Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Tháng bảy về nhớ Kim Trung

Kỷ niệm 72 năm ngày Thương Binh, Liệt Sỹ 27/07/2019

Tháng bảy về nhớ Kim Trung

Nguyễn Chỉnh Huấn - K5


Tội nghiệp nó Anh Hùng mà hổng có mỹ nhân, giấy kêu đi học hàng hải Ba Lan thảy gió cuốn...
Mấy năm trước, năm nào tụi tao cũng tới thăm mày một đôi lần, năm nay tứ tán mà bóng chiều dường trĩu nặng chân, hiểu cho tụi tao nghe...
Nguồn: FB Huan Chinh - 22/07/2019 12:24

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

Ban LL K7 và bạn K9 thắp hương tại mộ bạn Nguyễn Khắc Bình

Ban LL K7 và bạn K9 thắp hương tại mộ bạn Nguyễn Khắc Bình

Hoàng Mạnh Thắng


Vừa vào đến Nghĩa trang LS xã Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình thắp hương tại mộ bạn Nguyễn Khắc Bình Liệt sĩ Khóa 7 trường VHQĐ-TSQ NGUYỄN VĂN TRỖI cùng Đoàn Bình, Hồ Sĩ Bàng và hai bạn gái 10D trường Nguyễn Trãi (cùng học một lớp với Bình).
Nhớ Bình!

Ảnh Hoàng Mạnh Thắng, Hồ Bàng.
Nghĩa Trang liệt sĩ Cảnh Dương.

Mộ liệt sĩ Nguyễn Khắc Bình.

Chị tâm sự với người em liệt sĩ.

Gửi hương hồn bạn!


Nguồn: Mạnh Thắng Hoàng - 21/7/2019.

Thắp hương Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo K5...

Kỷ niệm 72 năm ngày Thương Binh, Liệt Sỹ 27/07/2019

Thắp hương Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo K5...

Ngô Thế Vinh
Nhân dịp kỷ niệm 72 năm ngày Thương Binh, Liệt Sỹ 27/07/2019, ngày 21/07/2019 Bạn Trỗi K5 đã cùng anh Phạm Văn Hiển, anh trai Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo về quê ở xã Toàn Thắng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương thắp hương tưởng nhớ các Cụ và Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo (Khi đi bộ đội bạn Hạo đổi tên thành Phạm Vũ Nhân).
Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo sinh năm 1953, nguyên là Học viên Khóa 5 trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi. Bạn nhập ngũ tháng 12/1970 ở đơn vị "Công Trường 7" Tây Ninh, hy sinh tháng 08/1971. Mãi đến năm 1997, gia đình mới đưa được bạn về với quê hương.
Kỷ niệm ngày Thương Binh, Liệt sỹ chúng ta đời đời ghi nhớ công lao to lớn của các Thương Binh, liệt Sỹ trong đó có có Liệt Sỹ Phạm Văn Hạo. Cầu Mong Linh hồn Bạn thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng, phù hộ độ trì cho gia đình, anh em, bạn bè...

Hong Phuong Pham >> Bạn Trỗi K5 21/7/2019 16:54
Tiến tới kỷ niệm 72 năm ngày Thương Binh Liệt sĩ. Sáng nay - 21/07/2019, 7 người chúng tôi gồm: Hoàng Việt, Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Hồng Phương, Phan Tuấn Khôi, Ngô Thế Vinh, Võ Minh Đạo, Bùi Chương thay mặt các bạn K5 NVT đã về xã Toàn Thắng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương để thắp hương tưởng nhớ Liệt sĩ Phạm Văn Hạo (Khi đi bộ đội bạn Hạo đổi tên thành Phạm Vũ Nhân). Cùng đi có anh Phạm Văn Hiển, anh trai của bạn Phạm Văn Hạo.
Cầu chúc cho linh hồn Bạn luôn thanh thản nơi cõi vĩnh hằng, phù hộ độ trì cho gia đình, bạn bè và đất nước.
Các bạn Trỗi K5 mãi mãi tưởng nhớ đến Bạn.


72 PHẠM VŨ NHÂN 1953 12-1970 26-8-1971



Bà Nội Sunny
Gia đình chân thành cảm ơn các bạn k 5 đã về thắp hương cho Hạo .Chúc các bạn có nhiều sức khỏe , hẹn lần tới các bạn về càng đông càng vui


FB Ngô Thế Vinh >> BẠN NVT - 21/7/2019 14:57

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Chuyện ít biết về liệt sỹ Võ Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Trần Kiến Quốc

Chiều ngày 23/7/2017, 30 thầy trò khóa 5 trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-1970) lần đầu tiên tới thăm quê ngoại liệt sĩ Võ Dũng. Trên hai chiếc vỏ lãi, chúng tôi theo con rạch chừng 2km tới nhà con trai dì thứ ba của Võ Dũng. Mọi người được gia đình đón tiếp thịnh tình, rồi cùng ra “Trần Môn Chi Mộ” thắp hương cho các cụ cùng cô Trần Kim Anh, Võ Dũng và 2 em Phan Ánh Hồng, Phan Chí Tâm.

