Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Sống như Anh - trích nhật ký "Thế hệ Hồ Chí Minh"

Năm 2012, ông Huỳnh Văn Sáng (xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) đã trao cho phóng viên Báo Bình Dương một gói kỷ vật của liệt sĩ gồm: một quyển nhật ký và 6 bức ảnh đã nằm sâu dưới lòng đất gần 50 năm. Nhật ký dày 35 trang, dù bị chôn vùi hơn 46 năm qua nhưng từng nét chữ và những tấm ảnh được bọc bằng ni lông vẫn còn nguyên vẹn.

Sau khi đón nhận kỷ vật từ ông Sáng, Báo Bình Dương đã thực hiện loạt phóng sự “Kỷ vật từ lòng đất” (từ ngày 17 đến 22/9/2012), gây xúc động lòng người. Và từ quyển nhật ký quý giá này, Báo Bình Dương đã tìm ra nhân thân của liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên (sinh năm 1945, quê ấp Bà Bèo, xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên hy sinh năm 1966 trong một trận chiến đấu quyết liệt với kẻ thù khi còn rất trẻ.

Trích Báo Bình Dương
“Thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh” là tiêu đề của cuốn nhật ký mà tác giả - người lính đã trân trọng ghi ở trang đầu. Nội dung những trang viết là tình yêu quê hương, đất nước, tấm lòng son sắt hướng về Đảng, về Bác Hồ được tác giả nhắc lại nhiều lần trên đường hành quân... Tôi đã đọc nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm... và bây giờ là của một nữ chiến sĩ. Những dòng viết rất thật, như chắt lọc từ sâu thẳm tận đáy lòng..., như trải ra với những yêu thương, khát khao cống hiến đã vĩnh viễn là lý tưởng sống tuyệt đẹp cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
[...]
Những dòng chữ được viết đầu tiên vào tháng 12-1962 và trang cuối là ngày 20-10-1966. Nhiều trang giấy phía sau vẫn còn để trống, có lẽ lúc này người lính ấy đã hy sinh. Tính từ năm 1966 đến nay, nhật ký nằm dưới lòng đất cùng tác giả đã 46 năm nhưng lạ kỳ nét chữ, hình ảnh còn rõ ràng. Tác giả cuốn nhật ký là nữ chiến sĩ, cũng là sinh viên vừa rời mái trường xung phong vào mặt trận chiến đấu như anh Thạc, chị Trâm.
[...]
Chúng tôi thấy trong kỷ vật của chị có lưu giữ bức ảnh anh Trỗi trước pháp trường và chị dành nhiều trang viết đầy cảm xúc về gương hy sinh anh dũng của anh.

[...]
Hình ảnh người anh hùng trẻ tuổi bất khuất, kiên cường vào thời điểm đó đã trở thành thần tượng của nhiều thanh niên yêu nước. Do đó, trong hành trang của người lính trẻ, trong kỷ vật của các liệt sĩ thường lưu giữ hình ảnh anh Trỗi cũng là điều dễ hiểu. Riêng chị - người lính - tác giả cuốn nhật ký, có cùng lứa tuổi với anh Trỗi đã xem anh như là tấm gương sáng để noi theo trong học tập, chiến đấu. Bức ảnh của anh Trỗi kèm trong kỷ vật của chị, có dòng chữ:
“Nguyễn Văn Trỗi sống mãi, một Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống, hàng vạn Nguyễn Văn Trỗi đứng lên”.
Trên đường hành quân vào ngày 10-10-1966, nhớ về anh Trỗi, chị viết:
“Chỉ còn mấy ngày nữa là đến ngày kỷ niệm, ngày giỗ lần thứ 2 của anh Trỗi. Để thiết thực kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của anh, mình phải làm gì? Trong công tác đối với kẻ thù, đối với đồng chí, đồng đội phải như thế nào? Đạo đức người cách mạng, người cộng sản, đối với người thân yêu... đó là những vấn đề cần tính làm thế nào cho được tốt toàn diện...”.
Rồi đến ngày giỗ anh Trỗi 15-10-1966, chị làm bài thơ về anh:
“Quên sao được tháng mười - sáu bốn/ Ngày 15 anh Trỗi đã hy sinh/ Vì quyền dân tộc của mình/ Tự do độc lập dân sinh giống nòi/ Anh đã chết nhưng anh vẫn sống/ Sống trong lòng nam nữ thanh niên/ Tươi thêm giọt máu vào tim/ Hôm nay tôi lại nhớ đến anh/ Người đồng chí đấu tranh dũng cảm/ Gương anh khắc mãi trong tim/ Khí tiết cách mạng con đường Mác - Lê/ Nhớ anh, tôi nhớ lời anh dặn/ Nhớ anh, sống chiến đấu như anh/ Làm sao xứng với tuổi xanh/ Giải phóng đất nước đoạt thành ước mơ...”.
[...]
Và đôi khi chị có những dòng viết thoáng qua về tình cảm của bản thân với nỗi trăn trở, mất mát bởi chiến tranh gây nên. Ngày 21-1-1966, chị viết:
“Đến gặp anh C để bàn giao công tác. Một tin làm mình xúc động vô cùng vì người thân đã sa vào tay giặc ngày 8-1. Mình buồn và có suy nghĩ nhiều dù rằng đối với mình chưa có gì là khái niệm sâu sắc trong lòng, ngoài tình đồng chí, tình cảm cách mạng, nhưng mình coi anh ấy là người bạn... và cũng là người lý tưởng của mình...”.
Và để tự động viên sự mất mát của bản thân, chị viết:
“Mình lại nghĩ đến tình yêu cao thượng của anh Trỗi, chị Quyên, đôi vợ chồng vừa cưới nhau được 20 ngày, mới chung sống thời gian ít như vậy mà vội chia ly vĩnh viễn. Trường hợp mình cũng gần giống vậy nhưng mình phải đặt vào tổ chức kỷ luật cao...”.
Toàn bộ cuốn nhật ký, chỉ có mấy dòng ngắn ngủi trên dành cho chị nói về bản thân, một chút riêng tư. “Biết hy sinh nên chẳng nhiều lời”, “Khi Tổ quốc cần chúng mình biết hy sinh”, đó là lý tưởng của thanh niên khi dân tộc bị lâm nguy, có giặc ngoại xâm. Tình yêu thời chiến bao giờ cũng đẹp như huyền thoại.

Trích nhật ký "Thế hệ Hồ Chí Minh"

Trang đầu tiên của nhật ký

Những trang viết trong tập nhật ký

Anh Trỗi đứng hiên ngang trước họng súng quân thù
(ảnh lưu giữ kèm theo nhật ký)

Bài thơ kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 2 của anh Trỗi

Tác giả của quyển nhật ký - liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Thiên


- Tháng 12-1962: Rời mái trường trở về địa phương tham gia cách mạng. Vừa dạy học, vừa tham gia các mặt công tác kháng chiến ở địa phương.
[...]
- Ngày 20-10-1965: Về họp chi đoàn cơ quan
QUYẾT TÂM
SỐNG - CHIẾN ĐẤU
Như anh hùng liệt sĩ
NGUYỄN VĂN TRỖI.
[...]
- Ngày 21-1-1966: Đến gặp anh C. để bàn công tác. Một tin làm M. xúc động vô cùng: người thân (10T) đã rơi vào tay giặc hôm 8-1 (ngày đầu địch càn vào bắc C2). M. buồn và suy nghĩ nhiều. Dù rằng đối với M. chưa có gì là kỷ niệm sâu sắc, nhưng trong lòng ngoài tình đồng chí, tình cảm cách mạng ra, còn có tình yêu thương đồng chí, bước đầu của tình cảm riêng tư. Đó là tình đồng chí, là người bạn và coi như là người... lý tưởng của M.

