẹ, đó là những giọt mồ hôi và tấm lòng của ông Quyết được gửi gấm trong đó. Bù lại, khi mỗi "đồng đội" được trở về quê mẹ đã cho ông một cảm súc chất chứa bao nghĩa tình. Ông bảo: "Trong hàng trăm ngôi mộ may mắn được tìm thấy ấy, có một trường hợp mà ông không bao giờ quyên được: liệt sỹ Trần Công Hoan cũng là đồng đội của ông cùng tham gia chiến đấu ở va hy sinh tại KiriVông, tỉnh Tà Keo, Campuchia. Khi mai táng, thi hài anh được đặt lên một cánh cửa có chiếc móc xoắn và chôn ngay bậc tam cấp gần đường lên xuống cổng chùa Sôm. Năm 2006 quay lại tìm, ngôi chùa năm xưa đã bị Pôn Pốt phá sạch chỉ còn trơ lại nền khu chùa. Sau khi lục lại trí nhớ và định vị lại nơi chôn cất, ông Quyết đã tìm được hài cốt của đồng đội mình với những hiện vật được chôn theo anh, trong đó có bức ảnh người yêu của Hoan vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ tiếc rằng, khi tiếp súc với ôxy, bức ảnh tan ra từng mảnh nhỏ rồi vỡ vụn".
Với những đóng góp của mình, CCB Nguyễn Duy Quyết đã được tặng thưởng nhiều bằng khen của Hội Cựu chiến binh Tỉnh ủy Thái Nguyên, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sỹ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ. Nhưng vui mừng và cảm động nhất là hàng trăm bức thư của các thân nhân liệt sỹ gửi đến ông với một sự tri ân chân thành của thân nhân các gia đình liệt sĩ.
Và, mới đây thôi, ngày 20/12, CCB Nguyễn Duy Quyết nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của hơn 300 CCB, thành viên Ban LLTT Sư đoàn 1 tại buổi họp mặt truyền thống của sư đoàn về những việc làm thiện nguyện của mình.
HÀ SƠN

Nguồn: Hội Cựu chiến binh TP.HCM - Thứ sáu, 23 Tháng 1 2015 13:43.


Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

Vĩnh biệt người du kích bắt trung tá Mỹ, đổi mạng Nguyễn Văn Trỗi

(TTXVN/VIETNAM+) 24/02/2017 09:50 GMT+7
(Nguồn: albaciudad.org)

Ngày 23/2, báo chí Venezuela đưa tin du kích quân Venezuela Carlos Argenis Martínez, người tham gia vụ bắt cóc trung tá Mỹ Michael Smolen tại Caracas để đòi đổi lấy mạng sống của anh Nguyễn Văn Trỗi vào năm 1964, đã từ trần ở tuổi 73 tuổi.

Ông Martínez, được mọi người biết đến với cái tên thân mật Tư lệnh Ruiz, là một trong nhóm 4 du kích Venezuela tham gia bắt cóc Smolen - tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ tại Venezuela khi đó. Tới trước khi ông Martínez mất vào ngày 21/2 vừa qua, ông là người du kích cuối cùng còn sống từng tham gia vụ bắt cóc nổi tiếng nói trên.

[Indonesia khẳng định bảo vệ nghi phạm vụ giết ông Kim Jong-nam]
[Malaysia điều tra nguồn gốc chất độc khiến ông Kim Jong-nam tử vong]

Vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, các phong trào du kích phát triển mạnh mẽ tại Venezuela, trong đó có Lực lượng Vũ trang giải phóng dân tộc (FALN) dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Luis Correa.

Ông Correa đã lên kế hoạch để 12 thành viên FALN, trong đó có ông Martínez, bắt cóc tùy viên quân sự Mỹ Smolen nhằm đòi Nhà Trắng trả tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi lúc đó bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam và bị kết án tử hình vì vụ đánh bom bất thành nhằm vào Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara ngày 2/5/1964 tại cầu Công lý. Các du kích Venezuela yêu cầu thả anh Nguyễn Văn Trỗi để đổi lấy mạng Smolen.

Yêu cầu đổi Smolen lấy anh hùng Nguyễn Văn Trỗi của nhóm du kích được công bố rộng rãi trên báo chí Venezuela. Mỹ tuyên bố đồng ý với điều kiện của FALN và đề nghị các du kích Venezuela cho thêm thời gian nhưng trên thực tế để mở chiến dịch săn lùng. Do khó khăn về thông tin và phải trốn chạy cùng Smolen, nên các du kích tuyên bố thả Smolen và mong muốn chính quyền Mỹ cũng sẽ thả anh Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi Smolen được thả 3 ngày, anh Nguyễn Văn Trỗi đã bị chế độ ngụy quyền xử bắn.