Liệt sỹ Võ Dũng.


Họ Trần, một dòng họ có tiếng ở Sóc Trăng

Ông Trần Văn Ngưu, tự Nhất Ngưu – Cố ngoại1 của Võ Dũng, người con thứ sáu của ông Trần Quang – vị quan trong thành Vĩnh Long, dưới quyền của cụ Phan Thanh Giản. Thành Vĩnh Long thất thủ, ông Trần Quang đưa vợ con về làng Trường Thạnh, Cần Thơ, dặn không theo Pháp rồi ông đi biệt tích. Để giấu gốc tích, bà Trần Quang dẫn 6 người con đến Kinh Sáng, vùng đất thuộc thị xã Ngã Năm ngày nay, sinh sống.

Cuối thế kỷ thứ 18 (khoảng năm 1890) ông Trần Văn Ngưu đưa vợ con đến khu vực hoang vu này. Bấy giờ xung quanh là rừng, lau sậy rậm rạp, kênh rạch chằng chịt… Dân quanh vùng khuyên nên cắm sào giữa sông, ngủ trên ghe và đốt lửa trên bờ phòng thú dữ mò về.

Cụ Trần Văn Ngưu cùng con trai lớn thứ năm Trần Quang Quy khảo sát và quyết định lập nghiệp ở vùng đất cách chợ nổi Ngã Năm chừng 5km đường sông. Sau 10 năm khai khẩn, thấy khu vực này trũng, cá từ khắp nơi đổ về, ông Ngưu tìm cách đắp đập và khai thác cá. Ông thuê cả một vùng đất rộng để khai thác cá.

Ông Trần Văn Ngưu có 9 người con, trong đó ông Trần Quang Quy (ông ngoại Võ Dũng) là con trai lớn. Ông Ngưu mất năm 1928. Ông Quy có 7 người con: dì hai Trần Thị Chơi, dì ba Trần Thị Giác, cậu tư Trần Tấn Lướt, cậu năm Trần Tấn Khả, cậu sáu Trần Quang Hiến, má của Võ Dũng là con gái thứ bảy Trần Kim Anh, cô út Trần Kim Em.

Năm 1929, ông Ngưu mua máy xay xát lúa, đặt tại chợ Ngã Năm. Nhà cửa được xây theo kiến trúc Pháp cùng một ngôi đình. Cứ dịp tết hay thu hoạch mùa màng, ông cho rước gánh hát bội về hát cho bà con nghe.

Từ khi đến đây lập nghiệp, dòng họ Trần được dân làng kính trọng. Nhiều người xin vào làm mướn rồi định cư đến giờ. Người nghèo được ông cho lúa gạo, cấp đất cất nhà.

Có tư tưởng tân tiến, tiếp thu văn hóa thị thành, khi con trai, con gái còn nhỏ ông cho thuê gia sư giỏi về nhà dạy học; khi các con trai đã lớn ông cho đi học trường Lyséum Bassac Cần Thơ. Ngày đó con gái không được đến trường nên 2 cô út Kim Anh, Kim Em được đưa ra chợ Ngã Năm học mỗi ngày. Người trong làng ngày nay vẫn nhắc đến 2 cô con gái xinh đẹp, công dung ngôn hạnh, mỗi khi xuống ghe tam bản hầu 2 để đi học thì cửa ghe đóng lại, không ai nhìn thấy.

Ngày Cụ Hồ kêu gọi toàn dân ủng hộ chính phủ, ông Năm Quy hiến vàng bạc, 3300 công đất cùng nhiều đồ đồng (thau nồi, lư đồng …) để đúc súng đạn, chỉ giữ lại 100 công đất nơi có mộ phần cha mẹ. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ông cho phá nhà lớn và ngôi đình “tiêu thổ kháng chiến”, máy móc xay xát được tháo về, cho đốt khung bao nhà máy.

Sau này, ông cho ráp lại máy móc tại rạch Đường Mốp; vừa xay lúa cho dân, vừa xay lúa cho cách mạng, cung cấp gạo cho Tỉnh ủy Long Châu Hà. Do bị chỉ điểm nên Pháp đã vào bỏ bom xăng, làm cháy một phần nhà máy. Ông kiên trì sửa chữa cho đến khi không còn ráp lại được nữa.