M. lại nghĩ đến tình yêu thương cao thượng của anh Trỗi - chị Quyên. Đôi vợ chồng vừa cưới nhau 20 ngày, mới chung sống thời gian ít như vậy.

Biến đau thương thành hành động, giờ đây M. phải làm tốt mọi công tác được giao, là cơ sở chuẩn bị cho công tác mai sau (giáo dục). M. đã yên tâm phần nào, chỉ chờ đợi thời gian thực tế vào nắm tình hình, tích lũy kinh nghiệm qua việc đi sâu sát vào quần chúng, làm công tác tư tưởng quần chúng. Chính điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ của người làm công tác giáo dục.

Hãy lo hoàn thành tốt nhiệm vụ trước mắt...
[...]
-Ngày 10-10-1966: Chỉ còn mấy ngày nữa là tới ngày kỷ niệm, ngày giỗ thứ hai của anh Trỗi. Để thiết thực kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của anh, M. phải làm gì? Trong công tác: Đối với kẻ thù? Đối với đồng chí? Đối với bản thân? Đạo đức một người cách mạng, con người cộng sản? Đối với người thân yêu? Đó là những vấn đề cần phải làm thế nào cho được tốt, toàn diện.

Hãy đi lên để tìm chân lý sống!...


Nhớ anh

(Kỷ niệm ngày hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi)

Mến tặng anh Ng.V Tuấn trong nhà lao Mỹ - Thiệu - Kỳ

Quên sao được tháng 10 - sáu bốn!
Ngày 15 anh Trỗi đã hy sinh
Vì quyền dân tộc của mình
Tự do, độc lập, dân sinh giống nòi
Anh đã chết nhưng anh vẫn sống
Sống trong lòng nam nữ thanh niên
Tiếp thêm giọt máu vào tim
Một bầu nhiệt huyết, nhiệt tình đấu tranh.

***

Đêm nay tôi lại nhớ đến anh
Người đồng chí đấu tranh dũng cảm
Gương anh khắc mãi trong tim
Khí tiết cách mạng, con đường Mác - Lê
Nhớ anh, tôi nhớ lời anh dặn
Nhớ anh, sống chiến đấu như anh
Góp công giải phóng quê hương
Giành quyền dân tộc, tình thương giống nòi
Làm sao xứng với tuổi xanh
Giải phóng đất nước, đoạt thành ước mơ.


Quà mừng chiến thắng

(Kính tặng Đại hội DS2T)

Vui biết mấy trong ngày đại hội
Lòng rộn ràng thêu vội chiếc khăn
Tặng anh dũng sĩ ngoan cường
Món quà kỷ niệm, kính, thương anh nhiều
Ngày đêm chiến đấu quên mệt mỏi
Vượt mọi gian nguy tiến lên đường
Anh đi giải phóng quê hương
Anh đi bảo vệ tình thương dân mình
Lòng kính mến người anh dũng cảm
Lập chiến công rạng rỡ muôn nơi
Tên anh “Dũng sĩ” chói ngời
Người người, lớp lớp, đời đời theo anh!
Này bè lũ cướp nước hôi tanh
Đừng có hống hách, đừng mong được về
Vui thay, vui quá, vui ghê!
Người anh yêu nước tâm tình đi anh!



Nói đi em

(Mến tặng em H., người em cùng quê hương)

Em hỡi! Em ơi! Em nghĩ gì?
Rộn ràng, khấp khởi hay sầu bi?
Chuyện đời, tình cảm là thế ấy
Buồn, thương, hối hận mà làm chi...

***

Hãy nghĩ đến ngày mai tươi sáng
Miền Nam ta giải phóng tự do
Gia đình sum họp một nhà
Cùng nhau vui hát bài ca “Thanh bình”
Em yêu hỡi! Sao em không nói?
Nói đi em! Chị lắng nghe đây
Nghe em kể lại những ngày
Đấu tranh gian khổ, đắng cay kiên lòng
Bên nhau chiến đấu cùng lý tưởng
Vững lòng san phẳng mọi bất công
Bên nhau chiến đấu vì dân
Đạp bằng trở ngại, tiến lên diệt thù...

(Kỷ niệm ngày bị đau, trong đợt thi đua kỷ niệm 2 năm ngày anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, 17-10-1966)



Đọc sách

Nói đến đọc sách, nhà đại văn hào Mắcxim Goocky viết: “Càng đọc sách càng làm cho tôi gần với thế giới và công việc... càng thấy yêu quê hương và yêu nước Nga vô hạn”.

Một vị lãnh tụ cũng đã từng nói: “Một quyển sách hay, một bản nhạc tốt, một bài thơ hay có tác dụng như hàng binh đoàn xung phong ra trận diệt quân thù”.

(Ngày 20-10-1966)
KIẾN GIANG


Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TRỖI

(Qua một số tài liệu, hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975) giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đã có biết bao tấm gương hy sinh anh dũng trong chiến đấu và lao động sản xuất, và liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi là một trong những tấm gương sáng đó.



Ngày 2-5-1964, Nguyễn Văn Trỗi cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đặt mìn phá cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) để giết Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mác Namara, trưởng Phái đoàn quân sự cấp cao của Chính phủ Mỹ sang kiểm tra kế hoạch bình định miền Nam Việt Nam. Việc không thành, 22 giờ, ngày 9-5-1964 Nguyễn Văn Trỗi bị bắt và bị kết án tử hình. Để cứu Anh, một tổ chức du kích ở Venedzuela đòi trao đổi Anh với Đại tá Không quân Mỹ là Michael Smolen vừa bị tổ chức du kích này bắt cóc, và tuyên bố “Nếu ở Việt Nam xử bắn Nguyễn Văn Trỗi thì ở Venedzuela một giờ sau họ sẽ xử bắn Đại tá Smolen”. Tuy nhiên khi Michael Smolen vừa được tự do, Toà án quân sự của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã xử bắn Anh tại sân sau nhà lao Chí Hoà lúc 9 giờ 45 phút, ngày 15-10-1964.
Sau nhiều ngày tìm kiếm gia đình đã tìm được nơi Chính quyền Việt Nam Cộng hoà bí mật chôn xác Anh tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 17-10-1964, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và Huân chương Thành đồng hạng Nhất1.
Kỷ niệm 34 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 45 năm Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, xin giới thiệu một số tài liệu, hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh với anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hiện đang trưng bày và lưu giữ tại Kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

1/ Ảnh Nguyễn Văn Trỗi và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Hình ảnh cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi do một nhà quay phim, người Nhật chụp, khi anh đã giật tấm khăn bịt mắt và nói: “Tôi không có tội, kẻ có tội cần phải trừng trị là bọn xâm lược Mỹ và lũ Việt gian Nguyễn Khánh”. Trước khi bị bắn, Nguyễn Văn Trỗi hô to:
Hãy nhớ lấy lời tôi!
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!
Thương tiếc và xúc động trước tấm gương hy sinh anh dũng của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Vì Tổ quốc, vì nhân dân liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng.
Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là 1 tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”
Bức ảnh và bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh(2)Trưng bày trong Tuốcnickê 38, chủ đề 7, giai đoạn 1954-1969