Sau đó, ông Martínez bị bắt và tra tấn vô cùng dã man. Tòa án quân sự Venezuela đã tuyên án 12 năm tù. 12 du kích tham gia vụ bắt cóc Smolen năm đó đều bị bắt và một người đã hy sinh.

Ông Martínez từng chia sẻ với báo giới rằng anh Nguyễn Văn Trỗi không bao giờ chết, anh sẽ sống mãi và nếu được làm lại ông vẫn sẽ làm như vậy. Với du kích quân Venezuela, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là nguồn cổ vũ, động viên vô cùng to lớn. Ông từng khẳng định việc bắt cóc sĩ quan Mỹ là hành động thể hiện tình đoàn kết với Việt Nam, với thế giới tiến bộ.

Những hình ảnh của các du kích Venezuela sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình, trong đó có ông Martínez, vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta sẽ còn sống mãi trong trái tim của mỗi người Việt Nam./.

Nguồn: VietnamPlus

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Hành khúc ngày bình yên

Tưởng nhớ bạn Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân

Nguyễn Tiến Quân - K6

B3
1953
1979 – Liệt sĩ, Hy sinh 18-2-1979, Mặt trận Lạng Sơn
Mb: - Nr: - Cq: - FB: - Email: - Blog: http://anh-bantroik6.blogspot.com/2012/10/nguyen-tien-quan.html - HN - VN
Liệt sĩ - - -
3AE - Nguyễn Quang Việt K5, Nguyễn Thế Bắc K5, Nguyễn Tiến Quân K6

1966

197x



Đăng lại sáng tác của anh Bắc Hải (3Chai) viết cho LS Nguyễn Tiến Quân K6 hy sinh trong chiến tranh chống TQ xâm lược 2/1979.
Rất tiếc là bản gốc hát mộc của anh Hải lưu trên mạng bị hỏng, khi nào khôi phục lại được sẽ gửi lại ACE sau.

(1) Tráng ca cho ngày bình yên

Ngày bình yên ngồi bên nhau
Bạn đời ơi hát một câu quân hành
Đường làng tôi xanh lũy tre
Tre xanh đã bao đời
Xanh như mái tóc người ngày ra đi


(Điệp khúc)

Đầu xanh xanh mãi không bạc
Hình anh non nước ghi tạc
Thành câu tráng ca cho ngày bình yên
Đầu xanh xanh mãi không bạc
Người đi còn khúc quân hành
Để tôi hát tiếp khúc ca của anh
Đầu xanh xanh mãi không bạc
Người theo Ông Gióng lên trời
Còn ai Vọng Phu chờ mãi trong đời

1/2/2009
(2) Hành khúc ngày bình yên

Làng quê tôi xanh lũy tre
Chiều bình yên vẫn thoảng nghe quân hành
Chiều bình yên như lá xanh
Xanh bao đời như tóc người ngày ra đi.


Điệp khúc

Đầu xanh ơi mãi không bạc
Tóc xanh bay mãi lên trời
Để lại tóc bạc cho người chờ trông
Vọng Phu nghìn năm vẫn đợi
Tuổi ai mười tám suốt đời
Người đi thành khúc ca cho ngày bình yên


Trần Bắc Hải

Trần Bắc Hải - K5

B2-A1
20 4 1953

mb 0401033899, 00.61401033899 - nr8421673 - cq - tranbachai@yahoo.com- ---Adelaide-Úc
- - -
- ACE:

1979

17/05/2015

, 16/2/2009





HÀNH KHÚC NGÀY BÌNH YÊN


Làng quê tôi xanh lũy tre
Chiều bình yên thoảng vẫn nghe quân hành
Chiều bình yên màu lá xanh
Xanh bao đời như tóc người ngày ra đi


ĐK
Đầu xanh ơi mãi không bạc
Tóc xanh đi mãi lưng trời
Để lại tóc bạc cho người Vọng Phu
Vọng Phu ngàn năm vẫn đợi
Tóc xanh mười tám suốt đời
Để lại bình yên một khúc quân hành

Ngày ra đi bên trái tim
Mảnh lụa thêu đôi cánh chim hòa bình
Đường trường chinh hun hút xa
Trên quê nhà in dấu chân ngựa Ông Gióng


ĐK

 





Hành khúc ngày bình yên.


Nhạc sĩ Yên Lam phối khí và thu âm, tốp nam trình diễn.