Chiến tranh làm mất hết tài sản, mất cả con nhưng ông bà vẫn nén nỗi đau, dựng lại nhà, tiếp tục sinh sống. Đến năm 1964, khi bị thả hai trái bom trên vườn nhà, sau nhiều trận càn và tuổi đã cao, không còn đủ sức chạy bom đạn, ông mới rời quê về sống với người con trai thứ sáu tại số nhà 158 Nguyễn An Ninh, phường Vĩnh Bảo, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Tiếp tục nuôi giấu cán bộ, khi có điều kiện, ông tiếp tế thuốc men, cá khô, thuốc hút, phương tiện xe cộ…

Ông Trần Quang Quy mất năm 1972, bà mất sau ông một năm. Sự nhớ thương, mong chờ gặp lại Võ Dũng và Hiếu Dân không bao giờ thực hiện được. Còn Hiếu Dân sau này về vẫn cứ tiếc: “Ông bà ngoại mất mà không kịp đợi con về”.

Chú Sáu Dân và gia đình bên vợ

Năm 1949, chú Sáu Dân là Tỉnh ủy viên, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Rạch Giá. Một lần đi công tác, ghé qua lớp học của Hội Phụ nữ mở tại rạch Đường Mốp, chú sáu gặp cô Kim Anh. Ngay từ cái nhìn đầu tiên chú đã xao động. Hỏi thăm chú Hai Hữu đi cùng thì biết, đó là con gái ông Năm Quy - một gia đình giàu có, từng hiến đất cho cách mạng. Từ đó chú Sáu thường ghé thăm nhà cô Kim Anh. Chuyện tình bắt đầu.

Khi ngỏ lời cưới cô thì chị thứ hai và anh thứ tư băn khoăn: không biết gia đình chú Sáu ở đâu; cha mẹ, anh em thế nào? Rồi chú là cán bộ cách mạng, chưa biết sống chết ra sao… nên không muốn gả. Riêng ông Năm là người có tư tưởng tiến bộ và có cảm tình với chú Sáu, mặt khác người chị thứ ba biết cô Kim Anh thương chú Sáu nên cũng nói vào. Ông Năm đồng ý gả cô Kim Anh cho chú.

Sau ngày cưới, chú luôn giữ liên lạc với gia đình. Thời gian chống Pháp, chống Mỹ, mỗi lần đi công tác gần nhà, chú cũng tìm cách ghé qua thăm Ngoại. Chú quan tâm và nhớ hoàn cảnh từng người trong gia đình.

Những chuyến về quê thăm mộ phần các cụ, chú Sáu vẫn nhắc lại kỷ niệm cũ: “… Ngày xưa không có chuyện rủ nhau đi chơi… - rồi chú nhìn Hiếu Dân cười - Ngày tết, đến nhà Ngoại là ba “xung phong” chụm lửa nấu bánh tét để được nói chuyện với má bay...”. Nhắc lại chuyện tình của ba má, Hiếu Dân trêu: “Ba đi vận động cách mạng Ngoại rồi “vận động” luôn cả má con… Con biết rồi, ba cưới má khi mới 17 nghen?”. Lúc đó chú Sáu vui vẻ: “Đâu có, má mày sắp 18 mà!” rồi cười mãn nguyện.

Sau này nghỉ hưu, thời gian sống ở nhà con gái Hiếu Dân, chú mới có thời gian dành cho gia đình bên vợ. Thỉnh thoảng chú cho rước bà chị thứ ba và anh thứ sáu lên chơi. Trong bữa cơm sum họp, chú thường nhắc lại chuyện ngày cưới: “Anh Sáu lấy những hạt gạo nhuộm đỏ, dán trên tấm kính chiếu thủy 2 chữ “Tổ Quốc”. Trong lễ tuyên hôn, cô dâu, chú rể trong bộ bà đen bằng vải san đầm; đứng trước bàn thờ Tổ quốc, xúc động như thấy có mình ở trong đó”.

Đám cưới cô chú được tổ chức đơn giản nhưng rất trang trọng, với sự chứng kiến của hai họ nội, ngoại cùng đông đảo bà con xóm giềng. Ông Nguyễn Thành Nhơn, bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, đại diện tổ chức và cũng là “đại diện nhà trai”.

Chú Sáu cưới cô Kim Anh năm 1950. Cưới xong sống ở nhà Ngoại. Sau này, chú cứ nhắc mãi cái ao sen nhà ngoại đã bị lấp, từng chứng kiến kỉ niệm đẹp của 2 người. Cũng năm ấy, chú có lệnh ra Bắc. Lúc đó cô Kim Anh đã có mang Võ Dũng.

Cùng chuyến đi còn có một cán bộ cũng có cô vợ trẻ. Cô Năm Liễu (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Kiên Giang), người hoạt động cách mạng trong vùng, chứng kiến cuộc chia tay của 2 cặp vợ chồng, đã kể: “Cả 2 cô vợ đều con nhà giàu, rất trẻ, đẹp. Cô thầm nghĩ, không biết rồi đây họ có chờ đợi chồng được hay không? Vì đi ra Bắc thì biết ngày nào trở lại, không biết ai còn, ai mất!