2/ Sách “Sống như Anh”:

Một ngày sau khi anh Trỗi bị bắt, chị Phan Thị Quyên, vợ anh cũng bị bắt giam. Trong thời gian bị giam giữ, chị mới thực sự hiểu công việc của chồng và đồng đội, đồng thời hiểu về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, hiểu vì sao anh Trỗi tham gia chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Theo lời kể của chị Phan Thị Quyên2 về “những lần gặp gỡ cuối cùng” giữa chị với anh Trỗi từ khi bị giam cho đến khi bị xử bắn, tác giả - nhà văn miền Nam Trần Đình Vân đã viết và chuyển ra miền Bắc cuốn sách Sống như Anh. Ngày 20-7-1965, cuốn sách được Nhà xuất bản Văn học xuất bản lần thứ nhất 302.000 cuốn, 200.000 cuốn khổ 9cmx13cm, 100.000 cuốn khổ 13cmx19cm bằng giấy thường và 2000 cuốn in trên giấy tốt.
Bằng giọng văn chân thành, trong sáng, tác giả Trần Đình Vân đã giúp độc giả hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống, tình cảm của các chiến sĩ giải phóng quân, cũng như về cuộc đời, về hành động dũng cảm của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trong nhà tù và những phút giây làm nên lịch sử của Anh. Những giây phút đã làm cho nhiều nhà báo có mặt tại pháp trường phải xúc động, cảm phục và kẻ thù phải run sợ trước người thợ điện bình thường nhưng rất yêu nước, rất kiên chung. Chỉ 9 phút nhưng hành động của Anh, lời nói của Anh đã làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước, yêu hoà bình của Việt Nam và bạn bè trên toàn thế giới.


Sách “Sống như Anh”, trưng bày cùng với cuốn “Từ tuyến đầu Tổ quốc”, cùng chiếc balô và đôi dép cao su là những vật dụng thân thiết của mỗi chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Các hiện vật được trưng bày trong Tổ hợp chiến thắng, chủ đề 8, giai đoạn 1969-1975.

3/ Sách “Sống như Anh” bản dịch tiếng Nga:

Sách “Sống như Anh”, bản dịch tiếng Nga, do Nhà xuất bản Ngoại văn dịch và phát hành năm 1965. Sách dày 150 trang, kích thước 13cmx19cm, bìa ngoài là ảnh của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trên pháp trường. Nội dung sách được dịch từ bản tiếng Việt xuất bản lần thứ nhất của Nhà xuất bản Văn học năm 1965.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc và để lại bút tích của Người ở ngoài bìa, phía góc dưới, bên phải. Sau đó, sách được Phòng lưu trữ Phủ Thủ tướng bảo quản. Ngày 1-3-1972, Phòng lưu trữ Phủ Thủ tướng đã bàn giao cho Ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện cuốn sách đang được lưu giữ và bảo quản trong Kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

4/ Liên quan đến sự kiện Nguyễn Văn Trỗi, nhiều bài viết đăng trên báo Nhân Dân phản đối Mỹ, yêu cầu thả Nguyễn Văn Trỗi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc các bài này và để lại bút tích:

  • Báo Nhân Dân, số 3845, ngày 10-7-1964:
    Trang 4: “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng Venezuela ký Bản tuyên bố chung thứ 2 chống đế quốc xâm lược”.
  • Báo Nhân Dân, số 3849, ngày 14-10-1964:
    Trang 4: “Thông tấn xã giải phóng tuyên bố: Bọn Mỹ Khánh phải trả lại tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3860, ngày 25-10-1964:
    Trang 1: Bài “Hãy nhớ lấy lời tôi” của nhà thơ Tố Hữu và bài “Đại biểu các tôn giáo Hà Nội kịch liệt phản đối Mỹ - Khánh giết Nguyễn Văn Trỗi, đòi trả tự do ngay cho anh Lê Hồng Tư”
  • Báo Nhân Dân, số 3870, ngày 4-11-1964:
    Trang 4: “Phấn khởi trước chiến thắng oanh liệt của quân và dân miền Nam, noi gương chiến đấu anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3872, ngày 6-11-1964:
    Trang 1: “Các tổ chức nhân dân Liên Xô, Cuba, Angiêri lên án Mỹ và tay sai giết anh Nguyễn Văn Trỗi và đòi trả tự do cho anh Lê Hồng Tư - Học sinh, sinh viên Cuba học tập gương đấu tranh bất khuất của anh Nguyễn Văn Trỗi”.
  • Báo Nhân Dân, số 3887, ngày 21-11-1964:
    Trang 1: “Nam Định lập 253 đội xung kích Nguyễn Văn Trỗi”.
    Trang 4: Bài “Các tổ chức công đoàn Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên phản đối Mỹ - Khánh giết anh Nguyễn Văn Trỗi”- “Cơ quan đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng tại Cuba tố cáo sự lật lọng của Mỹ và tay sai”.
  • Báo Nhân Dân, số 3888, ngày 22-11-1964:
    Trang 4: “Các tổ chức hoà bình Liên Xô, Cuba, Pháp, Anh, Ý, Libăng phản đối Mỹ - Khánh giết Nguyễn Văn Trỗi và mưu giết Lê Hồng Tư”

5/ Tranh chân dung liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi:

Ngày 5-2-1966, Đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Italia do đồng chí Enrico Bớclinhguê, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Đảng bộ thành phố Rôma sang thăm hữu nghị Việt Nam3. Đoàn đã tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh bức ảnh chụp một phần của bức tranh vẽ cuộc chiến ở Việt Nam, trong đó diễn tả cảnh đưa anh Trỗi ra pháp trường. Bức tranh màu đen trắng, kích thước 53cmx75cm, đặt trong khung kính, khung màu xanh nhạt, kích thước 80cmx58cm. Bức tranh của tác giả Remot Guhuso vẽ ở Roma, ngày 28-11-1966, còn nguyên vẹn và đang được bảo quản trong Kho quà tặng của Bảo tàng Hồ Chí Minh.


Các tài liệu, hiện vật về Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đang trưng bày và lưu giữ Bảo tàng Hồ Chí Minh không nhiều nhưng rất có ý nghĩa. Các tài liệu, hiện vật góp phần tái hiện một cách sinh động hơn về cuộc kháng chiến ác liệt và gian khổ để giành độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân ta, đồng thời giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tình đoàn kết quốc tế trong sáng và sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi tuy chưa một lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh,

không còn được nhìn thấy nước nhà thống nhất, nhưng tấm gương anh dũng hy sinh vì độc lập tự do, vì thống nhất đất nước của Anh đã trở thành một biểu tượng sinh động cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Cùng với bao tấm gương anh hùng khác, sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã tô thắm thêm truyền thống yêu nước, yêu hoà bình của dân tộc Việt Nam và sự hy sinh cao quý đó đã góp phần mang lại một đất nước Việt Nam hoà bình độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh đang ngày càng hội nhập với bạn bè quốc tế như mong ước của Bác Hồ./.

Hà Minh Thu



Bảo tàng Hồ Chí Minh - Cập nhật lần cuối: 07/11/2016 04:07:44

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Anh Nghiêm Sỹ Chúng của Ls Nguyễn Văn Ngọc đã đi xa

Quan hệ của anh Chúng và Ngọc thế này... Ông già Ngọc hy sinh trong thời kì 9 năm khi 2 cụ mới chỉ có Ngọc. Còn vợ chú Nguyễn Chí Điềm (Nghiêm Nghị) - má anh Chúng - thì hi sinh cũng thời gian chống Pháp ở Chiến khu D, Nam bộ. (Nghe kể, cô bị con hổ thọt (bị bắn què 1 chân) vồ mất trong 1 đêm đi trong rừng!). Sau 1954, chú Điềm gặp cô Ngọ rồi 2 người xây dựng gia đình.
Những năm 60, chú Điềm là Lữ trưởng Lữ đoàn dù, sau chuyển thành sư 305 bộ đội đặc công. Chú là Tư lệnh đầu tiên của lực lượng đặc công. Cô chú sống ở Khu tập thể Nam Đồng và có thêm 2 em.

Khi chúng tôi vào Đại học Quân sự được 1 năm thì các anh khóa 1 tốt nghiệp. Trong đó, anh Chúng được giữ lại làm giáo viên cùng các anh Lê Anh Dũng, Hoàng Quốc Lập, Dương Thịnh Lợi... - những mẫu người lí tưởng của bọn lính năm thứ nhất chúng tôi.
Anh Chúng về dạy Chi tiết máy. Ngay khi tốt nghiệp, anh đã theo đội hình của nhà trường tăng cường cho chiến trường Quảng Trị.
Là con người có năng lực, thông minh, thẳng thắn nên sau 1975 khi cụ Đặng Quốc Bảo có 1 bài viết về công tác đào tạo cán bộ KHKTQS thì anh Chúng và anh Nguyễn Viết Tiến đã có những ý kiến phản biện sắc sảo nhưng trái chiều.
Khi chiến tranh biên giới phía bắc nổ ra, anh đã cùng anh Khúc Văn Nghi, anh Kim Long tăng cường cho Quân đoàn 14. Nhiều năm gắn bó với mặt trận bảo vệ biên giới phía bắc, anh đã trưởng thành, đảm nhiệm các cấp trưởng từ phòng Quân khí quân đoàn tới Cục Kĩ thuật quân đoàn 14 rồi Cục Kĩ thuật QK1. Cuối cùng là những năm tháng ở TCKT với chức vụ Phó chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng TCKT, hàm thiếu tướng.
Ngày cùng trường đâu có biết anh có quan hệ thân tình với Nguyễn Văn Ngọc. Mãi những năm sau này, qua Tấn Mỹ mới biết mẹ Ngọc tái giá với chú Điềm. Rồi qua anh mà biết điện thoại Lâm, em của Ngọc (090219 7263), đảm nhiệm phần hương khói cho bàn thờ gia đình, dòng tộc.

Năm trước 2016, kỉ niệm 50 năm Học viện KTQS, gọi điện ra rủ anh về thăm trường, mới hay, anh lâm bệnh.
Tết rồi vào thăm bác Vinh (bên vợ) ở Bv 108, nghĩ bụng hỏi thăm anh nằm phòng nào thì được vợ anh ra tiễn khách, nhận ra. Vào thăm anh đúng lúc anh lên cơn sốt rét, lạnh run người.
Trò chuyện 1 lúc, anh đưa cuốn hồi kí Thử Lửa và hỏi: "Mày có cuốn này chưa? Nxb QĐND mới tái bản nhưng hết ngay. Giữ đọc cho vui nhưng anh yếu rồi, không kí tặng được". Nắm tay anh, biết anh mệt và đau lắm, muốn san sẻ bớt cơn đau.
Về nhà, cứ rảnh là lại đọc những gì anh đã viết.

Trưa nay nhận được tin nhắn của anh Vũ Minh Trực, anh Nguyễn Kháng Chiến báo: anh Chúng đi sáng nay rồi.
Cầu mong anh siêu thoát và phù hộ cho vợ con, gia đình, bạn bè.

FB Tran Kienquoc 10/3/2017

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Tìm mộ Ls Bùi Thọ Tuyến

Sáng nay, có số máy lạ. Bấm máy nói chuyện và được giới thiệu người gọi tới là Bùi Thọ Phúc - lái xe du lịch, sống ở Quảng Ninh, quê ở Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình. Mấy năm trước, Phúc có đưa khách vào NTLS Trường Sơn hay Quảng Trị thì có nhìn thấy ngôi mộ có gắn bia ghi Ls Bùi Thọ Tuyến

Bùi Thọ Tuyến - K8

B5 - trung đội phó B5
1955
1974 – Liệt sĩ, Hy sinh: 23/3/1974 (30/2 Giáp Dần) tại Sân bay Biên Hòa (hay huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa?), Đồng Nai.
- 1A Hoàng Văn Thụ, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội. - Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình Nhà TT 4 tầng, Khu Lê Lợi,Mb: 0982751137 (Cầm, em gái) - Nr: - Cq: - FB: https://www.facebook.com/bcqnewsound.bcqnewsound- Email: - Blog: http://ahls-bantroi.blogspot.com/p/liet-si-bui-tho-tuyen-k8.html - TX Thái Bình - VN
Liệt sĩ - Trung sĩ - Nhập ngũ tháng 5/1971 tại xã Hoàng Diệu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đơn vị: F305 Đặc công. -
Liên hệ gia đình: Bùi Thị Cầm, nhà 15, ngõ 132 phố Mai dịch, quận Cầu giấy, HN. Điện thoại: 04-37640064. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí - 154 Nguyễn Thái Học Hà Nội, Điện thoại: 9162955.

12/1971

0

, quê Đông Hưng, Thái Bình nên gọi cho tôi. Phúc rất nhớ vì trùng cả họ và cùng là đồng hương.
Qua mục Tìm mộ Ls của chương trình QPVN mà Phúc biết gia đình và anh em Trỗi đang tìm mộ phần Ls Tuyến. (Tăng Tiến hôm xem được tin này phát trên QPVN cũng đã gọi cho tôi).
Nói chuyện một hồi thì ra Phúc có họ hàng gần với Bùi Thọ Tuyến vì Phúc là cháu cụ Bùi Thọ Tư - thân phụ Tuyến, nguyên Tỉnh đội trưởng Thái Bình năm 1971, 72.
Gọi báo tin này cho Cầm, em gái Tuyến ở HN, thì Cầm xác định: ở NTLS Trường Sơn không có mộ phần anh Tuyến vì Cầm đã nhiều lần vào đó tìm mộ anh.
Hy vọng mộ phần Bùi Thọ Tuyến

Bùi Thọ Tuyến - K8

B5 - trung đội phó B5
1955
1974 – Liệt sĩ, Hy sinh: 23/3/1974 (30/2 Giáp Dần) tại Sân bay Biên Hòa (hay huyện Long Thành, tỉnh Biên Hòa?), Đồng Nai.
- 1A Hoàng Văn Thụ, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội. - Đông Sơn, Đông Hưng, Thái Bình Nhà TT 4 tầng, Khu Lê Lợi,Mb: 0982751137 (Cầm, em gái) - Nr: - Cq: - FB: https://www.facebook.com/bcqnewsound.bcqnewsound- Email: - Blog: http://ahls-bantroi.blogspot.com/p/liet-si-bui-tho-tuyen-k8.html - TX Thái Bình - VN
Liệt sĩ - Trung sĩ - Nhập ngũ tháng 5/1971 tại xã Hoàng Diệu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đơn vị: F305 Đặc công. -
Liên hệ gia đình: Bùi Thị Cầm, nhà 15, ngõ 132 phố Mai dịch, quận Cầu giấy, HN. Điện thoại: 04-37640064. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí - 154 Nguyễn Thái Học Hà Nội, Điện thoại: 9162955.