Lúc chuẩn bị đi, cô vợ kia khóc dữ lắm, làm chồng phải quay xuồng lại tới 2, 3 lần mới dứt đi được. Còn má con gan lắm, khi xuồng ba con đi xa rồi mới khóc… Thật buồn, người phụ nữ kia không chờ đợi được, đã đi lấy chồng. Đó cũng là một thực tế phũ phàng! Còn má Kim Anh của con vẫn một mực thủy chung, chờ ba bay trở về”.

Võ Dũng và những năm tháng sống ở bên ngoại

Tiễn chú Sáu đi Việt Bắc, cô Kim Anh vẫn sống ở nhà ông bà ngoại. Đầu năm 1951, cô sinh Võ Dũng mẹ tròn con vuông. Theo ý chú Sáu, cô đặt tên con trai đầu lòng là Phan Chí Dũng. Năm 1952, con trai thứ hai Phan Thanh Nam ra đời tại Việt Bắc. Biết tin, ông bà ngoại và má Võ Dũng muốn đưa Nam về sống bên ngoại.

Ở miền Nam, Võ Dũng lớn lên trong sự bảo bọc của ông bà ngoại. Ngoại thương Võ Dũng nhiều nhất vì là đứa cháu duy nhất còn sống với ông bà, hơn nữa ba Dũng đi làm cách mạng chưa về… Ngoại cũng thương má của Dũng vì là con gái út, lại phải sống xa chồng. Cô Kim Anh còn xắn áo xắn quần, đi nhổ mạ cấy lúa, giã gạo phồng cả tay… để “tự cải tạo thành phần” gia đình.

Khi má Kim Anh đi thăm ba, dẫn Dũng theo sợ lộ nên đã gửi Dũng ở nhà với Ngoại. Cậu Sáu Hiến thương cháu, đi đâu cũng cho Dũng đi cùng.

Năm 1954, khi Dũng được 4 tuổi, chú Sáu trở về. Đó là lần đầu cha con gặp nhau. Thời gian đó, chú hoạt động ở Bạc Liêu nên cô đi đi về về. Đầu năm 1956, Ngoại đưa cô Kim Anh ra bệnh viện Cần Thơ sinh Hiếu Dân; rồi năm 1962 sinh em Ánh Hồng.

Năm 1965, cô về nhà Ngoại, sinh em Chí Tâm ở Rạch Giá. Đầu năm 1966, trên đường lên thăm chú Sáu, cô đã mất cùng 2 em trên con tầu Thuận Phong.

Tuổi thơ của Võ Dũng ở nhà Ngoại có rất nhiều kỷ niệm. Ai cũng nhớ, Dũng rất nghịch, từng bắt gà lôi của ông ngoại nhổ lông đuôi, gắn vào lưng quần, vừa khom lưng chạy vừa kêu “lức lức”; hay lấy lưỡi cưa trong nhà máy xay dắt vào lưng giả làm kiếm. Mỗi lần giục đi tắm thì cứ chạy vòng vòng quanh đống trấu. Tới giờ đi học thì lần khân, có khi trèo tót lên cây xoài, ngồi vắt vẻo không chịu xuống, má phải cầm roi mới đi…

Võ Dũng ở nhà Ngoại đến năm 1959 thì cùng má và Hiếu Dân qua Phnôm-pênh sống với ba. Ở đó, Dũng được học tiếng Pháp ở trường Lạc Hồng. Dũng rất nghịch, hay ném ống bơ cát qua nhà bên cạnh, bị thưa cảnh sát. Cảnh sát đến kiểm tra, làm cơ quan ta sợ địa điểm bị lộ, phải chuyển.


Gia đình cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.



Ra Bắc rồi về Nam

Từ Phnôm-pênh, Dũng được các chú cho bay sang Hồng-Kông rồi đi phà biển vào Quảng Châu. Từ đây đi tầu liên vận về Hà Nội. Cô Bảy Huệ (phu nhân ông Nguyễn Văn Linh3) đón Dũng về nuôi.

Dũng được gửi xuống Hải Phòng học Trường Học sinh miền Nam số 19, 21 ở Cầu Rào. Đến năm 1963, Bộ Giáo dục trả số học sinh có ba mẹ hoặc người thân ở ngoài Bắc về với gia đình, Dũng lại về nhà cô Bảy Huệ. Dũng và Hiếu Dân được cô chăm sóc và coi cô như má. Các em trong nhà thì gọi Dũng là anh Hai.

Hè năm 1965, cô đưa Dũng lên Trường Văn hóa quân đội ở Trại Hòe, Hà Bắc, bắt đầu cuộc sống Thiếu sinh quân. Có lẽ vì từng tiếp xúc với lính Mỹ, ngụy mà những ngày ở trường, Dũng không hề sợ khi máy bay Mỹ bay qua. Có báo động, Dũng toàn đứng trên nóc hầm theo dõi trận không chiến. Khi thấy tên lửa SAM hay Mig-21 của ta bắn cháy máy bay Mỹ, Dũng nhảy lên hò reo.