12/1971

0

có thể nằm ở NTLS thuộc tỉnh Quảng Trị. (Cầm cũng đã liên lạc với Phúc).
Tôi bàn với Cầm thử cùng BLLk8 đi gặp phòng Chính sách của BTL Đặc công vì sau khi nhập ngũ, Tuyến vào huấn luyện ở Đặc công rồi đi Nam. (Việc này đã bàn với Dũng Zốt nhưng vì Dũng phải đi công tác, chưa làm được).
Xin báo cho các bạn.

Tran Kienquoc - 3 Tháng 3 2017 lúc 5:19.

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

Gặp những người tình nguyện đi tìm đồng đội


Chiến tranh đã lùi xa đã gần 40 năm, thế nhưng nhiều liệt sĩ vẫn nằm lại đâu đó trên khắp các chiến trường, đặc biệt là nơi nước bạn Campuchia. Ngoài sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước để đưa các anh về với quê hương đất mẹ, hiện còn có rất nhiều những tấm gương tình nguyện tham gia trên lĩnh vực này. Họ không những bỏ công sức, thời gian mà còn tự trang trải mọi chi phí để tìm kiếm thông tin, lặn lội khắp các miền quê tìm đồng đội cũ để "giải mã" nhiều câu hỏi để có được câu trả lời: nơi an táng của các liệt sĩ hiện ở đâu, bao giờ?

Trong nhiều năm qua, chỉ tính riêng các CCB của Sư đoàn 1 hiện ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ, kể cả ở phía Bắc có hàng trăm người tham gia việc công tác này. Họ đã tìm kiếm, tham gia cất bốc hàng trăm bộ hài cốt đưa về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ, số khác được kết hợp cùng gia đình đưa anh em về với quê hương.
Trong số các CCB ấy có CCB Võ Hồng Kỳ (Bảy Kỳ) năm nay đã trên 60 tuổi, hiện ở TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, nguyên là cán bộ hậu cần của Sư đoàn 1 (giai đoạn 1970-1973). Năm 2001 ông Kỳ nghỉ hưu cũng là lúc ông tham gia tìm kiếm đồng đội. Ông chia sẻ, lúc đầu ông cũng chỉ định đi tìm người liệt sĩ đồng hương Nguyễn Hoàng Khải, hy sinh ngày 15/5/1972. Thế nhưng, khi ông tình nguyện tham gia vào cùng Đội quy tập hài cốt liệt sỹ K92 của Quân khu 9, mới biết vẫn còn nhiều đồng đội đang nằm lại nước bạn Campuchia, và như một cái “duyên”, ông trở thành thành viên tình nguyện của Đội từ lúc nào chẳng biết. Từ năm 2001 đến nay, cứ đến mùa khô của là ông lại ở cùng Đội K92 sang Campuchia để tìm kiếm, cất bốc và đội đã qui tập được hơn 1.500 hài cốt liệt sĩ đưa về nước. Được hỏi, điều gì đã thôi thúc ông gắn bó với công việc tình nguyện này, ông bộc bạch: "Những anh em hy sinh vào các năm 1972-1973 đều ở tuổi mười chín đôi mươi và hầu hết từ miền Bắc vào. Đáng ra họ đã phải được yên nghỉ tại quê nhà! Hơn 40 năm rồi còn gì! Các bà mẹ ngoài ấy vẫn khắc khoải mong chờ, thương các mẹ quá đi thôi".
Theo ông Bảy Kỳ, trong suốt thời gian tham gia tìm kiếm và qui tập hài cốt liệt sĩ đã để lại trong ông một kỷ niệm sâu sắc, đó là tấm lòng của người mẹ Campuchia, Dì Pô.
Ông kể, trung tuần tháng 5/1972, một đoàn cán bộ hậu cần của Sư 1 đi chuẩn bị chiến trường. Khi từ Campuchia vượt kênh Vĩnh Tế về Hà Tiên, đoàn có 17 người, bị dính mìn và bị pháo hy sinh gần hết (chỉ một người bị thương nặng còn sống). Mặc dù biết chắc là địa điểm mai táng bên cạnh chùa Play Mia, thế nhưng ông cùng một số đồng đội từ Việt Nam qua tìm kiếm, đào bới nhiều lần mà vẫn chưa tìm được (vì không có sơ đồ mộ chí). Mãi đến đầu năm 2013, sau một lần tìm kiếm thất bại, trở về nghỉ ngơi tại Phum Bàn Tây Mia thì một người phụ nữ khoảng 80 tuổi tự giới thiệu là Dì Pô đến trước mặt Bảy Kỳ khoát tay và đi một mạch ra hướng bắc chùa chỉ gò đất nơi mai táng 16 liệt sĩ bộ đội Việt Nam, sau đó chỉ vào một trong 16 ngôi mộ và nói: “Đây là ông lớn (lục thum), bác sĩ, viện trưởng bệnh viện gì đó”. "Tôi cảm thấy như nghẹt thở và thốt lên: Anh Chín đây rồi, anh Chín ơi, em đây, thằng Kỳ em của anh đây. Hôm nghe tin anh hy sinh, bọn em đang chuẩn bị “xuống đường”, ai cũng xót xa mà không làm sao được”. Bảy Kỳ nói trong nghẹn ngào và kể tiếp: "Dì Pô kể là hôm tham gia mai táng cùng bộ đội Việt Nam có 4 người Campuchia, nay chỉ còn lại một mình Dì Pô. Dì đã trăn trở suốt 7 năm, hôm nay mới nói lên tất cả. Cảm ơn Dì, cảm ơn người mẹ Campuchia ..."
Hai ngày sau (13/4/2013), Bảy Kỳ tiếp tục theo chân Đội K92 trở lại Play Mia tiến hành cất bốc hài cốt của 16 liệt sĩ đưa về nước. Sau đó làm mọi thủ tục để giám định ADN và kết quả của giám định hoàn toàn trùng khớp: Đúng là hài cốt của liệt sĩ Nguyễn Hoàng Khải ...
Một CCB khác tại TP Hồ Chí Minh tham gia việc thiện nguyện bằng cả tấm lòng. Với chiếc xe máy cà tàng, gần 10 năm qua ông đã tìm đến các gia đình để chắp nối các thông tin về các liệt sĩ đã chiến đấu cùng ông (d6, e46, f1) và nằm lại nơi chiến trường Hà Tiên những năm 1973-1974. Đó là CCB Nguyễn Văn Tâm, hiện ở P.11, Quận 10, TP HCM. Ông Tâm có thời gian chạy xe ôm để kiếm sống. Thế nhưng, gom góp, dành dụm được bao nhiêu ông lại để dành cho những chuyến đi Hà Tiên để tìm kiếm đồng đội. Sau hàng chục lần lên xuống, ra Bắc vào Nam ông đã chắp nối thông tin cho hàng chục gia đình liệt sỹ và tham gia cùng Đội K92 cất bốc 23 hài cốt liệt sĩ đưa về quê nhà. Thậm chí, có gia đình chỉ vỏn vẹn còn 200 ngàn đồng, ông Tâm phải vận động bạn bè, các thành viên trong đoàn lo được đủ tiền xe cho thân nhân vào đưa hài cốt của liệt sĩ về quê trước sự cảm mến của chính quyền địa phương và thân nhân các gia đình liệt sĩ. Điều đáng trân trọng hơn là ông Tâm chưa hề nhận bất cứ của ai một đồng nào. Ông bộc bạch: "Người mẹ đã mất con, vợ mất chồng, anh mất em, con mất cha là một tổn thất không có gì bù đắp được, làm sao mình đang tâm nhận tiền của các mẹ, các chị, các cháu?".

Liệt sĩ Võ Nguyên Trọng được CCB Nguyễn Duy Quyết (giữa) cung cấp thông tin và được đưa về quê 30/12/2011

Một điển hình khác, đó là tấm lòng và sự tri ân của CCB, thương binh Nguyễn Duy Quyết sinh năm 1949, hiện ở 246 Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nhập ngũ năm 1966 (nghỉ hưu 1993), Nguyễn Duy Quyết đã công tác và chiến đấu trong đội hình sư đoàn 1 từ 1966 đến 1973. Từ công tác quân lực, chính sách cấp tiểu đoàn đến sư đoàn trong một thời gian khá dài đã tạo cho ông một ý thức ghi chép và lưu trữ số liệu vào hồ sơ, sổ sách. Cũng chính từ những thông tin này đã giúp ông tìm kiếm được nhiều “đồng đội”. Lý giải của việc tìm kiếm này, ông Quyết chia sẻ: người anh trai của của ông cũng là liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đến nay vẫn anh trai ông vẫn chưa trở về. Bởi vậy, ông thấu hiểu nỗi đau, sự mất mát của những gia đình, thân nhân liêt sỹ. Thêm vào đó, mỗi lần gặp gỡ các gia đình liệt sỹ, có bà mẹ thổn thức hỏi ông: “Sao con tôi đi mãi, đợi mãi chẳng thấy về?”, "Bác tìm đưa em nó về cho tôi được không?". Mỗi lần như thế, Nguyen Duy Quyết lại thấy tim mình nhói đau và cảm giác như có lỗi với thân nhân các gia đình có con chưa trở về.
Kể về hành trình của mình suốt thời gian qua, ông Quyết cho biết: “Năm 1993 tôi được nghỉ hưu và bắt đầu tham gia vào công việc tìm kiếm đồng đội. Đầu tiên, tôi tìm lại tài liệu mà mình đã giữ được, sau đó tôi đến phòng chính sách của các Quân khu và đơn vị để lấy tư liệu. Điều quan trọng là phải tìm và đối chiếu từng danh sách liệt sỹ với bản đồ mộ chí của từng trận đánh, của từng đơn vị, tiếp đó đi khảo sát tại các địa điểm theo sơ đồ mai táng ở các vùng chiến sự năm xưa…”.
Với 2.000 bức thư, hàng nghìn cuộc điện thoại được gửi đến các gia đình, với hơn 300 ngôi mộ đã xác định được danh tính và đã được trở về quê mẹ, đó là những giọt mồ hôi và tấm lòng của ông Quyết được gửi gấm trong đó. Bù lại, khi mỗi "đồng đội" được trở về quê mẹ đã cho ông một cảm súc chất chứa bao nghĩa tình. Ông bảo: "Trong hàng trăm ngôi mộ may mắn được tìm thấy ấy, có một trường hợp mà ông không bao giờ quyên được: liệt sỹ Trần Công Hoan cũng là đồng đội của ông cùng tham gia chiến đấu ở va hy sinh tại KiriVông, tỉnh Tà Keo, Campuchia. Khi mai táng, thi hài anh được đặt lên một cánh cửa có chiếc móc xoắn và chôn ngay bậc tam cấp gần đường lên xuống cổng chùa Sôm. Năm 2006 quay lại tìm, ngôi chùa năm xưa đã bị Pôn Pốt phá sạch chỉ còn trơ lại nền khu chùa. Sau khi lục lại trí nhớ và định vị lại nơi chôn cất, ông Quyết đã tìm được hài cốt của đồng đội mình với những hiện vật được chôn theo anh, trong đó có bức ảnh người yêu của Hoan vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ tiếc rằng, khi tiếp súc với ôxy, bức ảnh tan ra từng mảnh nhỏ rồi vỡ vụn".
Với những đóng góp của mình, CCB Nguyễn Duy Quyết đã được tặng thưởng nhiều bằng khen của Hội Cựu chiến binh Tỉnh ủy Thái Nguyên, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sỹ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ. Nhưng vui mừng và cảm động nhất là hàng trăm bức thư của các thân nhân liệt sỹ gửi đến ông với một sự tri ân chân thành của thân nhân các gia đình liệt sĩ.
Và, mới đây thôi, ngày 20/12, CCB Nguyễn Duy Quyết nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của hơn 300 CCB, thành viên Ban LLTT Sư đoàn 1 tại buổi họp mặt truyền thống của sư đoàn về những việc làm thiện nguyện của mình.
HÀ SƠN

Nguồn: Hội Cựu chiến binh TP.HCM - Thứ sáu, 23 Tháng 1 2015 13:43.


Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

Vĩnh biệt người du kích bắt trung tá Mỹ, đổi mạng Nguyễn Văn Trỗi

(TTXVN/VIETNAM+) 24/02/2017 09:50 GMT+7
(Nguồn: albaciudad.org)

Ngày 23/2, báo chí Venezuela đưa tin du kích quân Venezuela Carlos Argenis Martínez, người tham gia vụ bắt cóc trung tá Mỹ Michael Smolen tại Caracas để đòi đổi lấy mạng sống của anh Nguyễn Văn Trỗi vào năm 1964, đã từ trần ở tuổi 73 tuổi.

Ông Martínez, được mọi người biết đến với cái tên thân mật Tư lệnh Ruiz, là một trong nhóm 4 du kích Venezuela tham gia bắt cóc Smolen - tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ tại Venezuela khi đó. Tới trước khi ông Martínez mất vào ngày 21/2 vừa qua, ông là người du kích cuối cùng còn sống từng tham gia vụ bắt cóc nổi tiếng nói trên.

[Indonesia khẳng định bảo vệ nghi phạm vụ giết ông Kim Jong-nam]
[Malaysia điều tra nguồn gốc chất độc khiến ông Kim Jong-nam tử vong]

Vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, các phong trào du kích phát triển mạnh mẽ tại Venezuela, trong đó có Lực lượng Vũ trang giải phóng dân tộc (FALN) dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Luis Correa.

Ông Correa đã lên kế hoạch để 12 thành viên FALN, trong đó có ông Martínez, bắt cóc tùy viên quân sự Mỹ Smolen nhằm đòi Nhà Trắng trả tự do cho anh Nguyễn Văn Trỗi lúc đó bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam và bị kết án tử hình vì vụ đánh bom bất thành nhằm vào Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara ngày 2/5/1964 tại cầu Công lý. Các du kích Venezuela yêu cầu thả anh Nguyễn Văn Trỗi để đổi lấy mạng Smolen.

Yêu cầu đổi Smolen lấy anh hùng Nguyễn Văn Trỗi của nhóm du kích được công bố rộng rãi trên báo chí Venezuela. Mỹ tuyên bố đồng ý với điều kiện của FALN và đề nghị các du kích Venezuela cho thêm thời gian nhưng trên thực tế để mở chiến dịch săn lùng. Do khó khăn về thông tin và phải trốn chạy cùng Smolen, nên các du kích tuyên bố thả Smolen và mong muốn chính quyền Mỹ cũng sẽ thả anh Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi Smolen được thả 3 ngày, anh Nguyễn Văn Trỗi đã bị chế độ ngụy quyền xử bắn.