Do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ mở rộng, nhà trường di chuyển từ Trại Hòe lên An Mỹ, Đại Từ, Bắc Thái rồi sang Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc… Xa má đã 7 năm mà không có thư từ. Sốt ruột, hỏi thăm ba thì ba không trả lời. Hai anh em linh cảm có điều gì chẳng lành. Dũng bỏ học, nhiều lần xin được về nước chiến đấu. Cuối cùng, Chính ủy Bùi Khắc Quỳnh phải đồng ý.

Về nước, các chú ở Tổng cục Chính trị cho đi học tiếp nhưng Dũng quyết xin về Nam. Thuyết phục không được, các chú cho Dũng về Trường Quân chính QK Tả Ngạn. Tại đây Dũng được học các yếu lĩnh cơ bản của người lính trận: lăn lê, bò toài, đào hầm hào, hành quân, bắn súng, ném lựu đạn, đặt mìn…

Mãn khóa, các chú có ý định cho Dũng đi theo đường qua Hồng-Kông về Campuchia. Dũng lắc đầu: “Mọi người có thể đi dọc Trường Sơn vào B2 thì cháu cũng đi được”. Tháng 8/1969, khi tập trung ở Đoàn huấn luyện cán bộ đi B trên Lương Sơn, Hòa Bình, các chú muốn phát cho Dũng tăng bạt, quần áo, đồ dùng tốt hơn, Dũng cũng không đồng ý.

Trước ngày lên đường, cô Bảy Huệ, cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Các cô rất lo, thằng cháu nghịch ngợm từ bé sẽ sống thế nào suốt dọc đường vào Nam, nó mà vô kỉ luật thì không chỉ tổn thất cho mình nó. Hiểu lo lắng đó, Dũng trả lời: “Các cô và em yên tâm đi, con sẽ không làm cô và em phải hổ thẹn. Con đi lần này, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực!”. Hai cô rơm rớm nước mắt thương thằng cháu đã mất má và 2 em, giờ lại đi vào nơi hòn tên mũi đạn có thể dính bất kì lúc nào.

Cuối năm 1969, lên đường đi B. Anh Long, chị Phương cùng chuyến đi với Dũng kể lại, suốt dọc đường không ai biết nó là con ông to, lúc nào cũng vui cười, luôn kể chuyện, tán dóc, luôn sẵn sàng khoác ba-lô, súng đạn giúp người khác, có điếu thuốc thì cùng hút. Ngày chia tay các anh rẽ xuống B5 miền Trung, Dũng lấy trong ba-lô ra tút thuốc, chia đôi: “Anh cầm đi mà hút, em có rồi. Hết thì hút thuốc rê”.

Về đến căn cứ R trên Tây Ninh, ba, con gặp nhau. Nước mắt rưng rưng, chú Sáu ôm Dũng vào lòng: “Từ Rạch Giá, má con bế thằng Tâm mới 4 tháng tuổi, dắt theo Ánh Hồng đi cùng cô Ba giao liên, lên xe đò đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn lên con tầu Thuận Phong vẫn thường chở vợ con sĩ quan ngụy đi thăm chồng trên Tây Ninh.

Không ngờ khi tầu rời bến thì công lệnh “cấm tầu bè qua lại trên đoạn đường sông qua Củ Chi” do lính Mỹ mở trận càn trên sông, đã phát, nhưng nhân viên công vụ lại đi uống cà phê nên lệnh cấm đến trễ. Tàu đã xuất bến.

Sau hơn một giờ đồng hồ, con tầu vào khu vực cấm. Trực thăng UH-1 vè vè trên đầu. Chủ tầu cho tàu chạy ra giữa sông rồi cho trải cờ 3 sọc trên nóc. Phi công trên UH-1 điện về bến tầu thì biết công lệnh đã phát. Cho là “tàu Việt Cộng cải trang” nên từ trên UH-1 đã bắn rốc-két xuống tàu. Tàu chìm. Nhiều người bị chết và bị thương, nhiều người tìm cách bơi vào bờ, nhưng chúng tiếp tục quần thảo, bắn rát…

Nghe tin má và 2 em đi trên con tầu này, ba cùng các chú đã đi dọc bờ sông phía thượng nguồn tìm kiếm mấy ngày trời. Nhà Ngoại xin cấp giấy phép thuê tầu đi suốt từ hạ lưu sông Sài Gòn lên Củ Chi tìm mà không thấy. Đau lắm. Sợ con và em Hiếu Dân biết, buồn mà sinh bệnh nên ba dặn các chú giấu các con.

Giờ, con về đây, ba, con mình có nhau, làm cho ba vơi đi nỗi buồn vì mất mát lớn quá…”.

Cũng buổi đầu tiên gặp lại ba, Dũng kể chuyện được gặp Bác: “Cuối năm 1968, Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn” về Phủ Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam, con và em Dân cũng được dự. Các bạn thiếu nhi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo và ân cần hỏi thăm học tập ra sao, có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ, thầy cô.

Đến lượt con, Bác hỏi: “Cháu có ngoan không?”. Con khoanh tay lễ phép: “Dạ, cháu còn nghịch, chưa ngoan ạ!”. Bác xoa đầu con: “Giỏi! Cháu thật thà như vậy là tốt, nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!”. Nói rồi, Bác chia phần kẹo cho con”. Nghe đến đây chú Sáu xúc động ghì chặt Dũng vào lòng.

Về tới B2 nhưng không muốn sống ở trên chiến khu nên Dũng nằng nặc đòi đi chiến đấu. Chú Sáu thắt ruột vì còn thương nó mới từ miền Bắc vào nhưng trước sự kiên quyết của Dũng, chú đã gửi con cho các chú dưới đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Thương chú Sáu, các chú xếp Dũng về đơn vị thông tin. Chỉ một thời gian, Dũng không muốn làm lính thông tin: “Suốt ngày ngồi trực bên máy, con không chịu được. Phải cho con về quê má, xuống đơn vị…”.

Tháng 6/1971, Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9, gần quê ngoại. Tháng 10 năm đó, Dũng giấu ba, nằng nặc xin các chú xuống Trung đội 2 (Tiểu đoàn 3 trinh sát). Đơn vị đóng ở Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, chỉ cách nhà chừng 30km. Về trinh sát, Dũng không cậy mình là “con ông cháu cha” từ ngoài Bắc vào mà cùng chia lửa với anh em. Cùng đi trinh sát, cùng lặn lội sông nước điều nghiên. Ai cũng quý.

Chú Sáu Nam 4 ngày đó là Tư lệnh Khu 9, nghe có con trai đồng đội về làm lính trinh sát; chưa kịp kéo Dũng lên cơ quan thì nghe tin đau, Dũng đã hy sinh ngày 21/4/1972.

Sớm hôm đó, Dũng đi trinh sát cùng 2 đồng đội, không ngờ bị lọt vào ổ phục kích. Chúng bất ngờ xả đạn làm 3 chiến sĩ không kịp trở tay. Cả 3 hy sinh. Biết tin, đơn vị cử người tìm xác, chôn cất ngay bờ kênh Tây Ký (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá).

Nơi yên nghỉ cuối cùng của cô Kim Anh, Võ Dũng và 2 em

Ông Trần Quang Hiến nhớ lại: “Tới năm 1980, dượng Bảy (cô Kim Anh vợ chú là thứ bảy) mới cho bốc hài cốt Võ Dũng. Sau khi đưa đi hóa thân hoàn vũ, di cốt Dũng được để ngay trong phòng của dượng ở An Phú, quận 2. Từ đó, Dũng luôn được ở bên cạnh ba”.

Sau ngày con tầu Thuận Phong được cẩu lên nhưng bên trong chả còn lại gì. Chú cho xây 3 ngôi mộ gió cho cô Kim Anh và 2 em, ngay tại Củ Chi, nơi con tầu Thuận Phong bị bắn chìm. Sau này mới làm mộ gió cho cô và 2 em ở NTLS TPHCM, không xa Tượng đài Bà má Việt Nam anh hùng.

20 năm sau ngày cô Kim Anh ra đi, có người gợi ý làm thủ tục truy tặng danh hiệu liệt sỹ cho cô. Chú lắc đầu: “Mất mát của gia đình tôi cũng như mất mát của hàng triệu gia đình Việt. Đã 20 năm rồi, vết thương chưa thể lành hẳn nhưng làm việc đó để làm gì? Nếu làm chỉ khoét thêm nỗi đau bấy lâu!”.

… Năm 1982, được Quốc hội phê chuẩn là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước, Phó chủ tịch rồi Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, chú Sáu phải ra Hà Nội. Chú cho đưa hài cốt Dũng vào nằm bên cạnh mộ gió má và 2 em.

Năm 2005, khi đã nghỉ hưu, chú quyết định đưa 4 má con về quê ngoại ở Sóc Trăng. Hôm đưa Dũng về quê ngoại, chú Sáu không về được. Suốt dọc đường từ TPHCM, Hiếu Dân ôm anh mình trên tay cho đến khi hạ anh xuống lòng đất mẹ. Nhìn Hiếu Dân ai cũng đều xúc động vì Hiếu Dân mất gần hết: má, anh Hai Dũng cùng 2 em; giờ chỉ còn lại một mình và anh Ba Nam…”.