Sau đó, ông Martínez bị bắt và tra tấn vô cùng dã man. Tòa án quân sự Venezuela đã tuyên án 12 năm tù. 12 du kích tham gia vụ bắt cóc Smolen năm đó đều bị bắt và một người đã hy sinh.

Ông Martínez từng chia sẻ với báo giới rằng anh Nguyễn Văn Trỗi không bao giờ chết, anh sẽ sống mãi và nếu được làm lại ông vẫn sẽ làm như vậy. Với du kích quân Venezuela, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là nguồn cổ vũ, động viên vô cùng to lớn. Ông từng khẳng định việc bắt cóc sĩ quan Mỹ là hành động thể hiện tình đoàn kết với Việt Nam, với thế giới tiến bộ.

Những hình ảnh của các du kích Venezuela sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình, trong đó có ông Martínez, vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta sẽ còn sống mãi trong trái tim của mỗi người Việt Nam./.

Nguồn: VietnamPlus

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Hành khúc ngày bình yên

Tưởng nhớ bạn Liệt sĩ Nguyễn Tiến Quân

Nguyễn Tiến Quân - K6

B3
1953
1979 – Liệt sĩ, Hy sinh 18-2-1979, Mặt trận Lạng Sơn
Mb: - Nr: - Cq: - FB: - Email: - Blog: http://anh-bantroik6.blogspot.com/2012/10/nguyen-tien-quan.html - HN - VN
Liệt sĩ - - -
3AE - Nguyễn Quang Việt K5, Nguyễn Thế Bắc K5, Nguyễn Tiến Quân K6

1966

197x



Đăng lại sáng tác của anh Bắc Hải (3Chai) viết cho LS Nguyễn Tiến Quân K6 hy sinh trong chiến tranh chống TQ xâm lược 2/1979.
Rất tiếc là bản gốc hát mộc của anh Hải lưu trên mạng bị hỏng, khi nào khôi phục lại được sẽ gửi lại ACE sau.

(1) Tráng ca cho ngày bình yên

Ngày bình yên ngồi bên nhau
Bạn đời ơi hát một câu quân hành
Đường làng tôi xanh lũy tre
Tre xanh đã bao đời
Xanh như mái tóc người ngày ra đi


(Điệp khúc)

Đầu xanh xanh mãi không bạc
Hình anh non nước ghi tạc
Thành câu tráng ca cho ngày bình yên
Đầu xanh xanh mãi không bạc
Người đi còn khúc quân hành
Để tôi hát tiếp khúc ca của anh
Đầu xanh xanh mãi không bạc
Người theo Ông Gióng lên trời
Còn ai Vọng Phu chờ mãi trong đời

1/2/2009
(2) Hành khúc ngày bình yên

Làng quê tôi xanh lũy tre
Chiều bình yên vẫn thoảng nghe quân hành
Chiều bình yên như lá xanh
Xanh bao đời như tóc người ngày ra đi.


Điệp khúc

Đầu xanh ơi mãi không bạc
Tóc xanh bay mãi lên trời
Để lại tóc bạc cho người chờ trông
Vọng Phu nghìn năm vẫn đợi
Tuổi ai mười tám suốt đời
Người đi thành khúc ca cho ngày bình yên


Trần Bắc Hải

Trần Bắc Hải - K5

B2-A1
20 4 1953

mb 0401033899, 00.61401033899 - nr8421673 - cq - tranbachai@yahoo.com- ---Adelaide-Úc
- - -
- ACE:

1979

17/05/2015

, 16/2/2009





HÀNH KHÚC NGÀY BÌNH YÊN


Làng quê tôi xanh lũy tre
Chiều bình yên thoảng vẫn nghe quân hành
Chiều bình yên màu lá xanh
Xanh bao đời như tóc người ngày ra đi


ĐK
Đầu xanh ơi mãi không bạc
Tóc xanh đi mãi lưng trời
Để lại tóc bạc cho người Vọng Phu
Vọng Phu ngàn năm vẫn đợi
Tóc xanh mười tám suốt đời
Để lại bình yên một khúc quân hành

Ngày ra đi bên trái tim
Mảnh lụa thêu đôi cánh chim hòa bình
Đường trường chinh hun hút xa
Trên quê nhà in dấu chân ngựa Ông Gióng


ĐK

 





Hành khúc ngày bình yên.


Nhạc sĩ Yên Lam phối khí và thu âm, tốp nam trình diễn.

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Ảnh Đặng Bá Linh cùng các bạn lớp 10

Tư liệu quí về Liệt sĩ Đặng Bá Linh - K6 cùng các bạn Lớp 10G trường phổ thông cấp 3 Hà Nội B (PT3B Lý Thường Kiệt) 1970-1971.

FB Dien Quang Luu 2 Tháng 1 2015

OngNoi PiMon đã chia sẻ ảnh của Dien Quang Luu. 2 Tháng 1 2017
Đã qua 46 năm rồi:
Từ trái sang, hàng ngồi trước - Lưu quang Điền; Nguyễn tân Ninh; Bình ;
hàng ngồi sau - Nguyễn đình Hân; Nguyễn trọng Tình; L. Sỹ Đặng bá Linh.



Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Viết bên mộ liệt sĩ vô danh


FB Nguyễn Trọng Tạo 21 Tháng 7 2015·

BÀI THƠ "VIẾT BÊN MỘ LIỆT SĨ VÔ DANH" CỦA NHÀ THƠ TUYẾT NGA ĐƯỢC KHẮC VÀO BIA ĐÁ GẮN TRÊN NGHĨA TRANG Ở HẢI LĂNG, QUẢNG TRỊ.
(BanTroi: Đặng Bá Linh K6Trần Hữu Dân K7 cũng yên nghỉ tại Hải Lăng! Mời xem bên dưới)

Nghĩa trang này có gần 2000 ngôi mộ Liệt sĩ chưa biết tên.
Vào 11h30 ngày 13.7.2015 vừa qua, lãnh đạo địa phương và một nhóm đồng đội, bạn hữu từ Hà Nội vào đã trịnh trọng làm lễ gắn bia.
Từ nay, bài thơ luôn hiện diện nơi gần 2000 trái tim Liệt sĩ đang yên nghỉ. Nó là lời ru mà tất cả chúng ta muốn ru giấc ngủ các anh, những người đã hy sinh vì đất nước.

Ảnh: Bài thơ và tác giả Tuyết Nga.




Theo báo điện tử Dân trí
Bài thơ được tác giả viết vào quãng những năm 1988-1990 nhưng chưa công bố. Cách đây 2 tháng, Hội nhà văn Việt Nam đã chọn dịch ra tiếng Anh cho Tuyển tập thơ Viết về chiến tranh để giới thiệu ra thế giới.

Vừa qua, bài thơ được nhóm cựu chiến binh do một Trung tướng dẫn đầu, khắc lên bia đá và mang vào dựng tại một nghĩa trang ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi quy tập gần 2000 ngôi mộ liệt sĩ chưa tìm ra tên tuổi.

Nhà thơ Tuyết Nga hiện đang làm việc tại báo Dân trí.


Xin chia sẻ với người lính còn có mặt hôm nay


có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.