Bia tưởng niệm cho 4 má con được chuẩn bị từ trước, do 2 điêu khắc gia Nguyễn Văn Sánh, Vũ Thế Thái thực hiện. Chân dung cô Kim Anh ở giữa, 2 bên là Ánh Hồng và Chí Tâm, phía dưới là Võ Dũng. Không được gặp má và 2 em nên khó hình dung, nhưng hình tượng Võ Dũng trên bức phù điêu rất sống động, có nhiều nét giống Dũng ngày ở trường.

Trước nấm mộ của má Kim Anh, Võ Dũng và 2 em, Võ Thúc Minh – bạn thuở Thiếu sinh quân chống Mỹ – xúc động kể: “Trước ngày chia tay, Dũng nhờ tôi xăm lên cánh tay 2 chữ “Hoài Mẫu”. Tôi cầm cái kim khâu đã quấn chỉ, chấm mũi kim vào bát mực Tàu, run run chích từng mũi lên da thịt bạn. Máu bật ra, đau lắm. Mắt rơm rớm nhưng Dũng cắn răng chịu đựng. Tôi hiểu Dũng nhớ má, yêu má đến chừng nào…”.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2018
Trần Kiến Quốc

1. Trong Nam bộ gọi cụ là cố.
2. Một loại thuyền nhỏ có mui.
3. Sau này là Tổng bí thư Đảng CSVN.
4. Sau này là Đại tướng Lê Đức Anh.


Báo điện tử Đại Đoàn Kết - 10:00:28 09/08/2018

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Vĩnh biệt Chị Phan Thị Quyên!

Vĩnh biệt Chị Phan Thị Quyên!

Tổng hợp
Tran Kienquoc 4 tháng 7/2019 ·
Tin buồn!

CHỊ PHAN THỊ QUYÊN, BÀ CHỊ CẢ CỦA TRƯỜNG, ĐÃ RA ĐI LÚC 04:41 SÁNG NAY 04/7/2019 (2/6 KỶ HỢI) THỌ 76 TUỔI.
Xin thông báo cho toàn thể thầy cô và anh chị em Trường VHQĐ-TSQ Nguyễn Văn Trỗi.
Kế hoạch viếng sẽ thông báo sau.




Tran Kienquoc 4 tháng 7/2019 ·
Thông báo lễ viếng

Chị Phan Thị Quyên mất 4g41 sáng nay 4/7/2019, thọ 76 tuổi.
Tang lễ tổ chức tại nhà riêng: 60 Trần Ngọc Diện, P Thảo Điền, Q2, TPHCM.
Thầy, bạn Trỗi tập trung viếng lúc 10g sáng thứ sáu 5/7/2019.
Động quan 4g sáng 6/7/2019. Bạn nào có xe riêng và thời gian thì thu xếp đưa chị về an nghỉ tại xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.




Tran Kienquoc >> Bạn Trỗi K5 5 tháng 7/2019
Vĩnh biệt chị cả Phan Thị Quyên

Sáng qua, từ 9g, thầy Phan Trung Trinh cùng các bạn Trỗi k2, k4, k5, k6, k7, k8 đã có mặt đông đủ trước nhà 60 Trần Ngọc Diện, Thảo Điền. Đêm hôm trước, anh Nguyễn Chiến k1 và Trưởng BLL Bùi Vinh cũng gọi điện vào dặn dò; thầy Phạm Đình Trọng, thầy Mai Duy Vọng cũng gửi email, gọi điện tới nhờ thắp giùm nén nhang.

Đúng 10g, ban tổ chức giới thiệu đoàn trường ta với vòng hoa mang dòng chữ "Thương tiếc chị cả Phan Thị Quyên - Thầy trò Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi (1965-70) TCCT - QĐNDVN". Nghẹn ngào thắp những nén nhang vĩnh việt chị.

Sau đó, các anh chị k2 còn có cuộc gặp mặt với bí thư, chủ tịch xã Điện Thắng cùng bí thư thị xã Điện Ngọc - quê hương Anh Trỗi, vừa vào tới nơi. Hẹn 1/8 này anh chị em k2 sẽ tới thăm Nhà tưởng niệm Anh.

Sáng 6/7/2019, các bạn Phan Nam, Kiến Quốc, Nhất Trung k5 cùng Phương Tuấn, Dương Đức Hải k8 sẽ cùng gia đình đưa chị về an nghỉ tại xã Tân Lợi Thạnh, Giồng Trôm, Bến Tre - quê hương anh Tư Dũng.




Hong Phuong Pham 5 tháng 7/2019
Chị Phan Thị Quyên, nguyên là vợ của Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã ra đi vào hồi 04h41 phút ngày 04/7/2019, hưởng thọ 76 tuổi.
Chị Quyên sinh năm 1944 và không phải là học sinh của Trường Văn hóa quân đội - Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, nhưng vì ngôi trường chúng tôi đã học (từ 1965 đến 1970) được mang tên anh Trỗi cho nên chị Quyên được vinh danh là bà chị cả của Nhà trường. Các cuộc gặp mặt truyền thống hàng năm của các thế hệ học sinh Trường Trỗi chúng tôi vẫn thường xuyên đón chị tham dự. Tôi cũng có trong tay cuốn tự truyện " Cuộc đời tôi " của Chị xuất bản năm 2016. Nay, được tin Chị đi xa, buồn quá. Xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình Chị.
Cảm ơn các bạn Trường Trỗi ở tp HCM hôm nay đã thay mặt chúng tôi đến chia buồn, thắp hương vĩnh biệt Chị.
Chị Quyên ơi, chúng em mãi mãi tưởng nhớ đến Chị.

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2019

K8 Thăm viếng Hang Tám Cô

K8 Gặp mặt Quảng Bình 2019 - Hành hương tri ân





K8 Thăm viếng Hang Tám Cô

Tổng hợp
29/6/2019: Dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ Đường 20 - Quyết Thắng & Hang Tám Cô tại xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình
Hang Tám Cô theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tọa độ: 17°30′01″B 106°15′23″Đ

Hang Tám Cô, tên chính thức là hang 8 Thanh niên xung phong, là di tích lịch sử gắn liền với việc 8 thanh niên xung phong gồm 4 nam, 4 nữ hi sinh trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ [1].

Hang Tám Cô thuộc xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, nằm trên con Đường 20 - Quyết Thắng nay là Đường tỉnh 562. Hang cách ngã tư với đường Hồ Chí Minh cỡ 3 km hướng tây nam [2].

Đường 20 – Quyết Thắng dài 125 km từ Phong Nha (Quảng Bình) đi Aky, Ta Lê đến Phulanhich (tỉnh Khammuane, Lào). Trong chiến tranh Việt Nam đây là một con đường huyết mạch chiến lược hết sức quan trọng trong công tác vận tải chi viện vào chiến trường Miền Nam. Trong cuộc chiến, quân đội Hoa Kỳ xác định đây là những điểm giao thông quan trọng, vận chuyển vũ khí, lương thực, xăng dầu,... vào chiến trường miền Nam nên quân đội Hoa Kỳ đã tập trung nhiều máy bay thả bom nhằm cắt đứt tuyến đường.

Ảnh FB K8 Trường VHQĐ Nguyễn Văn Trỗi

Phù Điêu kể về Sự Hy sinh Anh hùng của các Cô Gái TNXH
“Thân ngã xuống thành đất đai Tổ Quốc
Hồn bay lên hóa linh khí Quốc Gia”

Trần Thế Tuyển

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

K8 viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp


K8 Gặp mặt Quảng Bình 2019 - Hành hương tri ân

K8 viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngày 28/6/2019 - hoạt động đầu tiên của K8 tại TP Đồng Hới, Quảng Bình: dâng hương, Viếng mộ đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Vũng Chùa - Đảo Yến.

Ảnh Hoàng Long, Ha Nguyen Quang, Ngô Hoàng Hà, Vũ Tuấn.

Tại Vũng Chùa Đảo Yến.

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

K5, K6 Hành hương tri ân về Quảng Bình, Quảng Trị

"Hành hương tri ân" - Kỉ niệm ngày Thống nhất

K5, K6 Hành hương tri ân về Quảng Bình, Quảng Trị

Tổng hợp
"Hành hương tri ân" - Kỉ niệm ngày Thống nhất
Motto: "Ta gặp nhau"


Bạn bè k5 gặp nhau ở Quảng Bình và những việc làm được - TranKienQuoc, Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019, BÁO LIẾP "BẠN TRỖI K5", FB BẠN TRỖI K5.
Cơ bản là có cơ hội được gặp nhau của những cậu bé, cô bé từng học với nhau 54 năm trước, nay đã ngót nghét 7 xị; được du hí biết thêm phong cảnh đẹp và di tích lịch sử của đất nước và còn làm được những việc nghĩa.
Xin điểm qua chuyến đi này.

Chuyến đi được Cty du lịch chuyên nghiệp Phongnha Discovery Tours thực hiện. Họ là 30 thanh niên trẻ, có sức khỏe, có tiếng Anh, giàu tình yêu quê hương, có trình độ hướng dẫn chuyên nghiệp tổ chức.

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

K6 hành hương tri ân

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019

Đoàn K6 Thăm viếng Bến sông Thạch Hãn - Thành cổ Quảng Trị

Đoàn K6 Thăm viếng Bến sông Thạch Hãn - Thành cổ Quảng Trị

Tổng hợp

Nguyễn Kim Hồ 17 tháng 4/2019
Hôm nay 17/4/2019 tiếp tục viếng thăm Thành cổ Quảng Trị, Bến sông Thạch Hãn, Địa đạo Vĩnh Mốc, Cột cờ giới tuyến - Cầu Hiền Lương - Những địa danh gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.



Thành cổ Quảng Trị