12h trưa nay nhà thơ Hoàng Cát gọi điện cho Tuyết Nga từ Phong Điền-Quảng Trị. Anh nói anh đang ở giữa một vùng sa mạc nắng giữa chiến trường xưa nơi anh từng chiến đấu từng chết đi sống lại mấy lần rằng anh vừa gặp lại 2 người chị đã từng chăm nuôi anh và các đồng đội của mình... giọng anh chan chứa.

Anh Hoàng Cát!

Dù sinh ra nơi vùng quê đầy đạn lửa nhưng trong ký ức tuổi thơ của TN chiến tranh chỉ như một ảo giác xa xăm. Dù vậy TN đã từng trào nước mắt khi đứng trước một nấm mộ có tấm bia khắc dòng chữ "Tên anh chúng tôi không biết nhưng chiến công của anh tổ quốc mãi mãi ghi nhớ". TN xin chép bài thơ TN đã viết trước nấm mộ đó (cách đây tròn 20 năm) như một sự chia sẻ cảm xúc cùng anh. Đây là lần đầu tiên bài thơ được công bố.



Viết bên mộ liệt sĩ vô danh

Tuyết Nga

Nấm mồ xanh
như một giọt lệ ngưng
trên hình hài tổ quốc
chúng tôi đến bên anh như lá xanh non cúi nhìn cội rễ
một màu thạch thảo thanh tao.

Vòm trời nào gìn giữ tuổi thơ anh?
mái rạ bờ đê hàng cây góc phố
đê còn xanh và vòm cây còn gió...
từ nơi nào mẹ đã tiễn anh đi?

Anh trở về với cỏ lặng im...

có một ước mơ trời xanh còn nhớ
có một tình yêu mùa thu còn giữ
có một tuổi 20 đất nước ủ trong lòng.

1987.


Hà Nội trưa ngày 7.7.2007

Tuyết Nga






Blog TUYẾT NGA - 07/07/2007,13:25:28




Nghĩa trang liệt sĩ Huyện Hải Lăng



... nơi hai BanTroi Đặng Bá Linh K6Trần Hữu Dân K7 yên nghỉ!







Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ LIỆT SĨ, MỘ LIỆT SĨ VÀ NGHĨA TRANG LIỆT SĨ
http://thongtinlietsi.gov.vn/
Thông Tin Nghĩa Trang Liệt Sĩ
Quảng Trị > Huyện Hải Lăng > Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Hải Lăng (Địa chỉ: Thị trấn Hải Lăng, Huyện Hải Lăng, Quảng Trị)

Danh sách liệt sĩ: Tổng số 1813 mộ liệt sĩ,
LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN là 1259, từ STT 383 (trang 13) đến 1642 (trang 55).



Thông tin Liệt sĩ
Liệt sĩ: LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN
Năm sinh:
Năm hy sinh:
Quê quán: xã , huyện ,
Nghĩa trang: Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Hải Lăng
Vị trí mộ trên sơ đồ Vị trí: Khu: P - Lô: P - Hàng: - Số mộ: 59
Cảm tưởng về liệt sĩ http://thongtinlietsi.gov.vn/cam-tuong/914722

Ảnh chụp mộ liệt sĩ




Theo Nguoiduado.vn
Trang chủ > Danh sách nghĩa trang > Quảng Trị > NTLS huyện Hải Lăng

Nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng nằm ven Quốc lộ 1A thuộc thị trấn Hải Lăng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đây là nơi yên nghỉ của 1699 anh linh các liệt sĩ, trong đó chỉ có 483 liệt sĩ có tên, số còn lại (1216) là mộ liệt sĩ chưa biết tên. Quý thân nhân liệt sĩ cần tìm hiểu thêm thông tin mộ liệt sĩ nơi đây xin liên hệ Ban quản lý Nghĩa trang.

Ảnh nghĩa trang

Ảnh sưu tầm trên mạng



Học sinh trường THCS Thị Trấn Hải Lăng tri ân các Liệt sĩ



Bạn Trỗi viếng thăm:



Thăm các LS trường Trỗi - HữuThành.Nguyễn, 06/2012, Blog "Bạn Trỗi K6"
Ghé NTLS huyện Hải Lăng, Quảng Trị, thắp hương cho Đặng Bá Linh K6 mất tên trên mộ. 27/05/2012, 16gi 20:
Cuối ngày hôm nay chúng tôi tìm viếng bạn Đặng Bá Linh K6. Trong danh sách Ls chúng tôi không đọc thấy Bá Linh. Bạn là một trong số những LS này ư?



Ngày thứ hai, thứ ba trên đường đi gặp bạn - HữuThành.Nguyễn, Thứ Năm, tháng 6 25, 2009 - Blog K4
Bổ sung 17h30, 30/6/2009:
Từ nhà tôi ra cả nhóm rẽ vào NTLS Huyện Hải Lăng. Theo danh sách thì trường ta có 2 LS nằm tại đây là Bùi Hữu Thích k1 và Đặng Bá Linh k6. Trời đã bắt đầu tối, chúng tôi không có thời gian tìm từng mộ, và cũng biết Bá Linh bị lạc tên, nên thắp... thuốc lá thay hương cho các LS nằm đây, trong đó có bạn Trỗi. Đây là điểm thăm viếng ngoài kế hoạch trong ngày nên chúng tôi không nhớ mua hương trước.




QUẢNG TRỊ VÀ MÓN CHÁO CÁ (Tiếp theo) - dathb136 vào lúc 05:28 Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009, Blog K8.
... Nghĩa trang nằm sau đường tàu hỏa nên không có lối vào, phải bỏ xe bên vệ đường. Nghĩa trang tương đối lớn với hàng trăm ngôi mộ. Vào thẳng nhà người quản trang nằm bên trái. Quản trang là một đôi vợ chồng già, cán bộ về hưu. Ông đã 79 tuổi, bà trẻ hơn 63 tuổi nhưng trông như bà lão. Khi biết chúng tôi đi tìm bạn hy sinh ở đó, năm đó thì ông đưa ngay cuốn danh sách từng ngôi mộ. Trong khi Khánh dò tìm, tôi hỏi thăm gia cảnh của ông, được biết gia đình ông cũng có 11 người hy sinh, mà chỉ tìm được có 3 người. Ông vô làm ở đây sau khi về hưu được 2 năm là do có một cái gì đó thôi thúc ông phải làm? Dự định làm 1 năm rồi thôi, nhưng ông đã làm từ đó đến giờ mấy chục năm...




Danh sách Liệt sĩ yên nghỉ tại NTLS huyện Hải Lăng 1 - Thứ năm - 07/07/2011 16:48


Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

Thông tin về Ls Nguyễn Khắc Bình k7


Như đã hứa hồi tháng 11/2016, Đoàn Bình K7

Đoàn Bình - K7

0
1955
0
mb 0936.366869 - nr043.7332307 - cq --T5-79 BC Thông tin---HN-VN
- - -
- ACE:

1972

18/01/2017

tìm được và vừa gửi cho chúng tôi 2 tấm ảnh của Ls Nguyễn Khắc Bình k7.
Xin cảm ơn Đoàn Bình

Đoàn Bình - K7

0
1955
0
mb 0936.366869 - nr043.7332307 - cq --T5-79 BC Thông tin---HN-VN
- - -
- ACE:

1972

18/01/2017

!
Bạn còn hứa sẽ kết nối với gia đình để cấp thêm nhiều thông tin về Ls





FB Tran Kienquoc‎ > đến BẠN NVT, 19 Tháng 1/2017 lúc 12:27